
28/01/2025 lúc 23:15

19/08/2023 lúc 16:57
Đến mùa xuân Quý Mùi này là vừa tròn 30 năm Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Mặc dầu đã trông đợi bao năm, tốn bao xương máu, phương tiện và bút mực để có ngày 27 tháng 1. Song bao chiến sĩ đồng bào vẫn không khỏi ngỡ ngàng, có lúc tưởng như trong mơ. Tôi nhớ suốt những ngày vui bất tận ấy, trên sóng phát thanh Đài Tiếng nói Việt Nam truyền vào chiến trường biết bao bài ca thắng trận, bao bài bình luận và xã luận sắc sảo về thắng lợi vĩ đại trên chiến trường ba nước Đông Dương.

19/08/2023 lúc 16:57
20
-1-1974, (hai mươi tám tháng Chạp). Hôm nay tiết đại hàn nhưng trời Quảng Trị vẫn nắng chang chang. Hai bên đường số một, những đám ruộng mới cấy đang thiếu nước.
Đoàn Chủ tịch Hội đồng Nhà nuớc Trường Chinh từ Quảng Bình vào đây sớm. Đoàn ngược đường số 9 đi thẳng lên thăm bộ đội đóng ở đồi 241 (bản đồ của quân đội Mỹ ghi là Camp Caroll, thuộc vùng Tân Lâm, Cam Lộ). Nơi đây từng diễn ra những trận đánh vô cùng ác liệt. Sư đoàn phó Sư đoàn 304B giới thiệu với đồng chí Trường Chinh anh hùng quân đội Lê Mã Lương. Một con người tầm vóc nhỏ bé, quá bé nhỏ so với chiến công và tên tuổi của anh. Lại hơi rụt rè và lúng túng nữa, lúc được đồng chí Trường Chinh ôm hôn. Thế mà đâu phải đây là lần đầu người chiến sĩ mặt trận ấy tiếp xúc với lãnh đạo cấp cao. Năm ngoái Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Chủ tịch Fidel Castro vào thăm Quảng Trị giải phóng, Lê Mã Lương đã có gặp hai vị.
Hai mươi lăm tuổi, quê Thanh Hóa, Lê Mã Lương là chính trị viên tiểu đoàn 5, tiểu đoàn chủ lực trung đoàn 24. Tôi nghĩ người ta bố trí để anh Năm (tên gọi thân mật Chủ tịch Trường Chinh) thăm trung đoàn này trước hết do thành tích của đơn vị, song có lẽ một phần cũng có ý trung đoàn này là đơn vị "đồng hương" của Anh. Trung đoàn 24 mang tên Trần Hưng Đạo do tỉnh Nam Hà xây dựng sau ngày Sư đoàn 304 được điều vào chiến đấu ở chiến trường B. Trung đoàn đã tham gia năm chiến dịch lớn ở Trị Thiên, kể cả trận đường 9 - Nam Lào.
Đứng trên nóc hầm quân y, trung đoàn trưởng Lê Đức Long giới thiệu khái quát. Vắn tắt và mạch lạc. Đỉnh cao phía tây bắc kia là điểm 541, Mỹ gọi là đồi Fuller, nhìn xuống Đầu Mầu. Phía nam là cứ điểm Ba Hồ, tây nam là cứ điểm Động Toàn, những cái tên đã xuất hiện nhiều lần trên báo chí ta cũng như báo chí phương tây thời gian qua. Quả đồi trông giống mâm xôi kia là cao điểm 303. Dịch về phía sau ít nữa, nơi có làn khói bốc lên kia là làng Mai Lộc, thuộc vùng Cùa, nơi từng hứng chịu bao nhiêu chất độc màu da cam...
Để bảo vệ cái Camp Caroll này, địch bố trí phòng vệ dày đặc. Một trăm ba mươi công sự lớn nhỏ. Hầm chỉ huy của trung tá Phạm Văn Đính xếp những hai mươi hai lớp bao tải cát, cộng dày hơn hai mét. Chung quanh lại có từ tám đến mười hai lớp hàng rào dây thép gai bảo vệ.
Quân ta bắt đầu tấn công vào lúc 11 giờ 30 ngày 30 tháng 3 năm 1972. Cấp trên đồng ý cho từ ba đến năm nghìn đạn pháo...Địch không chịu nổi hỏa lực pháo ta, bắt liên lạc, xin ta thư cho một tiếng, sẽ ra hàng. Trung đoàn xin ý kiến sư đoàn, và ra lệnh nội trong mười lăm phút phải hàng ngay, nếu không thì diệt. Hàng với ba điều kiện: kéo cờ trắng, hạ vũ khí, cử sĩ quan ra cổng trại tiếp xúc với Quân giải phóng. Chúng trao đổi với nhau, năm phút sau trả lời chấp nhận. Phạm Văn Đính cùng Vĩnh Phong và các sĩ quan khác lóc ngóc ra hàng. Tổng cộng sĩ quan, binh lính ba trăm sáu mươi lăm tên. Thêm số ta bắt những tên chạy lạc nữa, vừa tròn bốn trăm tù binh..........

19/08/2023 lúc 16:57
V
ui xuân có nhiều trò chơi thật cuốn hút. Đua thuyền, đánh vật, đấu võ, kéo co, cướp cù, đánh đu, chơi cờ tướng (cờ người)... Mỗi chốn quê có một thú vui riêng. Bài chòi là thú ham mê của nhiều miền quê Quảng Trị. (Ở Liên khu 5 chơi bài chòi rất phổ biến. Bởi thế điệu bài chòi tấu lên thành làn điệu khá riêng biệt của Liên khu 5).
Trên một khoảng đất rộng, người ta dựng hai dãy chòi đối diện cách nhau chừng mười lăm đến hai mươi mét. Mỗi bên 5 cái. Bốn chung quanh phải có chỗ thoải mái cho người đứng xem. Chòi cao chừng ba, bốn mét làm sao cho người chạy bài dưới sân vừa tầm tay với lấy thẻ bài, người đánh ngồi trên chòi trao cho; Chòi có làm bậc thang lên xuống chắc chắn và ván lát, chiếu trải bằng phẳng tử tế. Một bó thể sáu mươi chiếc bằng tre hình như thể chiếc chèo thu nhỏ, đầu bản chèo dán giấy ghi tên và hình vẽ các con bài những là Ông Ầm, Đỏ Mỏ, Noọc Đượn, Bạch Tuyết, Lá Liễu, Thất Giọn, Lục Chuông, Ngũ Trưa, Bát Bồng, Nghèo, Gà, Thưa, Dày Rún.v.v... bằng mực tàu màu son, màu đen. Sáu mươi con bài chia làm ba mươi cặp cho hai bên. Người làm trọng tài (Ban tổ chức) lăn, xáo con bài trên mặt bàn rồi rẽ làm hai phần; mỗi phần chia làm năm suất (cho 5 chòi) cho vào chiếc ống, mỗi ống sáu thẻ (kiểu như chia bài tu-lơ-khơ). Người chơi không kỳ mọi đối tượng: Đàn ông, đàn bà, trẻ già, trai gái - ham thích nhất là các bà, các mẹ, các chị - mỗi người tham gia chơi góp vào một định suất năm, ba tiền, hoặc năm, mười đồng bạc Đông Dương (tiền ngày xưa), mươi, mười lăm ngàn đồng tiền ngày nay, tùy quy định của Ban tổ chức; xong léo lên chòi ngồi. Ngồi chòi nào cũng được. Trên mỗi chòi có một chiếc mõ trẻ. bầu không khí sân chơi luôn rộn rã tưng bừng. Trống đánh, sáo thổi, kèn thúc, mõ réo...

19/08/2023 lúc 16:57
T
rong những năm chúng tôi đón tết ở rừng thì có lẽ cái tết năm 1972 (Nhâm Tý) là rộn ràng và chu đáo hơn cả. Cảm nhận này với chiến trường Trị Thiên Huế nếu chưa phải là chung thì ít ra cũng của riêng tôi. Với tôi, đã có đến 6 cái tết ở chiến trường, mỗi cái để lại cho tôi những dấu ấn khó quên. Cái thì đói, đói đến mức không lê nổi đôi chân ra khỏi lán. Những khi đói khát ta thường bắt gặp những giấc mơ về ăn uống. Đêm 30 ngủ mơ thấy được về phép ăn tết với gia đình; cái thì chiến sự diễn ra ác liệt, từ ngày 29 đến mồng 3 cán bộ chiến sĩ được lệnh đề cao cảnh giác, tăng cường bố phòng, tuần tiểu. Ngày mồng một Tết phải đi cứu hầm, cứu kho, cấp cứu người bị thương; cái thì sát tết phải di chuyển địa điểm, tìm nơi làm kho, đào hầm, dựng lán; cái thì ăn tới ăn lui đến hai lần mà vẫn không có không khí tết... Mãi đến năm 1972, cái tết năm ấy được tổ chức khá chu đáo nên tôi gọi đó là tiệc rừng.
Trước tết khoảng một tuần, lãnh đạo Ban kinh tế Khu ủy Trị Thiên Huế quyết định thưởng cho chúng tôi một ngày nghỉ và một chiếc đồng hồ senkô để đơn vị đổi heo, đổi nếp tổ chức tết cho cán bộ chiến sĩ trong đơn vị vì đã có thành tích xuất sắc trong chiến đấu và công tác trong năm.
Ngày nghỉ ấy tất cả đơn vị luồn rừng, xuống suối vào dân để tìm kiếm lương thực, thực phẩm cho cái tết âm lịch với phương châm: Bảo đảm công tác, an toàn tuyệt đối và cái tết vui vẻ, thịnh soạn...

