Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 19/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Mấy đặc điểm về sự hình thành làng xã ở vùng chợ sãi

M

uốn nghiên cứu sự ra đời và phát triển làng xã Quảng Trị, chúng ta phải đi lần từng bước từ thời mới thành hình cho đến những đợt di cư người phía Bắc vào các vùng phía nam Đèo Ngang. Cả quá trình lịch sử ấy thật phức tạp, thường xen kẻ giữa các tộc Poléniseng và Mongoloit phương Nam, giữa ngữ hệ Môn-kmer với ngữ hệ Thái Tày. Những tiếng nói còn đọng lại đến nay của các ngữ hệ ấy trong tiếng nói nhân dân vùng quê, vùng núi Quảng Trị  cho ta thấy rõ nét giao thoa của nơi giáp lưu hai tộc người cổ đại, hai ngôn ngữ cổ đại ở vùng giữa đèo Ngang và Hải Vân. Từ buổi sơ khai ấy, người phía Nam có lần tràn lên đến Tây-Bắc Việt Nam, rồi lại dần dần trở về vùng Bình Trị Thiên ngày nay, để lại một vệt tộc người pha trộn dòng máu rất khó nhận thấy.

Tiếp, vùng đất hẹp miền Trung, khô cằn, nắng gió lại để lại nhiều vết tích các cuộc tranh chấp trong lịch sử, từ những bộ lạc phân tán, những tộc người khác tộc ở vùng giáp lưu. Từ trước mãi đến khi hình thành nước Văn Lang, ở vùng sông Hồng, tình trạng ấy giảm dần, liên kết đầu tiên thành bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Bộ cực nam ấy, khá lỏng lẻo, tồn tại trong những thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyên về sau. Thủ phủ Việt Thường đóng ở Đức Thọ (Hà Tĩnh) nhưng lãnh thổ kéo dài mãi đến gần Đá Vách (Phú Yên). Từ đó về sau, nhiều cuộc tranh chấp giữa các tộc nhỏ sống Bắc - Nam đèo Ngang mà tiêu biểu nhất là cuộc nổi dậy của Khu  Liên (năm 179). Cuộc nổi dậy này lại mang tính chống nền thống trị của nhà Hán, liên kết cả với Cửu chân, Nhật nam (bắc đèo Ngang). Hơn mấy chục năm sau, nhờ mối liên kết chống nền đô hộ nước ngoài ấy, Khu Liên lấy lại được vùng đất nam đèo Ngang trở vào, thành lập nước Lâm Ấp đóng đô tại Cao Lao Hạ. Từ đây trở thành Hoàn Vương rồi Chiếm Thành với nền văn hoá Ấn Độ kéo dài mãi sau này. Nam - Bắc đèo Ngang trở thành nơi chiến tranh liên miên giữa Đại Việt và Champa, vùng đất giáp giới hai bên trở thành hoang vu, dân cư thưa thớt. Cho mãi vào thiên niên kỷ chúng ta, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần quyết trừ diệt âm mưu Champa liên kết với Tống, Nguyên Mông đánh nước ta từ hai phía, đã đánh bại Champa, đẩy chúng vào mãi phía nam Hải Vân. Từ 1069, vùng Quảng Bình đến Ma Linh, đã có nhiều vùng như Bố Chính, Nhà Vàng (Huỳnh Công), Sà Lung, Cầu Nhi...một số đông lính do Lý Thường Kiệt phân công lại cư trú, chung sống với người Champa. Đặc biệt, những vùng đất ở bờ nam sông Thạch Hãn trở vào, tuy có nơi còn nhiều người Champa, nhưng cũng xen kẻ người Đại Việt chung sống. Những địa danh: Cầu Nhi, Trà Bát, Trà Trì, Trung Đơn, Cổ Luỹ, Tri Bưu, Ná Nẩm, Trà Lộc, Bồ Bản, Cổ Thành, Gìa Cảng, Chợ Thuận, Cửa Việt... có dấu vết những địa điểm, những “Vijaya” (lãnh địa) những vùng ngoại vi các Trị sở, trang trại của người thổ dân bán xứ. Từ 1306, sau sự kiện Huyền Trân Công Chúa, hai mảnh đất Thuận Châu, Hoá Châu trở thành vùng di dân Đại Việt ồ ạt, nhất là thời Hồ Quý Ly (1.400) và thời Lê Thánh Tông (1.471).

Qua mấy khái lược trên, chúng ta nghiên cứu mấy tài liệu ở vùng chợ Sãi hiện nay:

Vùng chợ Sãi xưa thuộc đất Ô Châu, sau đổi là Thuận Châu thuộc phủ Thuận Hoá...Đến đầu đời Lê, Thuận Châu chia làm hai huyện Võ Xương và Hải Lăng thuộc Phủ Triệu Phong (dài mãi đến đất Quảng Nam) thuộc Thuận Hoá Thừa Tuyên. Xem như vậy, địa điểm chợ Thuận ngày nay có từ trước đời Lê sơ. Đó có thể là lỵ sở Ô Châu của Champa, hoặc trị sở Châu Thuận lúc Lý Thường Kiệt mới vào phía Bắc sông Cửa Việt (1.069). Chúng ta chỉ biết rằng Châu Thuận có lúc đã đóng tại chợ Thuận (ngày nay) nơi có ngã ba sông Đò Giá (Già Cảng) nơi thuận lợi nhất trong vùng. Và cũng rất có thể là thị tứ quan trọng cho mãi đến đầu thế kỷ XV, khi Đặng Dung vây bắt Trương Phụ tại Già Cảng không thành ngay ở địa điểm quan trọng Thuận Châu cũ này. Rồi không biết  Thuận Châu (Chợ Thuận) tồn tại bao lâu và chuyển về Cổ Thành (Chợ Sãi) từ bao giờ, ngay ta cũng chưa rõ hai Trị sở ấy có liên quan gì với nhau không, nhưng điều không phải bàn là Cổ Thành lúc nầy đã trở thành Trấn Trị vùng đất Quảng Trị. Chính do vậy, Nguyễn Hoàng vào đóng ở vùng ngoại vi, chặn lấy Cửa Việt, cửa ngõ của cả vùng. Sau kế mỹ nhân, lừa tướng Mạc là Lập Bạo vào tròng và bắt hơn mấy nghìn quân đối phương, Nguyễn Hoàng giao cho Trần Đình Chí (thân sinh Trần Đình Ân) đem số bại binh về chân núi Cồn Tiên (Do Linh) lập thành tám trang trại (nay gọi là “bát phường  Mai Xá”). Đại quân của Nguyễn Hoàng vẫn đóng ở Ái Tử. Ít lâu sau lại xây dựng Dinh Cát (tại Ái Tử) là dinh trấn Đằng Trong, lập đền “Oa Oa” thờ người đàn bà thực hiện kế mỹ nhân giết Lập Bạo tại Ái Tử. Lúc này, Cổ Thành và vùng ngoại vi dân cư tụ họp càng đông, nhiều làng có từ trước đó thành những làng mạc ngoại ô Cổ Thành.

Theo gia phả một số dòng họ, người đến sớm nhất cũng chỉ vào thời Lê Thánh Tông, còn một số khác vào khoảng đầu nhà Mạc và về sau này. Gia phả họ Lê ở làng Bích La, có nói lược qua sự hình thành của làng trước thời nhà Mạc. Văn bản sơ lược như sau:

 

Cháu Thọ lưu ý

(Đoạn này còn thiếu bản scan chữ Hán

.............................................................................

..............................................................................

...........................................................................)

 

Bản tạm dịch như sau:

“Sự trạng Thần Khai Khẩn xã Bích La, Phủ Triệu Phong tỉnh Quảng Trị “

“Vị bổn thổ Khai Khẩn là Cai Tri Phó Tướng Doản - Lộc hầu được giao nhiệm vụ coi giữ bờ sông Linh Giang nên được sắc phong”

“Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò tôn thần. Ngài là người Hoa Duệ ở Hoan Châu (Hà Tĩnh) vốn tính trung hậu lại thông binh pháp. Vào năm Thống Nguyên, đời Lê (1522-1527) làm quan Chính chưởng Trung Tể, nhân lúc Mạc Đăng Dung tiếm quyền, lại vốn lĩnh mạng tại Triều Lê làm Cai Tri các xứ Tân Bình, Thuận Hoá ngăn chặn giặc Chiêm Thành, nên nay chiêu mộ lựu dân khẩn hoang ruộng đất, lập tổng xã theo từng lúc chia làm 14 hộ: Cai tổng Bá là Lê Cảnh Sắc, Lê Văn Tài, Lê Bá Hỷ, Lê Phúc Thiện, Lê Đức Dũng, Lê Đình Cống, Nguyễn Thọ Bình, Lê Thế Toản, Lê Trọng Mưu, Trần Hữu Dực, Phan Định, Phạm Xuân Dương, Hồ Đằng, Đặng Xương... Cứ theo ở đất cũ Thuận Hóa lập chung một xã gọi là Hoa An xã. Thời Tây Sơn đổi tên xã Hoa La. Triều Nguyễn đổi là Bích La chia làm 4 giáp: Đông, Trung, Nam, Hậu. Kịp khi phục hồi lại cương giới cũ, xét công đức trí lược ngày xưa nên được tặng hai chữ lớn “Ích trí”, phong tước Doãn Lộc Hầu. Ngài cáo tuổi già xin về quê lại được gia tặng Chí Đức Đại Thần.

Ngày kỵ: Ngày mồng bốn tháng giêng và được cả làng họ đều đồng tình cắt một khoảnh đất gần một mẫu ở châu Hà Dương để cung phụng hương khói, kỵ giỗ.

Mộ: Táng tại đất Cồn Đô, xứ Hà Dương trong xã, thuộc núi Giáp Sơn, hướng canh (vị thứ bảy trong thiên can), chầu về núi Thiên Sơn sông nước đều chầu về, để lại ngàn vạn đời sau, con con, cháu cháu thừa kế mãi mãi vinh hoa phú quý”.

