Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 18/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Tư duy lý luận văn nghệ những năm 1933 - 1939 và vai trò chủ xướng của Hải Triều1

Trên văn đàn và diễn đàn những năm 30 (thế kỷ XX), Đảng ta đã lãnh đạo có hiệu quả cuộc tranh luận giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật. Đây là cuộc đấu tranh quyết liệt, kéo dài nhiều năm, huy động một lực lượng đối đáp nhau không nhỏ, với nhiều luận giải sắc bén. Tại sao có cuộc đấu tranh này? Bối cảnh sự ra đời của nó?

- Sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin với học thuyết: duy vật biện chứng là duy vật lịch sử. Học thuyết Mácxít đã ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến những nhà hoạt động chính trị của Đảng ta vào những năm 30 trở về sau, đồng thời là ngọn đuốc chiếu sáng cho tư duy lý luận trong học thuật, trong văn chương, nghệ thuật của nhiều nhà hoạt động văn hóa nổi tiếng thời kỳ đó, tạo dựng một nền triết học Mácxít được giới khoa học, kể cả khoa học tự nhiên thừa nhận.

- Văn hóa Đông Tây có cơ hội giao lưu, biến thông cũng là thời gian có nguy cơ nẩy nở bao nhiêu ngụy thuyết duy tâm, thần bí làm tác hại xã hội như một loại nha phiến.

- Học thuyết Mácxít là kim chỉ nam cho hành động, cho hoạt động thực tiễn vừa mở đường cho loài người xây dựng một xã hội mới, đánh đổ những khuynh hướng duy vật thô sơ, máy móc, dẫn tới chủ nghĩa giáo điều mất đường tiến hóa.

- Ảnh hưởng của lý luận và mỹ học Mácxít vào ba thập niên đầu thế kỷ XX đối với tư duy lý luận văn nghệ nước nhà phải kể đến cuộc tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh. Cái khác nhau giữa hai phái khá rõ, khác nhau về nhận thức, về quan điểm triết học, về tư duy thực tiễn, về phương pháp luận và trình độ cảm thụ thẩm mỹ, nhưng về văn hóa tranh luận, thì họ đều có cử chỉ hòa nhã, tôn trọng nhau, vì văn hóa dân tộc và quốc văn nước nhà, v.v...

Trong cuộc đấu tranh này, phái duy vật mà vai trò “chủ xướng” của Hải Triều có vị trí to lớn, quyết định. Các đồng chí của ông đều là những chiến sĩ nhiệt huyết, có tri thức lý luận trên mặt trận tư tưởng và văn hóa. Đề tựa cho cuốn Duy vật và duy tâm của Hải Triều, Phan Văn Hùm “tán dương cái thuyết biện chứng phép duy vật mà ông đã theo và tôi đương học” (tập 3, tr.273)2. Hai ông đều là môn đệ của triết thuyết ấy, tuy chưa có điều kiện để đọc nhiều, nhưng kinh nghiệm và sự khẳng định đó là thuyết duy nhất dẫn tư tưởng loài người vào con đường sáng suốt. Phan Văn Hùm viết tiếp: Ngày nay khoa học và triết học vẫn song hành phát triển, hỗ trợ lẫn nhau như E.Meyersong đam mê nhiều ngành khoa học, H.Begrson học giải phẫu, E.Le.Roy theo tín ngưỡng Chúa Trời, mà vẫn dạy vật lý v.v... Chính cái học thuyết biện chứng duy vật đã “nhận thấy chỗ nông nổi và ngụy biện” núp sau cái thâm ý của Phan Khôi, mà thực chất là di hại của một nhà học giả lạc lối (tập 3, tr272, 273). Hải Vân với lòng tin quả quyết: Duy tâm hay duy vật là một quyển ABC (tức là quyển sách phổ thông triết học) viết bằng quốc văn của nền triết học mới. Nền triết học ấy là kim chỉ nam dẫn đạo loài người... Không nay thì mai, nó sẽ được liệt vào kho sách mới, đắc danh của anh em thanh niên (tập 3, tr. 500). Còn Hồ Xanh coi cuốn sách nói trên như chiếc máy thu thanh, đã thu tiếng sóng dồn dập nhân loại phương Tây từ đầu thế kỷ XIX.

Nhờ cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng mà trong nhiều cuộc tranh luận về nghệ thuật đương thời, các đối tượng đối lập phải chịu thua cuộc. Thiếu Sơn phải ngã mũ cúi chào. Phan Khôi phải “bỏ sào huyệt mà chạy với tàn quân. Với tư cách là chủ soái của phái duy tâm, tiểu phẩm: Văn minh vật chất và văn minh tinh thần không đủ sức chống đỡ đối phương vì những sai lầm về tính dân tộc, tâm lý mặc cảm tự ti về tương lai văn hóa dân tộc, rút cuộc đơn lẻ, nên đã quy hàng, im lặng trong nhiều năm. Phan như người sẩy chân giữa hồ nước, chỉ còn bấu víu vào những ảo thuyết của Khổng Tử, nhưng ông vẫn đuối sức, “lực bất tòng tâm”. Và về sau cả Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư và nhiều nhà lý luận khác, nếu coi nghệ thuật là thuần túy nghệ thuật, chỉ hiểu nghệ thuật là Cái đẹp (Cho rằng cái đẹp dính đến Cái có ích thì không còn nghệ thuật nữa như quan niệm hư vô của Theophine Gautier xướng lên giữa thế kỷ XIX) đều bị phái nhân sinh phê phán, công kích đến cùng.

Cuộc đấu tranh nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh bắt đầu từ chỗ hụt hẫng triết học duy vật, và bóp méo mỹ học thực tiễn của phái vị nghệ thuật. Trong phạm vi đề tài, chúng tôi dừng lại ở mấy nội dung sau:

- Cơ sở triết học của cuộc tranh luận sơ khai là chủ nghĩa duy lý bởi “duy lý là của cải mà thế giới chia đều cho mọi người, được ứng dụng vào nhân sinh”

- Văn học, nghệ thuật và sự tiến hóa nhân sinh;

- Văn nghệ sĩ và xã hội;

- Chủ nghĩa tả thực trong văn chương, nghệ thuật.

Trong bài: Sự tiến hóa của văn học và sự tiến hóa của nhân sinh (1933), ngoài trừ một số nhận định có phần hẹp, cực đoan (như coi chủ nghĩa cổ điển là chủ nghĩa cấm dục, về sau bắt tay với chủ nghĩa hưởng lạc của giai cấp thống trị, quý tộc, tăng lữ, chủ nghĩa lãng mạn là của nông nô và thị dân, v.v...), còn nói chung, mối quan hệ giữa dòng chảy văn học và nhân sinh có sự phát triển tương ứng. Văn học là sản phẩm của xã hội, cho nên văn học cũng tùy theo sự phát triển của xã hội mà biến đổi, mà mất còn. Định nghĩa này có chỗ còn bàn cãi, nhất là sự phát triển nghệ thuật không phải lúc nào cũng tương ứng với điều kiện kinh tế - xã hội như định nghĩa của Ph. Angghen.

Văn luận chiến của Hải Triều thường sắc bén, trí tuệ, tính thực tiễn trong đối sánh, nên đã làm cho đối phương bối rối. Ví dụ đoạn sau nói về mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật và kinh tế - nhân sinh. “Văn học không có chất siêu nhiên bạt tánh”, đứng trên các chế độ xã hội, không đứng ngoài hiện trạng kinh tế. Nếu như vậy thì “văn học chỉ là món thần bí trên mây xanh, mà mấy nhà văn sĩ hóa ra những ông tiên con ở trong đào nguyên động”. Về thiên tài nghệ thuật, nhà lý luận cũng có những định nghĩa rất lôgích xuất phát từ nhân học, tâm – sinh lý học để đúc kết thành bốn hạng, mà hạng thần kinh chất (melancolique) nhiều, tất là người hay đa tình, đa cảm, có xu hướng năng khiếu nghệ thuật (tập 2, tr.359).

Mối quan hệ giữa nhà văn và cuộc sống xã hội được Hải Triều biện giải có sức thuyết phục. Trong bài Văn sĩ và xã hội (1937), khi dẫn ra ba nhà văn lớn, cũng là ba bậc thầy của nền văn hóa mới: M.Gorki, R.Rôlăng, Henri Bacbuyt, những tài năng của thế kỷ đã cống hiến cho xã hội những tác phẩm để đời. Sứ mệnh văn chương của họ được ví như những cây đại thụ làm xanh hóa cuộc đời vốn luôn biến đổi và tiến hóa. Trong quan hệ nghệ thuật và sự sinh hoạt xã hội (1935), để đáp lại những luận điểm sai trái, nửa vời, thiếu cơ sở mỹ học Hoài Thanh và Hải Triều có nhiều tranh luận: “Hỏi ông cái đẹp trong nghệ thuật nằm ở đâu? – Cái đẹp ở trong những câu ngộ nghĩnh, có ý tứ, là những câu văn bóng bẩy, nhẹ nhàng, du dương, v.v..., vậy còn cái “cốt truyện, cái nội dung (Le fond) của tác phẩm, ông cho thuộc “tính cách phụ”, “hình thức tạm thời”?! Ông bàn về nghệ thuật mà chưa hiểu nghệ thuật là cái gì? – Không, ông ạ, khi nói đến nghệ thuật, ông phải chú ý đến cả hai phần: hình thức (forme) và nội dung (fond). Hai cái phân tích ấy đắp đổi, cái nào là tạm thời, cái nào là phụ thuộc (tập 2, tr.411). Khi nói đên nghệ thuật, văn chương, Hoài Thanh bỏ qua phương diện xã hội, phương diện nhân sinh... thì chẳng khác nào trước một bức vẽ, ông chỉ chú ý đến màu nước thuốc, còn ngoài ra ông bỏ hết. Tôi xin thưa, màu nước thuốc thì chưa phải là bức tranh (tập 2, tr. 422).

Hải Triều là nhà lý luận Mácxít đầu tiên khám phá chủ nghĩa tả thực xã hội trong văn chương khi nghiên cứu một số tác phẩm của Lan Khai (như Lầm than); của Nguyễn Công Hoan (như Kép Tư Bền) dựa trên cơ sở tư duy triết học duy vật, vị nhân sinh, vị xã hội. Mở đầu bài Đi tới chủ nghĩa tả thực trong văn chương – Những khuynh hướng trong tiểu thuyết (1939), tác giả phê phán xu hướng tự nhiên chủ nghĩa, bắt hiện thực phục vụ mình, coi “văn chương là độc lập” đứng trên mọi hiện tượng xã hội. Phần còn lại, ông nhấn mạnh ba điều: Tư tưởng lớn của một tác phẩm chính là sức khái quát nghệ thuật, rút ra một triết lý, nêu lên một ý nghĩa cho nhân sinh; Trách nhiệm của nhà văn không phải là kẻ ngồi trong tháp ngà nhìn đời, mà “nhà văn là kỹ sư của linh hồn” (lời M.Gorki). Qua kinh nghiệm và tài năng của nhà văn hiện thực nước Pháp: Homere dơ Balzac, ông rút ra một định luật: Văn học là trường tồn, là sản phẩm của xã hội, chứ không phải là cái loa phát ngôn của chính trị hay tôn giáo, nó bao giờ cũng mang ý nghĩa nhân sinh. Ở chỗ này chúng tôi thấy quan điểm của Hải Triều gần với nhà lý luận Bùi Công Trừng: “nghệ thuật văn chương là sản phẩm của con người, của thời đại. Nó cũng giúp một phần trong công việc cải biến con người” (Bàn về văn nghệ, 1939); Cần xây dựng một nền văn học có nội dung xã hội chủ nghĩa và theo hình thức dân tộc (báo Đông Dương).

Nói nghệ thuật cải biến xã hội, cải tạo con người là đề tài rất mới, mà theo phỏng đoán của chúng tôi bắt nguồn từ thuyết duy lý thực tiễn của R.Descartes, mặc dầu cả hai ông: Bùi Công Trừng và Hải Triều có thể chưa có điều kiện tiếp cận với những luận điểm của nhà triết học nổi tiếng, nhà toán – vật lý hàng đầu của Pháp ở thế kỷ XVII. Từ tư duy thực nghiệm, các nhà khoa học không chỉ đã thoát khỏi cảnh tù hãm bao thế kỷ trong bốn bức tường của Giáo hội, mà người ta đã bắt đầu chú ý logic học và toán học, nó có hai giá trị: đúng và sai; nay thêm một giá trị nữa là xác suất (vừa đúng, vừa sai). Từ đây, khoa học tự nhiên xâm nhập vào các ngành khoa học xã hội, nhân văn, nghệ thuật học, v.v...

Văn minh châu Âu từ thế kỷ XVIII trở đi, mặt nào cũng có những thành tựu rực rỡ nhờ Bàn về phương pháp luận của Descartes. Trong giao lưu Pháp – Việt, nhất là vào những năm đầu thế kỷ XX cho đến 1945 chắc chắn phương pháp luận của Descartes được coi là công cụ hữu hiệu để đến với thực tiễn. Phương pháp luận tìm ra kiến thức, bắt buộc khi khảo cứu một vấn đề ngoại giới đều phải nói đến nhu cầu (besion), năng lực (capacité), hành động (action) như khoa học thế giới vẫn làm hiện nay.

KẾT LUẬN

Với những trước tác của Hải Triều và nhóm các nhà lý luận, nhà văn hóa thuộc khuynh hướng Mácxít của ông, tư duy lý luận của Đảng ta, trong đó có tư duy lý luận văn nghệ Mácxít đã chiếm lĩnh một vị trí khiêm nhường, trên diễn đàn và văn đàn, nhưng là bước khởi nguyên cho một thời kỳ “đổi mới”: Đổi mới về tư duy, về nhận thức, về tầm nhìn thời cuộc, trả lại cho văn học nghệ thuật chức năng xã hội, bản thể văn chương, thiên chức nhà văn, thị hiếu bạn đọc, công chúng nghệ thuật trong thời kỳ “đêm hôm trước” của Đề cương văn hóa 1943. Từ đây Đảng ta không chỉ có hệ thống tư duy lý luận văn nghệ mới, đủ sức, đủ bản lĩnh để tranh thắng với mọi hư thuyết dù chúng mọc lên từ mảnh đất nào. Tôi nhớ lại những câu nói đầy sức thuyết phục của V.I.Lênin: Trong mọi cuộc tìm kiếm ở cuộc đời này, thì việc tìm kiếm lý luận chân chính là khó khăn nhất. Mọi ngụy thuyết lý luận đều sống rất dai. Đủ biết, để có một Hải Triều – tài năng, đức độ và lòng trung thành với dân với nước, sự tri ân công lao của ông không chỉ dừng lại ở lý thuyết, quan trọng và hiệu lực là tư duy lý luận của ông đi vào cuộc sống hôm nay, nhất là đời sống sáng tạo, lý luận – phê bình văn nghệ.

H.S.V

 

________________________

1 Tên thật là Nguyễn Khoa Văn (1908 - 1954) nhà lý luận phê bình, nhà báo cách mạng. Hoạt động chính trị khi còn đi học, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương 1930. Công khai tuyên truyền chủ nghĩa Mác và văn hóa tiến bộ trên diễn đàn, báo chí. Người đầu tiên phổ biến chủ nghĩa Mác trên lĩnh vực học thuật, nghệ thuật. Bị bắt nhiều lần. Sau cách mạng tháng Tám, ông giữ nhiều chức vụ trọng trách: Giám đốc Sở Tuyên truyền Trung Bộ, Giám đốc Sở Tuyên Truyền liên khu IV. Ông viết không nhiều, nhưng tiếng vang lớn. Cuốn Duy tâm và duy vật (1936), Văn sĩ xã hội (1937) và một số bài báo chung quanh hai cuộc tranh luận nói trên. Sau Cách mạng có cuốn Chủ nghĩa Mác phổ thông (1946) và tuyển tập Về văn học và nghệ thuật (1967) do Hồng Chương biên soạn.

2 Những đoạn trích dẫn trong bài, chúng tôi lấy trong bộ sách: Tuyển tập phê bình văn học Việt Nam, 5 tập; NXB. Văn học, 1997, chỉ ghi tập và số trang.

Hồ Sĩ Vịnh
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 264

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

19/04

25° - 27°

Mưa

20/04

24° - 26°

Mưa

21/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground