Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 18/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Truyện ngắn Cao Duy Sơn trong mạch nguồn truyện ngắn dân tộc thiểu số đương đại

TCCV Online -  1. Kế thừa và phát huy giai đoạn trước, truyện ngắn miền núi (là những sáng tác nghệ thuật viết về đề tài miền núi trong văn học Việt Nam) sau 1986 đã làm một cuộc bứt phá và đi vào hội nhập cùng với dòng chảy của truyện ngắn Việt Nam đương đại. Truyện ngắn miền núi đương đại có được khuôn diện hiện đại, với một gia tốc rất lớn, với nhiều thành tựu đáng ghi nhận chính là nhờ có một cuộc “chạy tiếp sức” của nhiều thế hệ nhà văn người dân tộc lẫn người kinh. Những nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp, Mỹ như Triều Ân, Chu Thanh Hùng, Mã A Lềnh, Lò Văn Sĩ, Nông Viết Toại, Ma Văn Kháng, Tô Hoài, Nguyên Ngọc… nay vẫn dẻo dai, cần mẫn tiếp tục sáng tác và có nhiều đóng góp đối với mảng truyện ngắn viết về đề tài này. Đồng thời, một đội ngũ viết trẻ hùng hậu cũng đã được hình thành từ sau đổi mới, trải khắp cả ba miền Bắc, Trung, Nam, có cả nam giới lẫn nữ giới. Đội ngũ trẻ có sự táo tạo, mạnh dạn tìm tòi, sáng tạo trong lối viết, vì vậy đã đem lại cho truyện ngắn miền núi đương đại một sắc diện mới. Số lượng truyện ngắn và tuyển tập truyện ngắn ra đời ào ạt. Có truyện ngắn và tuyển tập truyện ngắn được nhận giải thưởng từ các cuộc thi hoặc giải thường niên của Hội nhà văn, có những truyện ngắn và tập truyện ngắn không được giải thưởng nhưng cũng được dư luận quan tâm, gây tiếng vang đối với bạn đọc, giới nghiên cứu như Hoàng Hôn của Hà Trung Nghĩa, Ngọt đắng vị Mường của Hà Lý, Sự tích một câu nói của Bùi Minh Chức, Thời gian xanh của Hoàng Luận, Người đánh dấu trên núi Suối Mây của Hoàng Hữu Sang, Kỉ niệm về một dòng sôngNgựa hoang lột xác của Đoàn Lư, Hoa míaLời sli vắt ngang núi của Bùi Thị Như Lan, Cô gái nhặt bông gạo của Hữu Tiến, Nước mắt của đá của Hà Thị Cẩm Anh, Hai người trở về bản của La Quán Miên, Lũ núi của Kha Thị Trường, Con rắn màu xanh da trời của Hinh Niê, Suối của rừng của Thanh Mai, Động rừngHồn ma núi của Kim Nhất, Chăm Hri của Trà Vigia… Trong dòng chảy chung của văn học miền núi đương đại, Cao Duy Sơn là một trong những gương mặt tiêu biểu, xuất sắc và đã tạo được dấu ấn riêng trong lòng người đọc. Tính từ năm 1984 khi Dưới chân núi Nục Vèn lần đầu tiên xuất hiện trên mặt báo, cây bút văn xuôi sung sức Cao Duy Sơn có thể tự hào về những thành công trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của mình. Ngót gần ba mươi năm, Cao Duy Sơn đã sáng tác được năm cuốn tiểu thuyết, đó là Người lang thang, 1992; Cực lạc, 1995; Hoa mận đỏ, 1999; Đàn trời, 2006; Chòm ba nhà, 2009, và hàng chục truyện ngắn khác được tuyển tập thành bốn tập truyện ngắn. Nếu so với các nhà văn (người Kinh lẫn người dân tộc) cùng thời viết về đề tài miền núi thì con số ấy không phải là nhiều nhưng cũng đủ để ghi nhận khả năng sáng tạo, sự đam mê, yêu nghề, đầy tâm huyết, đầy trăn trở trước thế sự nhân sinh của nhà văn Cao Duy Sơn. Những đóng góp lớn của Cao Duy Sơn đối với đề tài viết về miền núi đương đại là không thể phủ nhận, vì vậy chúng ta cần có một cái nhìn tổng thể nhằm đánh giá lại những thành tựu đã giặt hái được trong quá trình sáng tác, đặc biệt là truyện ngắn viết về đề tài miền núi đã có những đóng góp nhất định đối với sự phát triển của văn xuôi các dân tộc miền núi đương đại.

