(Tiếp theo Cửa Việt số 241)
3. Vấn đề kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số
3.1. Một vài vấn đề về nhận thức
Kế thừa và phát huy văn hóa truyền thống không phải là vấn đề mới. Nó được thể hiện rõ trong các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như sự bàn luận từ nhiều năm nay của các nhà khoa học, các nhà quản lý. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn mà phương tiện của văn minh hiện đại đang từng ngày từng giờ len vào đời sống từng gia đình và bắt đầu đi vào những vùng đất xa xôi của đất nước thì do mức độ nhận thức khác nhau đối với vấn đề này của từng nơi, từng vùng nên có những kiến giải và những giải pháp khác nhau về sự phát triển văn hóa. Văn hoá thường là nét đặc trưng của cách thức mà con người tồn tại; là tổng thể những giá trị mà con người đã, đang và sẽ tạo ra. Do đó, nếu nhìn từ phương diện phát triển thì văn hóa chính là sự phát triển về mặt bản sắc mang tính “phong cách” của nó. Trong mối quan hệ với sự phát triển, mặc dù văn hóa vốn được xem như là sự tồn tại độc lập tương đối, nhưng về thực chất, văn hóa luôn gắn liền với sự phát triển. Nếu phát triển là trình độ của sự vận động đời sống xã hội thì văn hóa là một khía cạnh quan trọng của sự vận động ấy. Do đó, văn hóa không hề nằm ngoài sự phát triển xã hội mà thường ẩn mình trong sự phát triển ấy. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9, BCH Trung ương Đảng Khóa XI cũng đã chỉ rõ: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân-thiện-mĩ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”1. Vậy, văn hóa các dân tộc thiểu số là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển xã hội của vùng đất mà họ cư trú. Do sinh sống chủ yếu ở các vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa của Tổ quốc; do những tiến bộ về khoa học và kỹ thuật đến chậm nên con người ở đây, trong một thời gian dài, một mặt dựa vào thiên nhiên để tìm nguồn sống, mặt khác phải đương đầu quyết liệt với thiên nhiên để tồn tại. Với tư cách là một mặt của đời sống xã hội, văn hóa các dân tộc thiểu số trước hết, được hình thành trong logic vận động nội tại của chính sự phát triển xã hội nơi họ sinh sống bao đời và tác động mạnh mẽ đến vùng đất này. Do phải sống ở một vùng đất hoang vu và bao la kỳ vĩ; do phải chống chọi với bao thế lực thiên nhiên, con người ở đây cần phải tạo ra niềm tin, tạo ra sức mạnh con người - sức mạnh của niềm tin vào con người. Chính vì ra đời trong hoàn cảnh ấy, văn hóa các dân tộc miền núi thường tạo nên những âm hưởng đặc trưng - âm hưởng hùng tráng, được thể hiện rõ trong âm nhạc, vũ điệu, các nghi lễ,… Thực chất của những hình thức văn hóa của các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng cao, một mặt tạo ra niềm lạc quan, niềm tin và sức mạnh, mặt khác, hạn chế bớt sự hoang vu của thiên nhiên. Như vậy, với tư cách là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội, văn hóa luôn can thiệp vào các quá trình xã hội thông qua sự đánh giá của tất cả các chủ thể xã hội, từ những cá nhân riêng lẻ đến toàn thể cộng đồng. Vũ khí của nó không chỉ là những chuẩn mực xã hội có tính chất cưỡng bức như kinh tế, pháp quyền,…mà còn là những chuẩn mực khác có khả năng điều chỉnh hành vi không bằng con đường cưỡng bức mà thông qua tự nguyện, chẳng hạn đạo đức, tôn giáo, phong tục tập quán (được thể hiện trong tập quán pháp của các tộc người). Bằng cách đó, văn hóa có khả năng tác động đến mỗi thành viên xã hội, buộc mỗi thành viên phải tỏ thái độ của mình trước mỗi sự biến đổi xã hội. Và như vậy, văn hóa nói chung, văn hóa các dân tộc thiểu số nói riêng, vừa là sản phẩm của phát triển xã hội vừa là động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Ở đây, cũng cần nhìn nhận một mặt khác của vấn đề này: đứng trước áp lực của thiên nhiên trong điều kiện chậm tiếp cận với các nền văn minh, con người không khỏi choáng ngợp bởi sức mạnh thiên nhiên, bởi thế, trong quá trình vận động và phát triển đã không khỏi rơi vào một một số tập tục lạc hậu.