19/08/2023 lúc 16:57
C
hắc cũng không còn mấy ai nhớ đến cái quận Mai Lãnh nằm trên đường Quốc lộ 1A phía nam Thành cổ Quảng Trị, nổi tiếng với 81 ngày đêm chiến đấu ác liệt và giữ vững - trừ các nhà sử học và cán bộ bảo tàng. Đúng thôi, một khu vực bé tẻo teo mà mang cái tên của một ngọn núi biểu trưng cho Quảng Trị cùng dòng sông Thạch Hãn - Lại cả một chi khu quân sự nữa đấy! Rõ là rách việc!
Thế nhưng, cũng tại cái quận Mai Lãnh ấy, lại có một câu chuyện của một anh lính đặc công khá hấp dẫn và thú vị không kém các câu chuyện trên báo An ninh Thế giới mà chúng ta rất ham đọc.
- Cậu kể cho tôi nghe câu chuyện đặc công của mình đi.
Tôi bảo vậy sau khi đã làm quen với anh ta - Con người với dáng khoẻ mạnh, một chút ria mép hào hoa, với giọng nói vui và cái nhìn khá sắc sảo.
- Em tên là Đỗ Duy Trình - nhưng ở đây bây giờ họ cứ gọi là Trinh. Không hiểu trong các bản lý lịch bị mất cái dấu huyền từ bao giờ. Nhưng Trình thì cứ là Trình thôi, cha mẹ đã đặt cho thì cứ giữ lấy. Em sinh ra ở Đa Quả - cái làng ở huyện Hà Trung (Thanh Hoá) gần cầu Đò Lèn.
- À Đa Quả hả - có cái đình to, cột hai người ôm không xuể - cái băng cũng to và rộng đến hai người ngủ được. Còn có chiếc trống to nhất vùng mà ngày xưa, có người bảo có người đã chui vào trốn bên trong thời chiến tranh Trịnh Nguyễn - Tôi đã từng đóng quân ở Đa Quả mà - Tôi nói thêm về hiểu biết của mình ở Thanh Hoá như để tăng thêm tình cảm với Đỗ Duy Trình. Hà Trung còn có đền thờ Lê Phụng Hiểu thời Lý với cách ban thưởng ruộng đất “thác đạo điền” - (ném dao) khá độc đáo trong lịch sử...

19/08/2023 lúc 16:57
M
uốn nghiên cứu sự ra đời và phát triển làng xã Quảng Trị, chúng ta phải đi lần từng bước từ thời mới thành hình cho đến những đợt di cư người phía Bắc vào các vùng phía nam Đèo Ngang. Cả quá trình lịch sử ấy thật phức tạp, thường xen kẻ giữa các tộc Poléniseng và Mongoloit phương Nam, giữa ngữ hệ Môn-kmer với ngữ hệ Thái Tày. Những tiếng nói còn đọng lại đến nay của các ngữ hệ ấy trong tiếng nói nhân dân vùng quê, vùng núi Quảng Trị cho ta thấy rõ nét giao thoa của nơi giáp lưu hai tộc người cổ đại, hai ngôn ngữ cổ đại ở vùng giữa đèo Ngang và Hải Vân. Từ buổi sơ khai ấy, người phía Nam có lần tràn lên đến Tây-Bắc Việt Nam, rồi lại dần dần trở về vùng Bình Trị Thiên ngày nay, để lại một vệt tộc người pha trộn dòng máu rất khó nhận thấy.
Tiếp, vùng đất hẹp miền Trung, khô cằn, nắng gió lại để lại nhiều vết tích các cuộc tranh chấp trong lịch sử, từ những bộ lạc phân tán, những tộc người khác tộc ở vùng giáp lưu. Từ trước mãi đến khi hình thành nước Văn Lang, ở vùng sông Hồng, tình trạng ấy giảm dần, liên kết đầu tiên thành bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Bộ cực nam ấy, khá lỏng lẻo, tồn tại trong những thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyên về sau. Thủ phủ Việt Thường đóng ở Đức Thọ (Hà Tĩnh) nhưng lãnh thổ kéo dài mãi đến gần Đá Vách (Phú Yên). Từ đó về sau, nhiều cuộc tranh chấp giữa các tộc nhỏ sống Bắc - Nam đèo Ngang mà tiêu biểu nhất là cuộc nổi dậy của Khu Liên (năm 179). Cuộc nổi dậy này lại mang tính chống nền thống trị của nhà Hán, liên kết cả với Cửu chân, Nhật nam (bắc đèo Ngang). Hơn mấy chục năm sau, nhờ mối liên kết chống nền đô hộ nước ngoài ấy...