2. Cao Duy Sơn là bút danh của nhà văn Nguyễn Cao Sơn. Anh sinh ra trong một gia đình cha là người Kinh, mẹ người Tày. Ngoài sự thừa hưởng hai dòng văn hóa của hai dân tộc Kinh - Tày, Cao Duy Sơn còn được dưỡng nuôi bởi nguồn mạch trầm tích văn hóa lịch sử lâu đời của vùng đất “dồi dào sức sống bền lâu”: Cô Sầu - vùng đất cổ thuộc huyện Trùng Khánh, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Cao Bằng. Cô Sâu là nơi in dấu tuổi thơ, gắn bó với những kỷ niệm buồn vui, ân nghĩa quanh đời, vì vậy địa danh này xuất hiện dày đặc trong tác phẩm của Cao Duy Sơn. Nhà văn họ Cao đã từng khẳng định rằng: “Tôi sinh ra và lớn lên ở thị trấn Cô Sầu (huyện Trùng Khánh, Cao Bằng). Đó là một thị trấn cổ rất nổi tiếng. Nghiệp văn chương của tôi cứ bám lấy thị trấn Cô Sầu mà khám phá, viết mãi vẫn chưa thấy đủ, chưa thấy thấu cái tầng sâu văn hóa tiềm ẩn ở vùng đất này. Tôi viết như một sự trả nợ, trả nợ quê hương, trả nợ những người đã sinh ra mình, bè bạn, xóm giềng… Cả đời tôi, sẽ vẫn là những cuộc khám phá về Cô Sầu với những con người miền núi chân chất”2. Mảnh đất và con người Cô Sầu chính vì thế đã trở thành một phần “máu thịt”, “mang một sứ mệnh văn chương” không thể thiếu trong đời người và hành trình sáng tạo nghệ thuật của Cao Duy Sơn. Nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam nhận xét rất đúng khi cho rằng tác phẩm của Cao Duy Sơn đã “đem đến cho người đọc mảng sống đậm đặc, tươi sáng về những con người miền núi, vừa cổ kính vừa hiện đại mộc mạc, chân chất. Không để đánh mất mình trong hoàn cảnh éo le, đau đớn. Với bút pháp không khoa trương, không màu mè, Cao Duy Sơn đã dựng lên một loạt chân dung với những đường nét, góc cạnh riêng biệt nhưng rất đỗi hồn nhiên, dung dị, tạo nên sức hút với người đọc”11. Năm 1984, Cao Duy Sơn chính thức bước vào làng văn với đứa con đầu lòng là truyện ngắn Dưới chân núi Nục Vèn. Đến 1996, Cao Duy Sơn mới ra mắt tập truyện ngắn Những chuyện ở lũng Cô Sầu. Tập truyện ngắn này đã được Hội Nhà văn tặng thưởng năm 1997. Trên đà thành công đó, năm 2002 Cao Duy Sơn cho ra đời tập truyện ngắn Những đám mây hình người. Tập truyện được giải B của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2003. Năm 2007, Cao Duy Sơn tiếp tục trình làng tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối. Tập truyện gồm bảy truyện ngắn nhỏ, dày 190 trang được Cao Duy Sơn chọn lọc những tác phẩm sáng tác từ năm 2002 đến 2006. Ngay sau khi ra mắt độc giả, Ngôi nhà xưa bên suối đã gây sự chú ý đối với bạn đọc và giới nghiên cứu, phê bình. Phan Chinh An đánh giá rất chính xác khi cho rằng, tác giả của Ngôi nhà xưa bên suối đã làm “một cuộc hành hương tinh thần tìm về những vẻ đẹp xưa của núi Phja Phủ, của lũng Cô Sầu với ước mơ cháy bỏng, giới thiệu được vùng quê nghèo khó ấy, ghi danh nó trong văn học”1. Ngôi nhà xưa bên suối là tập truyện ngắn duy nhất xứng đáng được nhận liên tiếp hai giải thưởng lớn của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2008 và Giải thưởng Văn học Asean của Hoàng Gia Thái Lan năm 2009. Giải thưởng không chỉ là sự ghi nhận tinh thần trách nhiệm, trái tim nhân ái trong quá trình sáng tác, mà còn động viện, kích lệ để nhà văn họ Cao tiếp tục cặm cụi trên cánh đồng chữ nghĩa. Trên đà những mùa giặt bội thu đó, Cao Duy Sơn tiếp tục ra mắt bạn đọc tập truyện ngắn Người chợ vào năm 2010. Tập truyện ngắn này vẫn tiếp tục nguồn mạch đề tài miền núi, nhưng lại có cách khám phá, thể hiện mới, có chiều sâu hơn, sắc cạnh hơn. Như vậy, từ khi khởi nghiệp cho đến nay, Cao Duy Sơn vẫn thủy chung “thâm canh” vùng đất Cô Sầu - Trùng Khánh. Mỗi tác phẩm của Cao Duy Sơn chính là một sự tìm tòi, khám phá, phát hiện mới, độc đáo về đời sống và con người nơi đây, giúp người đọc tiếp cận một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về vùng đất đậm đà bản sắc văn hóa truyền thống này. Cao Duy Sơn rất xứng đáng được nhận “thương hiệu” là nhà văn chuyên viết về đề tài miền núi mà bạn đọc đã vinh danh.

3. Là người con của dân tộc Tày, sống và gắn bó hơn nữa đời người với mảnh đất Trùng Khánh - Cao Bằng, vì vậy Cao Duy Sơn rất có ý thức trong việc sưu tầm, bảo tồn các giá trị truyền thống về văn hóa vật chất và tinh thần trong kho tàng văn hóa dân gian của dân tộc mình. Hiện thực đời sống và con người nơi đây hẳn nhiên chính là chất liệu, là khởi nguồn cảm hứng nghệ thuật vô tận để Cao Duy Sơn sáng tác. Đúng như nhà văn họ Cao đã tỏ bày tâm sự này trong một lần trò chuyện với nhà thơ Trần Hoàng Thiên Kim: “Khi ý thức rõ rệt về đời sống của những người Tày quê tôi, tôi lại càng tin rằng, sứ mạng của mình là phải viết về những con người, những câu chuyện nơi đây. Thực ra văn chương của tôi là những câu chuyện xảy ra của chính tôi, của những người thân, của làng mạc tôi, của cái tầng sâu văn hóa tiềm ẩn vùng đất này”3. Tiếp cận truyện ngắn Cao Duy Sơn, người đọc bị lôi cuốn bởi những nét văn hóa “tươi ròng” của người miền núi Tây Bắc với những phong tục, tập quán mang đậm dấu ấn rất riêng khác. Đặc biệt, văn hóa dân tộc Tày - địa danh này đã trở thành một phần máu thịt không thể thiếu trong cuộc đời sáng tác của Cao Duy Sơn. Gắn với không gian văn hóa ấy là những cảnh sắc thiên nhiên, những lễ hội thường niên, những phong tục, tập quán lâu đời, có nền ẩm thực phong phú và dạ dạng... Không gian thiên nhiên núi rừng, thôn bản Lũng Cô Sầu - Trùng Khánh vừa nguyên sơ, hùng vĩ, vừa thơ mộng, huyền thoại nhưng cũng lắm khắc nghiệt. Ở đấy có dãy núi Keng Sly “nổi lên những mỏm đá nhấp nhô, mang những hình thù quái dị”, có núi Phja Đán dày đặc sương mù, có suối Cun thơ mộng, hiền hòa chảy rì rào quanh năm, nước trong vắt nhìn rõ những viên đá cuội trắng, có câu chuyện lạ về nguồn gốc của người dân Cô Sầu; có vùng đất Mục Mã nơi có thầy giáo Hạc đang sinh sống, nơi có nghề duy nhất làm nghề đậu 6;tr.113. Nơi đó có dòng sông Gâm trong xanh thăm thẳm, mát ngọt; có bản Háng Vài “vẫn những tường nhà không trát áo lộ đá hộc nâu xám, mái ngói âm dương nối nhau như những toa tàu bị bỏ quên giữa thung lũng hoang lạnh”5;tr.80. Nơi đó có “con đường đá rộng hai bước chân nằm mép bên sườn núi. Phía bên phải là vách núi dựng đứng nhìn xuống mặt sông Gâm. Chỗ ngoặt của con sông dưới chân núi, dòng nước lao xuống dừng lại thăm thẳm gây cảm giác rờn rợn, lạnh lẽo”4;tr.1. Qua những địa danh nơi vùng núi Lũng Cô Sầu, người đọc cũng đã thấu thị hơn về một vùng biên ải xa xôi với bạt ngàn núi sông bồng bềnh, huyền ảo, với tình người tha thiết, nghĩa tình, giàu bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc miền núi Tây Bắc. Đúng như nhà văn Trung Trung Đỉnh đã từng nói: “Cái không khí miền núi vừa mơ màng lại vừa sâu hun hút bởi vẻ đẹp của thiên nhiên quyến rũ con người ta, lôi kéo con người ta, nâng đỡ con người ta từ chốn thâm nghiêm huyền bí của rừng già, hang thẳm, đến khi trở về với cuộc sống tự nhiên, hồn nhiên của cộng đồng”.