Trên đây là bản ghi lại tóm tắt tập gia phả của dòng họ Lê. Nghe đâu, bản Gia phả lớn còn ở Huế. Chúng tôi nhiều lần tìm đọc nhưng tìm chưa được, hy vọng sẽ công bố thêm khi có điều kiện. Trong nội tâm chúng tôi, việc tìm lại gia phả gốc của họ Lê - Bích La, còn có mục đích muốn làm rõ thêm gia tộc đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, người học trò Bác Hồ ngay ở đất quê hương. Do vậy, tôi cố tìm về đất Cẩm Xuyên, làng Phương Duệ (Mỹ Duệ) tìm lại làng Hoa Duệ xa xưa. Đến nơi, tôi lại được bà con cho biết đồng chí Lê Duẩn cũng đã về đây thăm lại nơi cố quận của ông bà tổ tiên mình. Tôi nghĩ thầm: Chỉ có người Việt Nam mới giữ được mãi mãi quê hương tổ quán. Đó chính là nét sáng của tâm linh con người, giúp vào sự hưng thịnh đất nước từ xưa và cũng chính tâm linh này, ngày nay càng là động lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tổ quốc từ đây .

Tôi trở về tìm hiểu vùng chợ Sãi. Vùng này thay đổi nhiều, ngay từ đầu thế kỷ XVI, khi sách “Ô Châu cận lục” của Dương Văn An viết về vùng Cổ Thành, nhiều tên làng xã cổ sơ ở đây cũng có một số tên giữ mãi đến ngày nay, như Cổ Thành, Ái Tử, Nhan Biều, Nại Cửu... nhưng lắm tên làng xã nay thay đổi hoặc không còn như Hạ Đô, Chính Đô, Đại Bối, Hà Bá, Hà Vi, Phương Lan, trong đó, theo như gia phả họ Lê - Bích La, không có tên Hoa Duệ hay Hoa La. Có những tên làng mà chúng tôi nghi là tên làng Bích La lúc đó như Hoa Ngạn hay Hoa Vi ở cạnh xã Nại Cửu (tên có từ lúc đó). Như vậy rất có thể Hoa Duệ hay Hoa La có sau khi Dương Văn An viết “Ô Châu cận lục”. “Một giả thuyết” khác nghi rằng sách “Ô Châu cận lục” chép lại sau này, nhầm chữ “Vi”  (.........      )  hoặc “Ngạn”   (...............       )  với chữ Duệ  (............         ), vì những chữ đó có tự dạng gần giống nhau.

Một tên khác cần bàn là “Cổ Thành” trong “Ô Châu cận lục” có nói đến “Cổ Thành” và nhiều tên gần Cổ Thành như “Chính Đô”, “Thượng Đô”, “Hạ Đô”... Những tên này có liên quan gì với chợ Sãi (Cổ Thành), một thời đã từng là trấn trị Châu Thuận, một thời tiếp theo là phủ lị Ô Châu hoặc phủ lị Triệu Phong. Theo Dương Văn An khi viết về “Ô Châu cận lục” đã ca tụng Cổ Thành lúc đó là “cảnh tượng vui tươi, phong vật quý giá còn đâu hơn nữa”, nhưng “ngôn ngữ khác tiếng, tên làng thường gọi chệch, nói sai có lẽ là lý do tên làng nước thay đổi sau này. Những tên mang dấu vết Thành thị cũ như trên còn thay đổi khi Trà Bát thay Ái Tử làm đại bản doanh của xứ Ô Châu cũ. Chúa Sãi Vương (con Nguyễn Hoàng) tức là chúa Nguyễn Phúc Nguyên trị vì vùng Trà Bát, dọc nơi phụ cận Cổ Thành (lúc đó gọi là chợ Sãi), có năm đoàn quân lớn của Đàng Trong đóng. Năm đoàn quân đó gọi là Tiền kiên, Hậu kiên, Trung kiên, Tả kiên, Hữu kiên. Đến năm 1620, đất Cột Cờ chứng kiến cái chết của anh em Phúc Hiệp, Phúc Trạch khi tranh quyền với Phúc Nguyên bị bại lộ, Chúa Sãi rút dần quân vào Kim Long. Đất năm doanh trại lâu sau trở thành năm làng: Tiền Kiên, Trung Kiên, Hậu Kiên, Tả Kiên, Hữu Kiên với bà con thân thuộc của phần lớn lính Nam Hà (Hà Tĩnh) thành cư dân vùng Triệu Phong lúc đó.

Với mấy tư liệu bước đầu này, chúng ta thấy thêm về sự hình thành một số làng xã xung quanh chợ Sãi. Chắc chắn, khi được đi sâu vào nhiều gia phả nhiều tư liệu, nhiều dòng họ vùng này, chúng ta càng khẳng định thêm tính cổ sơ vùng chợ Sãi ngày nay.

T.T.T

Trần Thanh Tâm
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 97 tháng 10/2002

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

20/04

25° - 27°

Mưa

21/04

24° - 26°

Mưa

22/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground