|
Đ |
ã hơn bốn mươi năm trôi qua, nhưng những chiến công oanh liệt của bộ đội và du kích xã Triệu Trạch tại chốt Long Quang trong những năm tháng ấy như vẫn còn đây trong ký ức của mỗi người. Lần theo trang sử hào hùng của hơn bốn mươi năm trước, ta như thấy hiện rõ bức tranh toàn cảnh về chiến hào năm xưa, với những trận chiến đấu khốc liệt giữa ta và địch diễn ra từng ngày, từng giờ trên mảnh đất nhỏ hẹp này; ta như thấy hiện ra trước mắt một quang cảnh khói lửa đạn bom mù mịt, với tiếng gầm rú của các loại máy bay, xe tăng, đại bác... và cả tiếng thét gọi xung phong vang vọng dội về.
Một buổi sáng tôi đã về đây, trầm ngâm đứng trước Nhà bia tưởng niệm ghi lại chiến công của quân và dân chốt thép Long Quang. Phong cảnh thiên nhiên, làng mạc nơi này thật hiền hòa, nên thơ, và cũng rất đỗi ân tình. Tôi có cảm tưởng mỗi tên đất tên làng ở đây, cùng với ký ức một thời đã qua, như muốn níu lấy bước chân người. Gặp gỡ các cựu chiến binh, những du kích từng bám trụ tại đây và được nghe họ kể về một thời trận mạc đã qua.
Ngày 28 tháng 6 năm 1972, quân ngụy Sài Gòn mở cuộc Hành quân Lam Sơn 72, huy động một lực lượng lớn bộ binh, pháo binh, xe tăng, gồm những sư đoàn, lữ đoàn, thiết đoàn thiện chiến nhất của chúng, với sự yểm trợ tối đa của không quân Mỹ bắt đầu tấn công tái chiếm Thành Cổ Quảng Trị. Cuộc chiến diễn ra vô cùng khốc liệt. Hai bên tranh chấp nhau từng mét đất, từng đoạn giao thông hào, từng căn nhà, từng ngõ phố. Quân địch quyết tâm bằng mọi giá lấy cho được Thành Cổ Quảng Trị đã bị ta tấn công, chiếm giữ trước đó.
Trong lúc cuộc chiến đấu giữa ta và địch đang diễn ra hết sức quyết liệt ở Thành Cổ, thì vào ngày 22 tháng 7 năm 1972, quân ngụy bắt đầu dùng máy bay trực thăng đổ quân xuống bãi cát giữa 2 thôn Linh Yên và Long Quang thuộc xã Triệu Trạch, huyện Triệu Phong. Mục đích của quân ngụy trong việc đổ quân này là phải bằng mọi cách đánh bật bộ đội ta ra khỏi các trận địa tại đây để chiếm lấy tỉnh lộ 64 - con đường huyết mạch nối thị xã Quảng Trị với cảng Cửa Việt, cắt đứt sự chi viện của ta từ hướng đông lên Thành Cổ, tạo điều kiện cho việc tái chiếm Thành Cổ Quảng Trị của chúng được dễ dàng hơn. Nhưng ngay từ ban đầu, khi địch vừa đổ quân xuống, chúng đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của bộ đội và du kích án ngữ tại đây. Long Quang sau đó đã trở thành bức tường thép chặn đứng bước tiến của quân ngụy Sài Gòn. Tại đây, ta không những tiêu hao được một lực lượng lớn sinh lực địch, mà còn án ngữ, cầm chân chúng, góp phần chia lửa với mặt trận Thành Cổ Quảng Trị.
Hôm ấy là một ngày mùa hạ nắng như đổ lửa. Nhưng bầu trời Long Quang thì rền vang tiếng máy bay. Từng tốp trực thăng từ hướng nam bay ra, hạ dần độ cao rồi đáp xuống bãi cát phía sau làng. Cánh quạt của máy bay tạo nên những cơn lốc khiến cát bụi bay lên mù mịt một góc trời. Ngày đầu tiên, địch cho đổ xuống trận địa một tiểu đoàn chủ lực ngụy. Đó là là Tiểu đoàn 3, còn gọi là Tiểu đoàn Con Ó thuộc Lữ đoàn 369. Tại đây, sau khi chạm trán với bộ đội và du kích ta, Tiểu đoàn 3 Thủy quân Lục chiến ngụy bị thương vong một số lớn, vẫn không tiến lên được một bước nào, đành chấp nhận dừng lại xây dựng công sự chờ chi viện. Những ngày sau đó, quân ngụy dùng trực thăng tiếp tục đổ quân và bắt đầu cho xe tăng tiến vào Long Quang. Chúng đã tăng cường thêm cho lực lượng tại đây 1 tiểu đoàn của Lữ đoàn 147 và một số xe tăng T41 và M48. Cứ vậy, trong suốt cả thời gian diễn ra chiến sự, quân ngụy luôn duy trì tại Long Quang khoảng 2 tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến và 2 phân đội xe tăng. Lực lượng này thường xuyên được chúng thay đổi để đảm bảo về quân số. Đơn vị nào thương vong, mệt mỏi trong quá trình tham chiến được chúng rút ra tuyến sau, thay thế ngay đơn vị khác. Chúng đã dùng các Tiểu đoàn 2, 5, 8 của Lữ đoàn 258; các Tiểu đoàn 1, 4, 7 của Lữ đoàn 147, và các Thiết đoàn 17, Thiết đoàn 20 xe tăng làm nhiệm vụ luân phiên thay thế quân số tại đây.
Để đối phó với địch, tại Long Quang, ngay từ trước khi địch đổ quân, ngoài 2 trung đội du kích xã Triệu Trạch, ta còn bố trí tại đây một tiểu đoàn bộ đội chủ lực là Tiểu đoàn 8, thuộc Trung đoàn 64, Sư đoàn 320B, và một đại đội bộ binh là Đại đội 10, thuộc Tiểu đoàn 14, Tỉnh đội Quảng Trị. Về sau, lúc chiến sự lên đến đỉnh điểm, ở từng giai đoạn, ta cũng sử dụng Tiểu đoàn 3, thuộc Trung đoàn 48, và Tiểu đoàn 9 của Trung đoàn 64 để thay thế cho những đơn vị trước đó. Để đảm bảo an toàn tính mạng cho nhân dân trong xã, trước đó vào ngày 20 tháng 7 năm 1972, chuyến đò cuối cùng của ta rời sông Thạch Hãn kịp đưa số đồng bào còn lại lánh ra Gio Linh tản cư ra Vĩnh Linh. Ta đã cho sơ tán trên 3.200 người dân xã Triệu Trạch, chủ yếu là các cụ già, phụ nữ và trẻ em ra khỏi vùng chiến sự.
Sau khi được chi viện, quân địch bắt đầu mở những đợt tấn công vào Long Quang. Trong suốt thời gian kể từ ngày 22 tháng 7 năm 1972 cho đến trước khi ký kết Hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973 về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam có hiệu lực, quân ngụy Sài Gòn đã có tổng cộng hàng trăm đợt tấn công vào trận địa chốt của ta. Với lối đánh quen thuộc bằng những trận oanh kích dữ dội của máy bay, đại bác để dọn đường. Ngày nào cũng vậy, ngay từ sáng tinh mơ, các loại pháo, cối, DKZ của địch, trong đó có cả pháo hạng nặng 175 ly đặt ở Phường Lang, Linh Chiểu, Gia Đẳng, và cả pháo của Mỹ từ Hạm đội 7 cấp tập nhả đạn vào Long Quang. Tiếp đến là máy bay phản lực từng tốp hai đến ba chiếc quần đảo tìm kiếm mục tiêu rồi bất thình lình bổ nhào ném bom xuống trận địa. Đặc biệt, quân Mỹ còn dùng cả pháo đài bay B52 rải bom xuống Long Quang và các vùng phụ cận nằm trong sự kiểm soát của ta. Bầu trời không một phút giây yên tĩnh, tiếng gầm rú của máy bay làm mặt đất rung chuyển.
Ngoài tập trung lực lượng đánh phản công, dùng bộ binh với trang bị hỏa lực mạnh tấn công vỗ mặt ta ở hướng chính diện sau khi đã cho máy bay, đại bác cày nát trận địa, quân ngụy Sài Gòn còn dùng nhiều thủ đoạn, chiến thuật khác nhau hòng cố chiếm cho được vị trí then chốt này. Chúng kết hợp vừa tấn công hướng chính diện, vừa đánh thọc sườn ta, tạo nên thế gọng kìm bóp chặt ta từ cả ba phía, buộc ta phải phân tán lực lượng đối phó, để dễ bề tiêu hao sinh lực của ta. Cách đánh này quân ngụy thường dùng lực lượng từ cấp tiểu đoàn trở lên. Nhưng nguy hiểm nhất và gây cho ta lúng túng, bị động nhất vẫn là bọn địch sử dụng chiến thuật đánh vây lấn. Ấy là chúng dùng bộ binh đào hào lấn dần vào trận địa chốt của ta. Đất cát vốn dễ đào, nên chỉ qua một đêm, một tên lính đã có thể dùng cuốc, xẻng đào được vài chục mét hào. Cứ thế, từng đêm một, từng ngày một, bọn địch càng lúc càng xích lại gần ta hơn. Tầm súng đại liên, trung liên, súng phóng lựu đạn M79, súng chống tăng M71, M72... của địch cũng càng lúc càng gần hơn, gây bất lợi cho ta nhiều hơn. Bọn địch còn lợi dụng những đêm không trăng, hoặc trời mưa, chia thành nhiều mũi bí mật tập kích vào trận địa chốt. Máy bay, đại bác của chúng thì suốt ngày thi nhau quần đảo, bắn phá, gây thương vong về quân số cũng như phá hủy các công sự của ta.
Phương châm của ta là cố thủ tại trận địa chốt, đợi địch đến thật gần rồi dùng lựu đạn tiêu diệt bộ binh và dùng súng B40 hoặc B41 diệt xe tăng. Lực lượng của ta tuy mỏng hơn quân ngụy, nhưng có lợi thế phòng thủ trong công sự, trong giao thông hào, lại ở khắp nơi giữa làng xóm với những lũy tre, bờ mương, con đập, cồn cát...che chở. Hơn thế, trước trận địa chốt, ta còn gài sẵn một hệ thống lựu đạn và mìn chống tăng dày đặc. Để diệt xe tăng, xe bọc thép của địch, ta có sáng kiến gài mỗi vị trí hai quả mìn, cho quả này chồng lên quả kia. Có vậy sức công phá mới làm lật được các loại xe tăng T41 hoặc M48 của địch, thay vì chỉ đứt xích trong nhiều trường hợp như trước. Chiến thuật trận địa chốt phòng ngự của ta là chiến thuật tao ngộ chiến. Nghĩa là công sự của ta được bố trí theo ba góc của hình tam giác. Rồi một hệ thống giao thông hào liên hoàn nối liền các công sự lại với nhau. Khi địch tấn công, ta có thể cơ động và hỗ trợ cho nhau giữa công sự này với công sự khác rất thuận lợi và hiệu quả. Vì vậy, dù đã dồn tất cả sức mạnh, dùng nhiều chiến thuật khác nhau, mở nhiều đợt tấn công, với quy mô trận sau lớn hơn trận trước, quân ngụy vẫn không thể nào lấy được Long Quang. Ngược lại, sau mỗi đợt tấn công chúng còn bị ta tiêu diệt hàng chục, hàng trăm tên và bắn cháy nhiều xe tăng, thu nhiều đạn dược, vũ khí.
Không thể ngồi một chỗ đợi quân địch đến rồi mới đánh. Để quấy nhiễu và tiêu hao sinh lực địch, ta thực hiện phương châm, ngày giữ chốt, đêm thọc sâu đánh vào đội hình địch. Những đêm như vậy, ta sử dụng nhiều mũi, mỗi mũi khoảng một trung đội, hoặc một tiểu đội, nhằm vào những lúc địch sơ hở nhất, tập kích vào trận địa của chúng, rồi rút lẹ làng trước khi trời sáng. Do đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng từ trước, lại được du kích là người địa phương am hiểu địa hình dẫn đường nên mọi việc diễn ra theo đúng kế hoạch. Các trận tập kích nhỏ, lẻ của ta tuy vậy cũng đã tiêu diệt được rất nhiều sinh lực địch, khiến cho bọn sống sót ăn không ngon, ngủ không yên, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ.
Không những tập kích địch ban đêm, ta còn chủ động tấn công địch ngay giữa ban ngày. Cách đánh của ta là dùng đơn vị nhỏ đánh nghi binh ở một hướng nào đó, buộc địch phải dồn quân về hướng đó đối phó, rồi bất ngờ dùng lực lượng cỡ đại đội đánh thẳng vào vị trí của địch như đã có kế hoạch từ trước. Chiến thuật này vừa táo bạo, vừa bất ngờ, khiến cho quân địch không kịp trở tay. Trong trận ngày 19 tháng 12 năm 1972, ta sử dụng 2 tiểu đoàn bộ đội chủ lực là Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 48, Sư đoàn 320B, bất ngờ tấn công vào đội hình địch khi trời vừa rạng sáng. Đây là lúc quân ngụy vừa thức dậy, đang lúc mắt nhắm mắt mở, nên chúng hoàn toàn bị động, bị ta tiêu diệt nhổ gọn từng công sự. Trận tập kích táo bạo này quân ta đã tiêu diệt hàng trăm tên, bắn cháy nhiều xe tăng, phá hủy nhiều công sự của địch. Hai đơn vị là Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 7 của Lữ đoàn 147 Thủy quân Lục chiến ngụy trong trận này đã bị ta đánh gãy xương sống, không sao gượng dậy được nữa.
Các trận đánh vào trận địa địch không những giúp ta chủ động tìm địch mà diệt, mà còn có ý nghĩa làm hạn chế các cuộc tấn công ngược lại của chúng vào trận địa chốt của ta, giúp ta có thời gian nghỉ ngơi, củng cố trận địa để đối phó với những âm mưu, thủ đoạn mới của chúng. Chủ động tấn công địch còn giúp ta giữ vững trận địa cả trước mắt lẫn lâu dài trước sức mạnh đạn bom của quân thù.
Tại chốt Long Quang, ngoài các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương là lực lượng nồng cốt, thì du kích xã Triệu Trạch cũng là lực lượng rất năng động trong các nhiệm vụ được giao. Du kích với đặc thù là lực lượng nhỏ rất am hiểu về tác chiến, nắm rất chắc về địa hình, địa bàn. Vì vậy, trong các trận đánh, nhiệm vụ chính của du kích là dẫn đường, vận chuyển đạn dược, tải cáng thương binh, tử sỹ. Đồng thời du kích cũng là lực lượng tại chỗ phối hợp rất hiệu quả với bộ đội trong các trận chiến đấu bảo vệ chốt. Họ đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi với bộ đội trong từng đêm giữ chốt, trong từng trận đánh lớn nhỏ.
Kết thúc gần nửa năm giữ chốt Long Quang, bộ đội và du kích ta đã tiêu diệt trên 2000 tên địch, bắn cháy và phá hủy hàng trăm xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi 3 máy bay. Còn ta cũng phải đổi một cái giá không nhỏ. Hơn 1000 bộ đội và 16 đồng chí du kích đã anh dũng hy sinh.
Chốt Long Quang sau đó đã được gọi bằng một cái tên gắn với sự kiên cường, dũng cảm của bộ đội và du kích ta tại đó là Chốt thép Long Quang. Một số tập thể các đơn vị quân đội thuộc Sư đoàn 320B và các cá nhân như Trần Minh Vân, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48; Vũ Trung Thướng, Chính trị viên phó Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 48; Giang Văn Thành, Đại đội trưởng Đại đội 8, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 64 đã từng chiến đấu tại Thành Cổ Quảng Trị và chốt Long Quang sau này đã được tuyên dương Danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân nhân. Tập thể du kích xã Triệu Trạch cũng đã vinh dự được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất. Các cá nhân Phan Tư Kỳ, Nguyễn Duy Chiến, Nguyễn Thanh Trận, Lê Quốc Việt, Lê Gia Quốc và Nguyễn Đức Thủy được tặng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì. Lực lượng du kích còn có bảy cá nhân khác được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba.
Chốt thép Long Quang đã đi vào lịch sử của quân và dân ta trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Là bản anh hùng ca với những chiến công oanh liệt không thể phai mờ. Những gì đã từng diễn ra ở Long Quang trong ngần ấy thời gian ta càng khâm phục tinh thần chiến đấu quả cảm của bộ đội và du kích nơi này. Họ đã chấp nhận tất cả mọi hy sinh gian khổ để chiến đấu và chiến thắng. Và chiến thắng lớn nhất ở Long Quang ấy là tinh thần bám đất giữ làng bằng một quyết tâm một tấc không đi, một ly không rời, kiên quyết không để Long Quang rơi vào tay giặc.
Hơn bốn mươi năm đã trôi qua! Long Quang giờ đây đã là một làng quê trù phú và giàu đẹp. Bây giờ tất cả làng mạc, nhà cửa tường xây mái ngói, đồng lúa hai vụ tươi xanh, những dòng kênh quanh năm no nước, là đường nhựa, đường bê tông tỏa đi muôn nẻo. Cuộc sống của người dân Long Quang cứ mỗi ngày một đổi thay, no ấm hơn, khấm khá hơn. Bộ mặt của làng quê khiến cho ai đến đây lần đầu cũng phải lấy làm thích thú bởi quang cảnh trời mây non nước hữu tình, và ai cũng muốn dừng chân nán lại đôi chút. Những cựu chiến binh là các anh các chị du kích từng chiến đấu năm xưa tại chốt Long Quang, giờ cũng đã nên ông nên bà, cháu con đề huề, ăn ra làm được. Mỗi người đều có một cuộc sống, một hoàn cảnh riêng tư khác nhau. Nhưng tôi tin họ không thể nào quên được những năm tháng được sống bên nhau, chiến đấu anh dũng, kiên cường để gìn giữ mảnh đất nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Và tôi nghĩ đó là niềm hạnh phúc lớn nhất của họ và con cháu họ - những người dân nơi Chốt thép Long Quang này.
N.N.C