19/08/2023 lúc 16:57
S
ắp bước vào tuổi “cổ lai hy”, đã nghỉ hưu ở xóm Tràng, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội hơn mười năm nay, nhưng Đoàn Bá vẫn còn rất nhanh nhẹn, khoẻ mạnh, có trí nhớ tốt. Là một cán bộ nhiều năm công tác ở đoàn quân nhạc nên các kỷ niệm sâu sắc nhất của anh đều gắn liền với chiếc Kèn, những buổi hoà nhạc, những lần phục vụ duyệt binh, mít tinh lớn của đất nước. Trong các kỷ niệm đó, anh nhớ đến từng chi tiết nhỏ của buổi hoà nhạc bên bờ sông Bến Hải ngày 20-7-1964, ngày mà chỉ bằng những chiếc kèn đồng, các chiến sĩ quân nhạc đã làm thất bại một cuộc mít tinh lớn do đích thân tên tướng Nguyễn Chánh Thi chỉ huy. Anh kể:
Ngày 16-5-1964, đội 1 của đoàn quân nhạc có 60 nhạc công do anh Trương Đình Bảng làm đội trưởng; Văn Tiến, nhạc trưởng; Ngọc My, nhạc phó; tôi làm chính trị viên được lệnh lên đường phục vụ quân và dân khu 4. Sau khi biểu diễn phục vụ các đơn vị quân đội và nhân dân các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, ngày 19-7 đội chúng tôi được lệnh về Hồ Xá, Vĩnh Linh nhận nhiệm vụ mới.
Tiếp cán bộ chỉ huy đội chúng tôi, đồng chí Trần Đồng, Bí thư Đặc khu Vĩnh Linh nói rõ cho biết chủ trương của ta trong việc phá buổi mít tinh lớn của địch sáng ngày 20-7. Ngày 20-7-1964 là ngày kỷ niệm lần thứ mười Hiệp định Giơ-ne-vơ, ngày mà Chính phủ nguỵ quyền Sài Gòn từ thời Ngô Đình Diệm đã coi là “ngày quốc hận”. Năm 1964, nguỵ quyền Sài Gòn dự định tổ chức kỷ niệm lần thứ mười “ngày quốc hận” rất lớn. Chúng chọn bờ nam cầu Hiền Lương làm trung tâm tổ chức buổi lễ với những ý đồ chính trị thâm độc và phản động. Vì thế, ta có chủ trương phá bằng được buổi lễ đó của địch...

19/08/2023 lúc 16:57
T
háng hai năm một chín sáu mươi, tôi bị bọn mật vụ của chính quyền Ngô Đình Diệm bắt về tra tấn rồi nhốt vào xà lim ty cảnh sát tỉnh Quảng Trị. Tất nhiên là việc của tôi làm chúng không bắt được quả tang nên tôi kiên quyết không chịu chấp nhận ký cung theo mưu đồ của chúng vạch sẵn. Do đó mà tờ cung của tôi được trắng án. Sau đó chúng đưa tôi về giam tại nhà lao Thành Cổ.
Mùa hè, nhà lao Quảng Trị trời nóng bức, hàng trăm tù chính trị, kinh tế, gái mại dâm, ma tuý đều nhốt chung một nhà lao, nhưng chia ra nam riêng, nữ riêng. Tôi ở phòng nữ, trong đó có nhiều cháu nhỏ mới sinh, có cháu một, hai tuổi phải đi ở tù cùng với mẹ. Do trời oi bức, phòng giam quá chật chội, các cháu bị u nhọt khắp mình mẩy, nổi to như những quả nho chín mộng. Thật tội nghiệp. Tôi bàn với các chị tìm một cây bàng trồng trước sân phòng nữ. Với hy vọng cây bàng lớn lên toả bóng mát cho các cháu ra chơi dưới gốc cây. Ý kiến đưa ra được chị em tán thành.

19/08/2023 lúc 16:57
B
a giờ 45 phút ngày 21.7.1954, bản Hiệp định đình chiến ở Việt Nam được ký kết trong đó điều 14 có ghi: “Những biện pháp chính trị và hành chính trong hai vùng tập hợp ở hai bên giới tuyến quân sự tạm thời là trong khi chờ đợi Tổng tuyển cử để thực hiện thống nhất nước Việt Nam, bên nào có quân đội của mình ở vùng nào theo quy định của hiệp định này thì bên ấy sẽ phụ trách quản trị hành chính ở vùng ấy”.
Vì hiệp định ghi các điều khoản chỉ về đình chỉ chiến sự, không ghi về tự do dân chủ nên phe ta đấu tranh đưa vào bản tuyên bố cuối cùng của chín nước tham gia hội nghị buộc các nước ký kết phải thi hành điều thứ 7 như sau:

19/08/2023 lúc 16:57
C
ầm tờ quyết định lên đường nhận nhiệm vụ mà lòng rộn ràng bao nỗi mừng lo xao xuyến. Xe bắt đầu chuyển bánh về phương Nam. Thế là mở đầu những ngày sống xa mẹ, xa quê hương, xa bạn bè thân thuộc để lên đường đi công tác. “Đâu có giặc là ta cứ đi” câu hát một thời ngân vang giục giã bước chân tuổi trẻ. Cả khóa học chúng con hôm nay đều lên đường đi B. Mẹ ơi! Con đi B lần này không chỉ đánh giặc ngoại xâm, mà đánh cả giặc dốt nữa mẹ ạ. Bác Hồ kính yêu đã dạy: “Giặc dốt là một trong ba thứ giặc đã làm cho dân tộc đói nghèo, lầm than đau khổ”. Con gái mẹ tuổi 18 ăn chưa no, lo chưa đến mà đã xa mẹ rồi. trước mắt bao cái ngỡ ngàng thấp thỏm lo âu. Nhưng mẹ đừng lo, bên con đã có bạn bè đồng đội. Tiền tuyến gọi hậu phương đáp lời. Quảng Trị đã giải phóng, các em thơ đói chữ đang chờ. Bao năm sống trong rào gai kẽm sắt của giặc, các em phập phồng lo âu nghe tiếng súng giặc nổ nhiều hơn tiếng giảng bài. Nên chúng con phải đến đó.
Chiều, xe dừng bánh ở đất Quảng Trị, chúng tôi xuống bến xe Đông Hà. Đông Hà một thị xã mới giải phóng còn ngổn ngang đổ nát hoang tàn. Đứng trên gò đất cao nhìn về bốn phía: Cây cỏ xác xơ, mặt đất loang lổ, hố bom, hố đạn chằng chịt khắp nơi. Nhìn cảnh tượng ấy mà lòng đau như cắt. Đường về Triệu Trung không có xe chở khách mà phải đi vòng vèo bằng đường thủy...hỏi địa chỉ để tới được nơi trường đóng phải mò mẫm vất vả vô cùng...

19/08/2023 lúc 16:57
V
ào một buổi sáng thu 2001, trời xanh trong, tôi tìm đến nhà anh Đặng Hữu Tuệ ở đường Lê Đại Hành thị xã Ninh Bình. Anh Tuệ đi vắng, chị Nguyễn Thị Tuyết Vân – vợ anh tiếp tôi. Chúng tôi nói chuyện xã giao. Nghe giọng nói miền trung vui tính của chị, tôi hỏi: “Có phải xưa chị cùng đơn vị với anh?” Chị Vân cười bảo: “Không! Em ở đơn vị bạn, bị thương rồi đến điều trị chỗ anh Tuệ, anh ấy là bác sỹ mà anh”. Tôi nói vui: “Tức là chữa xong vết thương thì tình yêu đến?” Chị cười e lệ, nhưng nói thì lại mạnh bạo đúng cái lúc anh Tuệ về: “Anh ấy chữa khỏi vết thương cho em xong, thế là anh ấy “cuỗm” em luôn”. Chúng tôi cùng cười vang. Vậy là vừa quen nhau mà đã vui như tết.
Đã biết tác phong người lính, không vòng vo, tôi đưa anh xem thẻ, chị cáo bận ra ngoài phố, tôi nói:
- Được biết anh là Trưởng ban liên lạc Ban chiến đấu trung đoàn 90 – Trung đoàn Do An anh hùng – Ninh Bình. Anh có thể cho độc giả Ninh Bình quê hương, độc giả Quảng Trị có vùng Do An lừng danh, mà các anh là những người trực tiếp chiến đấu cùng với dân quân Quảng Trị trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, biết về chiến công của trung đoàn được không ạ?
Anh Tuệ dè dặt, hình như anh ngại: “Nhưng tôi là bác sỹ thì kể làm sao được hả đồng chí?”...

19/08/2023 lúc 16:57
Làng Phú Mỹ nay là Nam Phú, xã Vĩnh Nam, huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị) nằm gần sát đường thiên lý Bắc - Nam. Tương truyền từ thuở đánh giặc Chiêm Thành có ông tướng dẫn quân từ Bắc vào hạ trại ở đây. Đêm nằm ngủ, ông mơ thấy một vị thần hiện lên hỏi: “Nhà ngươi cầm quân đi chinh phạt xa xôi, thung thổ lạ lẫm, quân giặc bạo tàn, đã có phương sách gì chưa?”

19/08/2023 lúc 16:57
Lâm Xuân là một làng nông nghiệp, thuộc địa phận xã Gio Mai, ở về phía đông huyện Gio Linh; hiện nằm giữa hai con đường 14 và xuyên Á chạy từ Quốc lộ 1A về bờ Bắc cảng Cửa Việt. Phía Đông làng giáp thôn Nhĩ Hạ, phía Tây giáp triền cát trắng (gọi là bãi cát Hau Hau tiếp giáp xã Gio Quang); phía Nam giáp làng Mai Xá Chánh và Mai Xá Thị, xã Gio Mai và phía Bắc giáp làng Tân Minh xã Gio Thành.

19/08/2023 lúc 16:57
T
háng 2- 1973, nhận được Chỉ thị của Tỉnh ủy Quảng Bình, Đoàn Văn công Quảng Bình cử một đội nghệ thuật xung kích do đồng chí Đặng Ngọc Não làm đội trưởng cùng đi với đoàn cán bộ lãnh đạo tỉnh về thăm miền Nam vùng mới giải phóng. Cán bộ lãnh đạo tỉnh đi ngày ấy có đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Cổ Kim Thành và một số đồng chí khác. Đội nghệ thuật xung kích ngoài đồng chí Đặng Ngọc Não còn có các diễn viên Nam Kỷ, Cẩm Mai, Minh Thưởng, Bích Xiêm, nhạc công Lê Quang Hưng và tôi (Hoàng Sông Hương) nhạc sĩ kiêm ca sĩ.
Nói là đi thăm miền Nam nhưng thực tế chúng tôi chỉ vào đến Quảng Trị. Trước khi đi ai trong chúng tôi cũng hồi hộp, phấn chấn lạ thường. Đã từ lâu chúng tôi mơ ước có ngày được đặt chân lên đất miền Nam. Ngồi trên đất Quảng Bình nghe hát "Quân reo quê mẹ Quảng Trị anh hùng" mà lòng cứ rạo rực không nguôi!.
Đêm đầu tiên chúng tôi dừng chân và nghỉ tại xã Cam Thanh (Cam Lộ) - Trụ sở Khu ủy Trị Thiên hồi ấy đóng tại đây. Chúng tôi đến đây đúng lúc nhạc sĩ Trần Hoàn, Trưởng ban Tuyên giáo Khu ủy đang tập hát bài mới sáng tác cho nam nữ thanh niên du kích và các cháu thiếu niên địa phương. Thấy đoàn vào, anh Hoàn dừng cuộc tập vui vẻ tiếp đoàn - Anh xúc động bắt tay tôi và nói: "Chào nhạc sĩ "những con đò sông nước miền Trung". Tôi xúc động không kém. Anh là nhạc sĩ lớp trước, từng nổi tiếng với nhiều bài hát hay. Không ngờ hôm nay tôi được gặp anh ở nơi này! Anh Hoàn giới thiệu với đoàn: Anh Hồ Như Ý – Phó ban Tuyên giáo Khu ủy quê Quảng Bình; Nhà thơ Thanh Hải, nhà nhiếp ảnh Sĩ Sô... Với tình cảm "Nam - Bắc một nước - văn nghệ một nhà", tuy mới lần đầu gặp nhau chúng tôi vẫn coi nhau như anh em trong một nhà vậy...

19/08/2023 lúc 16:57
T
ập ảnh quê hương Quảng Trị của Sĩ Sô do Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam và Hội Văn Học nghệ thuật Quảng Trị vừa cho ra mắt bạn đọc, là ấn phẩm kỷ niệm 30 năm giải phóng tỉnh Quảng Trị (1/5/1972 – 1/5/2002). Đây là 221 tấm ảnh chọn lọc trong hàng vạn tấm ảnh mà nghệ sĩ nhiếp ảnh và phóng viên chiến tranh Sĩ Sô đã chụp và hiện còn lưu giữ được về mảnh đất miền Trung kiên cường suốt bốn mươi năm qua. Những tấm ảnh quý về một thời không thể nào quên. Những khoảng khắc tuyệt vời - đặc biệt là những bức ảnh về chiến tranh - mà không phải là nhà nghệ sĩ cầm máy hay phóng viên mặt trận nào cũng có thể là người chứng và ghi lại được. Người chứng, điều này hầu như đương nhiên đối với nghề làm ảnh; đối với Sĩ Sô ta còn có thể gọi là người trong cuộc, bởi trong trường hợp này phóng viên, nghệ sĩ khi cần cũng là chiến binh.
Những chiến công lừng lẫy của Quảng Trị anh hùng: Đường 9 Khe Sanh, Cồn Tiên, Dốc Miếu, Thành Cổ… song song với cuộc đấu tranh thầm lặng không sử sách nào ghi lại nổi của những người sống trong vòng kìm kẹp của kẻ thù, trước hết là kết quả chiến đấu, hy sinh trường kỳ của nhân dân dải đất gió Lào cát bỏng. Đấy còn là sự góp sức bằng cuộc sống, máu xương, mồ hôi, trí tuệ và vật lực của nhân dân, quân đội cả nước, là sự ủng hộ của bạn bè quốc tế. Những sự kiện ấy, những con người ấy không phải nhà báo nào cũng có điều kiện ghi lại và lưu giữ đầy đủ như Sĩ Sô. Không chỉ vì anh thường xuyên bám trụ nơi đây, không chỉ vì chiếc máy ảnh của anh sẵn sàng xuất hiện đúng lúc cần thiết,...

19/08/2023 lúc 16:57
Đ
ã khuya lắm rồi, bọn địch cũng như mệt mỏi, khoảng cách giữa các loạt cối cầm canh thưa thớt hơn. Đêm hạ tuần tháng chạp sương muối xuống giá lạnh. Gió thổi vun vút từ sông Thạch Hãn thổi vào, bãi bằng Như Lệ đường dây thông tin thôi không dứt nữa. Mệt quá, tôi ghé xuống một căn hầm bên đường, vẫn giữ nguyên quân tư trang trên người, đêm đông mà lưng áo ướt sũng vì từ chập tối đã lăn qua lăn lại nhiều lượt với những cú dây đứt. Định ngả lưng chút xíu cho dãn xương dãn cốt, nhưng vừa đặt lưng bỗng nghe tiếng quát tháo làm giật mình, thì ra là tiếng quát của chính mình trong mơ.
- Chết mất! Bọn thám báo mà mò qua đây thì toi!
Lẩm bẩm một mình, tôi nhỏm dậy, hai tay lăm lăm hai quả lựu đạn chày, rồi lại bước vào màn đêm tối thui sương giá. Lần theo hào tuyến ba, đến được khu đại đội 7, mấy chàng 2W đang ngủ vùi, anh em bộ binh chốt tuyến hai qua qua lại lại thay phiên nhau tuần tra…tôi cũng lao vào hầm thông tin, nằm vật vả, ngủ thiếp đi rất nhanh...

19/08/2023 lúc 16:57
Ô
ng sinh năm 1919 và lớn lên ở một làng quê cạnh dòng sông Thạch Hãn: thôn Tam Hữu, xã Triệu Trung, Triệu Phong, Quảng Trị. Hoàng Cầm, người soạn lời ca Huế tài hoa đã trải qua một thời niên thiếu đầm ấm giữa ruộng đồng, thấm đẫm hồn dân dã. Được học ở trường làng rồi lên trường huyện, Hoàng Cầm đã sống những ngày thân ái với bạn bè đồng trang lứa. Tình yêu làng mạc, quê kiểng, nghĩa khí bằng hữu cứ lớn dần trong tầm thức cậu học trò làng.
Năm 1936, vừa làm thư ký cho một hãng buôn, vừa đi học, chàng trai 18 tuổi bắt đầu có dịp đến với nghệ thuật ca Huế rồi đem lòng đắm say bộ môn này. Người tạo chất xúc tác cho nỗi đam mê ca Huế trong Hoàng Cầm ngày càng mãnh liệt là một giám đốc Sở Bưu điện Quảng Trị hồi bấy giờ (mà rất tiếc Hoàng Cầm đã không nhớ tên ông ta). Hoàng Cầm chỉ nhớ vị giám đốc đó thổi sáo rất hay. Tiếng sáo có sức quyến rũ mê hồn. Âm hưởng trầm bổng, luyến láy các giai điệu ngâm thơ, ru con, các điệu lý, dân ca và ca Huế. Tiếng sáo véo von đã ươm mầm say mê nghệ thuật ca Huế và theo Hoàng Cầm suốt một đời người. Hoàng Cầm còn nhớ hình ảnh người ấy và âm thanh cung bậc sáo réo rắt thoát ra từ con đò trên sông Thạch Hãn vào những đêm khuya thanh vắng, dưới nước, trên trăng. Ngồi tựa ghế đá trước tòa Sứ Quảng Trị, tiếng đàn, ca Huế từ dưới sông Thạch Hãn vọng lên từng nỗi cảm hoài, từng cung bậc tri âm, tri kỷ. Sức cuốn hút kỳ diệu của ca Huế, của cung đàn, giọng hát mang âm hưởng quê nhà trở thành những vốn quý cho Hoàng Cầm sau này soạn lên những lời ca đồng điệu. Qua chuyện kể Hoàng Cầm, chúng ta được hiểu thêm, ngay trong thời điểm ấy, dòng sông Thạch Hãn cũng đã có một đời sống văn hóa với sinh hoạt nghệ thuật phong phú, thi vị, giàu âm hưởng của ca Huế, dân ca trên những con đò không khác chi dòng sông Hương của Huế...

19/08/2023 lúc 16:57
Đ
ã thành lệ, vào dịp này là chúng tôi đi thăm nghĩa trang liệt sĩ, thắp hương tưởng niệm các đồng chí, đồng đội đã hiến trọn đời mình cho cuộc sống hôm nay, coi đây là việc làm thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn. Đặc biệt, năm nay chúng tôi đi sớm hơn, đúng vào dịp kỷ niệm lần thứ 73 ngày thành lập chi bộ Mỹ Trung (1931 - 2004). Đây là chi bộ Đảng đầu tiên ở phía nam tỉnh Quảng Bình. Sau khi dâng hương ở tượng đài, chúng tôi chia nhau đi cắm hương từng ngôi mộ. Đến mộ anh Bùi Trung Lập quê ở Quảng Trị, anh Đỗ Duy Thường, một cán bộ cách mạng lão thành, gọi chúng tôi lại giới thiệu: Đây là người thầy, người bạn chiến đấu của anh thời tiền khởi. Chúng tôi yêu cầu anh nói rõ hơn, anh bồi hồi nhìn làn khói hương nghi ngút rất trang nghiêm, ý chừng chờ người ở cõi âm chứng giám và xúc động kể rằng: “Ngày ấy, sau thời kỳ sôi nổi của Mặt trận Bình dân Pháp (1936 - 1939) Chính phủ Đa-la-đi-ê lên cầm quyền, y ra sức đàn áp phong trào Cộng sản. Chúng thi hàng hàng loạt biện pháp khủng bố rất dã man ở thuộc địa, nhằm tiêu diệt Đảng Cộng sản ở Đông Dương. Dập tắt các phong trào quần chúng do Đảng lãnh đạo. Chúng lập ra các hội đồng kỳ hào, Tộc biểu, tăng thêm quyền lực cho bọn tay sai, sử dụng những tên mật thám gian ác, tổ chức mạng lưới chỉ điểm, nằm sâu trong các bản làng với các thủ đoạn hết sức thâm độc và xảo quyệt. Ở làng nào, bản nào chúng cũng lập thêm các điểm canh, cho tuần đinh canh gác cả ngày đêm. Đoạn đường ngang qua làng Quy Hậu của tôi chỉ dài hơn một km mà có tới ba điểm canh, gây ra không khí căng thẳng, nặng nề, ngạt thở. Ai cũng nơm nớp lo âu bởi tiếng trống, mõ báo động, cảnh bắt bớ, cùm xích luôn xảy ra...
Hiện tại
26°
Mưa
21/04
25° - 27°
Mưa
22/04
24° - 26°
Mưa
23/04
23° - 26°
Mưa