Trong sự tương tác với nền văn minh hiện đại, văn hóa truyền thống có thể bị chèn ép, bị phủ định bởi những thành tựu của chính nền văn minh, và trong nhiều trường hợp, văn hóa đã phản ứng lại và sự phản ứng này đôi lúc còn có thể cản trở những bước tiến của xã hội. Đối với phần lớn các dân tộc thiểu số, cái khung xã hội bản làng và không gian văn hóa rừng có vai trò quan trọng trong việc sản sinh, duy dưỡng bản sắc văn hóa. Cụ thể là, nhiều yếu tố văn hóa truyền thống tích cực lại được phát huy tốt trong không gian đó. Sự ứng xử với rừng đã trở thành nét văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số ở đây. Vì vậy, các chính sách phát triển kinh tế, các hình thức văn hóa mới triển khai phải trên cơ sở nghiên cứu nét đặc trưng đó.
3.2. Vấn đề chủ trương, chính sách
Đồng bào các dân tộc thiểu số hầu hết định cư ở các vùng rừng núi cao, biên giới; là những vùng chiến lược của quốc gia về nhiều phương diện, nhưng cũng có thể nói, về nhiều phương diện, đây thường cũng là những khu vực còn rất nhiều khó khăn. Muốn kế thừa và phát huy được những yếu tố tích cực, hạn chế được những tác động tiêu cực của văn hóa truyền thống đồng bào các dân tộc thiểu số nơi đây, bên cạnh sự vươn lên mạnh mẽ từ nội lực thì việc xây dựng một hệ thống chính sách và giải pháp thực hiện chính sách phù hợp là cần thiết. Chính sách phải trở thành động lực mang tính chiến lược chứ không chỉ là giải pháp tình huống, tạm thời. Nó phải là yếu tố tạo nguồn lực để thực hiện các chương trình phát triển. Vấn đề thực hiện các chính sách đối với đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới hải đảo và đặc biệt, đối với đồng bào người dân tộc thiểu số đang là vấn đề cần được bàn thêm. Câu chuyện “con cá hay chiếc cần câu” không còn mới nhưng chưa hề cũ về chính sách hỗ trợ và đầu tư trong các chương trình và dự án về kinh tế - xã hội. Cần phải khẳng định rằng, những chính sách và dự án hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức xã hội trong thời gian qua đã góp phần làm thay đổi diện mạo của nhiều địa phương các khu vực miền núi, hải đảo, vùng định cư tập trung của đồng bào các dân tộc thiểu số. Cuộc sống của các cư dân những vùng này được cải thiện một cách rõ rệt. Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải thừa nhận một sự thật là trong thời gian qua, nhiều chính sách hỗ trợ chủ yếu là để tháo gỡ những vấn đề phức tạp đang diễn ra mà chưa chú ý nhiều đến việc ngăn ngừa để không diễn ra vấn đề đó, thậm chí sự hữu khuynh trong vận dụng đã làm hạn chế hiệu quả của chính sách hỗ trợ và đầu tư, phát sinh hiện tượng tiêu cực trong quá trình thực hiện, từ đó tạo nên tâm lý hoài nghi và ỷ lại trong đối tượng thụ hưởng. Thiết nghĩ, chính sách hỗ trợ phải làm cho người thụ hưởng thấy trách nhiệm của sự thụ hưởng chứ không phải chỉ là quyền được thụ hưởng. Muốn vậy, trước hết phải tạo được nguồn nhân lực tại chỗ, và nòng cốt của nguồn nhân lực này chính là đội ngũ giáo viên và cán bộ cơ sở người dân tộc thiểu số. Đội ngũ này phải đủ mạnh về năng lực tổ chức quản lý và năng lực chuyên môn. Họ phải là chủ nhân của việc tổ chức thực hiện các chính sách chứ không phải chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách. Và vì vậy, cần thiết phải có những giải pháp cụ thể cho việc đào tạo cán bộ cơ sở và nhân lực lao động người dân tộc thiểu số thuộc nhiều lĩnh vực và cấp độ khác nhau. Đây là lực lượng quan trọng góp phần nâng cao trình độ văn hóa cho đồng bào các dân tộc bản địa, giúp họ nhận thức một cách đầy đủ về các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước; hiểu được những nét tương đồng và đặc trưng về văn hóa của các tộc người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời đây cũng là lực lượng góp phần đưa các chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống của chính đồng bào họ.
3.3. Vấn đề nghiên cứu khoa học và vận dụng trong thực tiễn
Thời gian qua, các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu quan trọng và có giá trị cao về phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có nhiều công trình về lĩnh vực văn hóa. Chúng ta trân trọng tấm lòng và trách nhiệm của các nhà khoa học đã dành nhiều công sức và trí tuệ cho các công trình; đã góp phần đánh thức tiềm năng và những giá trị to lớn của các nền văn hóa được hình thành, phát triển từ hàng nghìn năm mà đã có lúc bị lãng quên do chiến tranh và những lo toan khác của đời sống. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực đó, chúng ta cũng phải nhìn nhận một thực tế là, chính một số công trình khoa học cũng tạo nên một cách nhìn khác về sự đầu tư nghiên cứu văn hóa các dân tộc thiểu số nói riêng và văn hóa các vùng miền núi nói chung. Nhiều công trình nói về giá trị của văn hóa truyền thống các dân tộc khá chung chung, rồi đặt ra vấn đề bảo tồn, phát huy một cách đầy bức xúc nhưng lại thiếu những công trình làm rõ đâu là giá trị đích thực, cần được bảo tồn và phát huy, đâu là hệ quả của những tồn tại của quá trình xã hội nhất thời, nay đã trở thành lực cản cho sự phát triển. Đọc qua một số công trình với những tiêu đề “bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số A, dân tộc thiểu số B,…”, chúng ta đều thấy tình hình đó. Mỗi đề tài đều đề cập đến những giải pháp“bảo tồn và phát huy”và cũng đều có một đề xuất khá giống nhau, đã trở thành “nét truyền thống” là“đưa hoạt động văn hóa đó về với thực tiễn sinh hoạt cộng đồng” mà ít thấy những đề xuất cụ thể mang tính thực tiễn, có tính khả thi.
Như đã đề cập ở trên, văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số về cơ bản là văn hóa rừng và văn hóa nông nghiệp gắn với nương rẫy. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hiện nay, chúng ta không thể phá cà phê, cao su và những cây công nghiệp có giá trị kinh tế khác để trồng lại rừng, trồng lúa rẫy; không thể để đồng bào vào rừng nguyên sinh ở khu bảo tồn với một số lượng cây rừng còn lại quá khiêm tốn để đưa đồng bào trở lại không gian văn hóa xưa nhằm thực hiện các nghi lễ truyền thống một cách thường xuyên. Chúng ta không thể để đồng bào quay lưng lại với văn hóa truyền thống nhưng cũng không thể để họ phải quay mặt với đời sống văn minh. Các nhà khoa học và các nhà quản lý cần tìm ra giải pháp bảo tồn, nhằm phát huy những giá trị đó đồng hành với việc xây dựng đời sống văn hóa mới. Theo suy nghĩ của chúng tôi, trước hết, chúng ta phải ưu tiên cho những công trình khoa học nhằm khẳng định những giá trị đích thực của văn hóa để nghiên cứu bảo tồn, phát huy; xác định những yếu tố hủ tục, lạc hậu để hạn chế và tiến tới xóa bỏ. Cần phải có nhiều hơn những công trình khoa học để tìm ra tiếng nói chung trong cộng đồng đồng bào về những vấn đề liên quan đến văn hóa truyền thống của họ trên cơ sở giúp họ nâng cao năng lực nhận thức, tính trách nhiệm xã hội, tránh cực đoan, bảo thủ. Chúng tôi cho rằng, những giá trị mang tính chuẩn mực về đạo đức, hành vi ứng xử mang yếu tố tích cực được thể hiện trong tập quán pháp của các dân tộc thiểu số trên cơ sở phù hợp với những quy định của luật pháp Nhà nước sẽ được tạo điều kiện để phát huy ngay trong sinh hoạt cộng đồng. Những sinh hoạt văn hóa mang tính chất nghi lễ mà không còn môi trường diễn xướng có thể duy dưỡng và phát huy trong hoạt động du lịch mà đồng bào dân tộc thiểu số chính là những người tổ chức các hoạt động đó. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9, BCH Trung ương Đảng Khóa XI cũng chỉ rõ: “Xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế”2 “Phát triển công nghiệp hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa”3. Nếu ngành du lịch có được chiến lược kinh doanh trên cơ sở những giá trị văn hóa truyền thống thì việc bảo tồn và phát huy những giá trị ấy hoàn toàn có thể làm được. Chúng ta thấy, nhiều quốc gia họ đã thành công.
T.V.D
______________
CHÚ THÍCH:
(1), (2), (3): Trích Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9, BCH Trung ương Đảng Khóa XI
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa, tộc người. NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
2. Georges Condominas (1983), Không gian xã hội vùng Đông Nam Á (Bản dịch của Ngọc Hà, Thanh Hằng). NXB Văn hóa, Hà Nội.
3. Lưu Hùng (1994), Buôn làng cổ truyền xứ thượng. NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
4. Nguyễn Văn Huy (2001), Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam. NXB Giáo dục.
5. Phan Đăng Nhật, Vũ Ngọc Bình (1999), Luật tục Jrai. Sở Văn hóa- Thông tin Gia Lai.
6. Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn, Nguyễn Hữu Thấu (1996), Luật tục Êđê. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
7. Ngô Đức Thịnh (chủ biên, 1998), Luật tục Mnông. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
8. Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm, BCH Trung ương Đảng Khóa VIII, về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nước (NQ số 03-NQ/TW, ngày 16/7/1998).
9. Báo cáo Hội nghị Tổng kết 15 năm Nghị quyết Trung ương 5 Khóa VIII, ngày 15 - 01- 2014 do Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức.
10. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9, BCH Trung ương Đảng Khóa XI về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước (NQ số 23-NQ/TW, ngày 09/6/2014).