Lớn lên ở một vùng đất giàu truyền thống văn hóa lâu đời, Cao Duy Sơn đã thấm nhuần ý thức nguồn cội qua những tín ngưỡng, phong tục đã thành thông lệ, thể thức. Chính vì vậy, Cao Duy Sơn rất trân trọng cội nguồn văn hóa của dân tộc mình với những nét đẹp truyền thống văn hóa đa sắc mang tính đặc thù của dân tộc Tày, đậm giá trị nhân văn sâu sắc. Đó là không gian mùa xuân của vùng núi Đông Cao Bằng với tục khai vài xuân, tục gọi hồn (Súc hỷ), tục tảo mộ (Tượng trắng), tục diễn rối đầu gỗ (Hòn bi đá màu trắng), tục cướp vợ (Song sinh), lễ hội tranh đầu pháo (Hoa bay cuối trời)… Tục tảo mộ hằng năm vào mỗi độ xuân về là nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa tâm linh của người Tày. Tục tảo mộ của người Tày giống với tục tảo mộ của người Kinh, nhưng cách thể hiện lại khác với người Kinh, có dáng nét độc đáo hơn. Tục tảo mộ thể hiện sự tri ân của người sống đối với người đã khuất, góp phần gìn giữ truyền thống đạo lý của người sống đối với người chết. Cứ mỗi độ xuân về, người Tày rất lo lắng, chuẩn bị chu đáo, trang nghiêm về lễ cúng tế người đã khuất. Ngay “từ sáng sớm cả bản đã gánh xôi gà và rượu cùng những bó hương ra mộ… Đồ ăn thức uống đã bày ra trước mộ, hương ngút khói gọi hồn lên ăn. Hồn ma ăn trước, người sống ăn sau. Ăn ngay chân mả, già trẻ lớn bé đều dùng tay bốc ăn. Cổ xong rồi thì đốt tiền, cắm cờ giấy lên mộ, nắm một nắm xôi xanh đỏ để ngay đầu mả cho hành khất, ăn mày đến nhặt lộc mả. Cuối cùng thì thắp thêm một tuần hương tiễn biệt. Hẹn với hồn ngày này năm sau sẽ quay lại”6;tr.112 - 113. Khai vài xuân cũng là một tục lệ rất đẹp của dân tộc Tày ở Cổ Lâu vào dịp xuân về. Người đảm đương công việc này phải biết chữ Nôm, biết hát điệu khai vài xuân để hát chúc phúc cho mọi nhà hòa thuận, no ấm, hạnh phúc tràn đầy. Khi thời khắc giao thừa đã qua cũng là lúc người khai vài xuân khởi hành chúc phúc. Người khai vài xuân mặc bộ quần áo cũ rích, bên hông buộc một chiếc thu sáu (một loại túi miệng tròn), bên trong đựng giấy đỏ, ngực đeo lủng lẳng ống hút, lọ mực. Họ mặc bộ quần áo như kẻ ăn mày nhằm nhắc nhở mọi người khi giàu có, sung sướng phải nhớ lúc đói khổ, còn người nghèo khó hy vọng ngày mai sẽ ấm no, hạnh phúc hơn. Người đi khai vài xuân đi đến, đứng trước cửa mỗi nhà xướng lên những lời chúc và bài hát đến cho mọi người vào dịp đầu xuân. Chúng ta hãy lắng nghe lời chúc, bài hát của người khai vài xuân: “Tháng giêng năm mới đến khai xuân, chúc cho tiền bạc như nước chảy vào cửa trước, ngựa bò chen đầy cửa sau, trẻ già cùng bước vào năm mới, đều được tay áo thần tiên che chở… gạo, nước, tiền, bạc đầy nhà… vui vẻ phát tài”5;tr.188. Khi người khai vài xuân dứt lời chúc, gia chủ đón nhận lời chúc phúc, rồi biếu đáp tiền, gạo bỏ vào chiếc thu sáu. Lời chúc phúc của người khai vài xuân góp phần đem lại sức mạnh tinh thần, có thêm niềm tin yêu trong cuộc sống hằng ngày, vượt qua những vất vả, khó khăn, hướng về phía trước với hy vọng đời sống đầy tươi đẹp hơn. Diễn rối đầu gỗ (Hòn bi đá màu trắng) cũng là một tục rất độc đáo của người Tày vùng sơn cước Cô Sầu. Phải nói rằng, chính lòng tự hào thẳm sâu trong tâm hồn của người con đối với quê hương, Cao Duy Sơn mới tái hiện được không khí về trò chơi dân gian diễn đầu gỗ một cách thuần thục, say sưa đến thế, góp phần phản ảnh tâm hồn, tính cách chân thật, hồn nhiên, khỏe khoắn của người Tày: “Tiếng nhị vẫn đều đặn cất lên những đêm trăng. Âm điệu mượt mà của cây mã vĩ miết đôi dây tơ gieo vào lòng dân Cô Sầu bao cảm xúc kỳ lạ. Khi thì dạo đầu của màn một vở tuồng Phạm Tải - Ngọc Hoa theo điệu Dà hai, thiết tha như mạch ngầm con nước thoát ra từ đỉnh Phji Bjoóc tựa ngân vang từ tầng trời. Lúc đắm đuối khổ đau đến ứa máu con tim của điệu lượn then kể mối tình bi ai Nam Kim - Thị Đan tích cổ người Tày. Nhưng vẫn hứng thú nhất vẫn là khúc rộn rã của kịch Mộc tàu Hỉ thuật tuồng hát minh họa bằng những con rối đầu gỗ có một không hai ở đất Việt. Khi đó người nghe như mê mẩn với âm thanh vang lừng của kiếm thần trong tay chàng mồ côi chén đứt bảy đầu rắn quỷ, cứu muôn dân thoát khỏi lầm than. Rồi chuyện kể về “Cẩu chủa cheng vùa” chín chúa tranh vua trên đất Mục Mã…”tr.138. Phong tục chợ tình cũng là một nét văn hóa đặc sắc của người dân vùng cao phía Bắc. Chợ tình chỉ diễn ra một năm vào ngày hai lăm tháng giêng tại thị trấn Cô Sầu. Chợ tình không phải là nơi trao đổi, buôn bán và cũng không phải là nơi để những đôi trai gái gặp gỡ, tỏ tình nhau, ôn lại kỉ niệm một thời trẻ yêu nhau, mà là nơi hẹn hò của những đôi tình nhân lở dỡ, không đến được với nhau. Nét độc đáo, đặc sắc của chợ tình Âu Lâm là mọi người đến với phiên chợ không được ồn ào, không tranh đua, tranh bán, không đuổi đánh nhau vì ghen hay thù oán. Đến đây mọi bực dọc đều đã được khỏa dưới sông, mọi toan tính đều đã được cởi bỏ trên đường, chỉ đem theo con tim bồi hồi và những lời thầm thì ái ân tìm vào tai người xưa”5;tr.161. Lão Sinh và bà Ếm (Chợ tình) cũng là một đôi tình nhân lỡ dở. Lão Sinh và bà Ếm thuở thanh xuân đến với nhau, yêu nhau tha thiết, với khát vọng cháy bỏng có một mái ấm gia đình nhỏ hạnh phúc. Nhưng khát vọng ấy, ước mơ ấy của đôi tình nhân đã không trở thành hiện thực khi gia đình bà Ếm ép buộc gã cho thằng Ti - một gia đình giàu có hơn, với “đủ trâu bò, ngựa dê nhiều như trấu”. Dẫu đau khổ, xa xót vì người yêu đi lấy chồng nhưng lão Sinh vẫn không hờn giận, oán trách bà Ếm, trái lại lão càng yêu thương, ấp ủ mối tình thủy chung với bà Ếm đến trọn đời. Từ ngày bà Ếm đi lấy chồng, năm nào lão Sinh cũng tìm đến chợ tình Âu Lâm hầu mong Ếm vẫn còn nhớ mà đến như bao đôi lứa lỡ duyên khác. Nay Ếm và Sinh cũng đã ngoài tám mươi, vì vậy bà Ếm không như ngày xưa xinh đẹp, dịu dàng mà tóc đã bạc trắng, mồm lại nhai trầu nhưng trong trong trái tim của lão Sinh thì Ếm vẫn như ngày nào, vẫn nụ cười tươi như trời sáng bừng lên, như hoa xuân nở thắm. Chuyện tình lão Sinh và bà Ếm chứa đầy đau buồn, chứa đầy cách trở, chia ly nhưng nỗi buồn đau, xa xót ấy khiến người đọc thanh lọc được tâm hồn, khát khao vươn tới chân trời triết mĩ về cuộc sống hôm nay. 

Những phong tục, tập quán qua lăng kính của Cao Duy Sơn với những biểu hiện nét đặc rưng riêng, mang yếu tố tích cực, phù hợp với thuần phong mĩ tục của con người vùng cao Tây Bắc nói riêng và dân tộc ta nói chung. Song cũng còn khá nhiều những truyền thống đã trở thành hủ tục tồn tại “thâm căn cố đế” trong đời sống văn hóa của người dân tộc nơi đây. Đọc truyện ngắn Song sinh, chúng ta chứng kiến tục lệ kì quặc, lạ lẫm đang còn tồn tại nơi mảnh đất Cô Sầu - miền sơn cước Tây Bắc. Nhà văn miêu tả khá chi tiết tục lệ đối với những nàng dâu mới lấy chồng của người Tày. Theo tục lệ, khi tổ chức đám cưới cho đôi bạn trẻ kết thúc, nàng dâu vẫn ở lại nhà mẹ đẻ đến khi có thai, sắp ở cử thì nhà chồng mới cho người sang đón về. Trong thời gian ở nhà mẹ đẻ, người con dâu vẫn sang nhà chồng làm việc, đến cuối ngày lại phải tìm cách trốn về nhà mẹ đẻ để ngủ. Nếu chồng có bắt ở lại thì phải tìm cách cự đến cùng. Nếu làm đúng như vậy, nàng dâu rất được thôn bản khen, họ hàng và gia đình nhà chồng yêu quí, tôn trọng hơn. Qua những lời căn dặn của người mẹ đối với nàng dâu, người đọc cũng hiểu một phần nào tục lệ đó: “Phong tục người Tày mình là thế con à… Phải bỏ ra mười hai công sức làm việc cho khỏi mang tiếng dài tai, bữa cơm không được ăn no, xong việc lớn nhỏ phải tìm cách trốn về. Chồng chạy theo kéo tay phải chạp mã xuống mặt đường mà cự, làm thế được nhiều người khen, bên nhà chồng càng yêu quí con dâu… Khi nào có con mới được về bên đó ở hẳn”5;tr.176.

4. Vẫn là vùng đất Cô Sầu - Trùng Khánh núi rừng trùng điệp, bạt ngàn xanh ngát, nhưng ở mỗi truyện ngắn Cao Duy Sơn lại có cách khai thác, làm mới nhân vật của mình ở những góc độ khác nhau, góp phần tạo nên dấu ấn riêng khác so với các nhà văn cùng viết về đề tài này. Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn rất đa hệ, gồm nhiều loại người, có cả người già, thanh niên lẫn trẻ em, có cả phụ nữ lẫn người tật nguyền, có cả trí thức lẫn nông dân... Mỗi nhân vật là một “vũ trụ” riêng, có hoàn cảnh, tính cách, tâm hồn riêng, không ai giống ai, nhưng tựu chung, ở họ lại tỏa sáng nét đẹp của người vùng cao Việt Bắc rất gần gũi, chân chất, nhân hậu như những đóa lan rừng tỏa ngát hương thơm. Bé Na (Cuộc báo thù cuối cùng), lão Sinh (Chợ tình), lão Sấm (Người ở muôn nơi), Ki (Hòn bi đá màu trắng),... là những nhân vật hiện thân của cái đẹp, của sự hướng thiện. Họ là những con người dũng cảm, giàu đức hi sinh, thủy chung, nghĩa tình, vì vậy ở họ ánh lên một vẻ đẹp rạng ngời, tỏa sáng đầy tính nhân văn. Bé Na trong truyện Cuộc báo thù cuối cùng mồ côi mẹ từ rất sớm, sống bên người cha chuyên làm nghề thợ săn bắn thú rừng. Chính cái chết của mẹ Na do hổ dữ ăn thịt đã khiến cho bố Na - lão Vượt đau đớn, quặn thắt và muốn báo thù cho vợ mình. Sự khát khao muốn trả thù của lão “hóa thành niềm say mê như cuồng nhập vào lão từ lúc nào, lão không còn nhớ. Lão thèm khát nhìn thấy máu con thú như một thứ bệnh hoạn”5;89 - 90. Sau bao nhiêu năm vất vả kiếm tìm, lão Vượt đã phát hiện ra chính con hổ đã giết chết người vợ yêu quí của mình nay đã trở thành người bạn tốt đối với con lão - bé Na. Lúc này, lòng thù hận và ham muốn báo thù của lão Vượt đỏ rực như lửa đốt, muốn thiêu cháy cả núi rừng Keng Pảng. Thế nhưng lòng hận thù ấy của lão Vượt đã được xoa dịu khi lão nhận ra sự vô nghĩa của nó qua những giọt nước mắt trong trẻo từ bé Na. Chính sự thánh thiện, hồn nhiên của bé Na - nàng công chúa của núi rừng đã đánh thức lòng hướng thiện, thanh lọc được tâm hồn của lão Vượt. Qua nhân vật bé Na, Cao Duy Sơn muốn gửi thông điệp đến với người đọc rằng chỉ có lòng nhân ái, sự bao dung mới xóa bỏ được hận thù, mới gần gũi nhau hơn, như thế cuộc sống mới có ý nghĩa hơn và đáng sống hơn. Hạc (Ngôi nhà xưa bên suối) là một người thầy giáo rất mực nhân hậu, luôn giữ vẹn toàn chữ tâm đối với học sinh và mọi người trong cuộc sống, thế nhưng hạnh phúc, niềm vui lại không đến với thầy giáo Hạc, trái lại bị chính người học trò thân yêu đã hãm hại, khiến thầy giáo Hạc bị kỷ luật, bị hãm lương, bị luân chuyển đến trường khác giảng dạy. Mặc dù bị học trò hãm hại nhưng thầy giáo Hạc vẫn không hề oán trách, giận hờn mà âm thầm chịu đựng nỗi oan ức đó. Sự cao cả, nhân hậu còn thể hiện qua việc đứa con của thầy giáo Hạc sau bao nhiêu năm chăm sóc, dạy bảo từ nhỏ giờ đã trở về với chính mẹ ruột của mình. Dẫu đó là đứa con không cùng dòng máu của mình ra đi nhưng thầy Hạc vẫn ngày đêm mong ngóng, chờ đợi đứa con yêu quí nhất sẽ trở về với ngôi nhà xưa bên suối. Hình ảnh thầy giáo Hạc là một dấu lặng để người đọc soi mình, di dưỡng tâm hồn, khát khao vươn tới lẽ sống cao đẹp. Thim (Người săn gấu) là một chàng trai miền sơn cưới giàu lòng nhân hậu, rất mực chung tình với người yêu. Thim đến với Thón bằng cả trái tim yêu thương thắm thiết, đã từng nguyện thề suốt đời sống bên nhau không xa rời. Nhưng tình yêu ấy đã nhanh chóng vỡ tan khi gia đình Phón không chấp thuận, vì gia đình Thim nghèo hèn, không cùng đẳng cấp. Sự ngăn cản đó đã khiến Thim “đóng chặt tất cả những cánh cửa của lòng mình và để ngỏ một lối duy nhất cho tình yêu ban đầu ấy vĩnh viễn tồn tại”5;tr.27 - 28 trong lòng. Để thể hiện lời thề nguyện, sự thủy chung với Phón, chàng Thim không tìm đến người con gái khác, nguyện suốt đời không yêu, không lấy vợ. Thời gian trôi qua, mái tóc đã điểm bạc nhưng Thim vẫn không lúc nào nguôi kiếm tìm Phón dẫu chỉ là trong vô vọng. Hình ảnh ngôi nhà hiện ra trước mắt lão Thim ở cuối tác phẩm là một kiểu kết thúc truyện độc đáo: “Cánh cửa khép hờ như suốt ba mươi năm nay vẫn khép hờ như vậy, chờ ai đó đến mở ra”tr.28. Hình ảnh này đã trở thành một biểu tượng của tình yêu sắc son giữa Thim và Thón cũng như những đôi nam nữ miền sơn cước yêu nhau dở dang, tan vở vì những hủ tục, những định kiến của xã hội miền núi đem lại. Với vẻ đẹp của những tâm hồn sáng trong, giàu nhân hậu ấy, bạn đọc như đang soi mình để rồi khát khao vươn tới một cuộc sống tươi đẹp, giàu nhân văn hơn, có ý nghĩa đích thực giữa cõi nhân gian bé tí này.

            Cao Duy Sơn dành rất nhiều tâm huyết, sự yêu thương, sẻ chia đối với những nhân vật có số phận bi kịch. Chính sự bủa vây, bóc lột của bọn thống trị, của những hủ tục, tục lệ lạc hậu, của những định kiến xã hội nơi mảnh đất họ sinh ra và lớn lên đã cản trở, vùi dập bao số phận con người như Hoán (Thằng Hoán), Thim (Người săn gấu), Khuề (Âm vang vong hồn), Dồ (Hòn bi đá màu trắng), Líu (Góc trời Tây có mưa đá), Lu (Song sinh)… Hoán (Thằng Hoán) sinh ra không giống như những người bình thường khác, Hoán dị dạng đến quái gở, khiến mọi người trong làng đùa cợt, ngay những đứa trẻ con cũng xưng hô mày tao khiến Hoán xa xót, tủi hổ: “Năm tháng đi qua hết lứa này đến lứa khác chẳng bao giờ Hoán được gọi bằng anh. Hình như ai cũng có quyền gọi Hoán là thằng Hoán. Năm Hoán gần bốn mươi tuổi, những đứa con gái, con trai mới lớn cũng xưng hô “mày tao” với Hoán, mà thực ra gọi cho đúng thì chúng nó phải gọi Hoán bằng “chú”, xưng “cháu”5;tr.58. Số phận nghiệt ngã đã xô đẩy đến tận cùng của nỗi đau, của tủi hổ khi Hoán chứng kiến cảnh vợ - Làn Dì với tay thợ cả ngoại tình ngay chính trong căn nhà của mình và khi chứng kiến cảnh người vợ bội bạc trở về nhà mang đứa con không cùng dòng máu (con riêng của Làn Dì) mà Hoán từng chăm sóc, yêu thương đi cùng. Hoán lúc này tinh thần như “đang bị rơi xuống khe vực thăm thẳm giá buốt”, người lặng như “một tảng đá mồ côi” và cái lưng gù “gập xuống như sắp gãy hẳn” nhưng vẫn chấp nhận hi sinh để Làn Dì được đưa con đi, được sống bên cạnh mẹ. Líu trong Góc trời Tây có mưa đá lại một dạng bi kịch khác. Bi kịch của Líu xuất phát từ xung đột giữa hai thế hệ, hai quan niệm sống khác nhau: hiện đại - truyền thống, mới - cũ. Líu hiện thân của lối sống lệch chuẩn, không chịu sống khuôn vào phép tắc, luật lệ, tôn ti của nhà chồng. Mẹ chồng Líu chính là nguyên mẫu của văn hóa truyền thống. Chồng chết khi Líu đương tuổi còn trẻ, để lại đứa con trai và người mẹ già. Khát vọng bản năng được sống, được yêu, được hưởng thụ luôn trổi dậy trong Líu. Líu quan niệm đã là con người tất nhiên “đói thì ăn, khát thì phải uống thôi”. Chính khát vọng ấy đã đưa Líu đến mê lộ của tình yêu với Sìu: “Nàng đi đây, nàng sẽ đến với tình yêu của nàng. Thứ men lạ lùng nhất trần đời cám dỗ nàng như bùa bả, chẳng gì ngăn được nàng”tr.53 - 54. Mẹ chồng Líu vẫn thức nhận được khát vọng hạnh phúc, nhu cầu tình yêu của Líu là chính đáng, nhưng với chuẩn mực của truyền thống mà bà đã trải qua, tuân theo khiến bà không chấp nhận cách hành xử của Líu khi vượt ra ngoài lề luật đã định sẵn. Những khát khao cháy bỏng tình yêu của Líu đã bị mẹ chồng phát hiện, nên đã cản bước, trói buộc vào phận đà bàn góa phải thủ tiết thờ chồng. Hành động vượt ngưỡng của Líu đã bị mẹ chồng trừng phạt, bị một trận đòn bằng chính cây gậy rễ si - gia bảo của dòng họ nhà chồng, biểu tượng của quyền uy, chuẩn mực đạo đức truyền thống của người Tày. Qua những trang văn miêu tả về nhân vật Líu, người đọc không khỏi bận lòng trắc ẩn, đồng cảm, trăn trở trước khát khao bình dị về tình yêu lứa đôi, về mái ấm gia đình của Líu và những người phụ nữ miền sơn cước khác nữa. Như vậy, con người vùng cao trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn đầy "những gian truân số phận. Bất hạnh cứ như những giọt sương từng ngày giăng giăng qua cuộc đời họ. Những phận người sống nghèn nghẹn trong sự chờ đợi dai dẳng và vô vọng; tình yêu của họ sâu thăm thẳm nhưng lại mịt mùng, không lối thoát vì những tập tục cổ hủ, những luật lệ hà khắc ngàn đời; cuộc đời của họ cứ như một dòng sông trôi, chậm và bất tận. Mỗi câu chuyện là một nỗi đau lăn dài; in dấu lên những cuộc đời đầy sóng gió trong miền yên tĩnh ngỡ là thanh bình giữa chốn núi rừng”10.

5. Dẫu một cái nhìn lướt qua, vắt tắt nhưng cũng thực sự rất cần thiết để chúng ta nhận diện những thành tựu kinh nghiệm vô cùng quý giá về kỹ thuật viết truyện ngắn của Cao Duy Sơn. Các cây bút truyện ngắn như Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài, Thái Thị Vàng Anh… trong khi đang trở mình để bứt phá, đi tìm một lối viết hiện đại, hậu hiện đại nhằm “chối bỏ” lối viết truyền thống, thì Cao Duy Sơn vẫn neo đậu nơi cái khung truyền thống ấy. Nét đặc sắc trong nghệ thuật tự sự của truyện ngắn Cao Duy Sơn chính là sự xuất hiện phổ biến kiểu cốt truyện đơn tuyến. Kiểu truyện này được sắp xếp theo trình tự thời gian tự nhiên (biên niên). Mỗi cốt truyện thường chỉ có một nhân vật và một xung đột trung tâm, cùng hệ thống sự kiện của cốt truyện diễn biến theo quy luật nhân quả, được xoay quanh nhân vật và xung đột trung tâm đó. Những truyến ngắn như Song sinh, Thằng Hoán, Nơi đây không một bóng người, Cuộc báo thù cuối cùng, Mưa phố, Âm vang vong hồn, Dưới chân núi Nục Vèn, Hoa bay cuối trời, Ngôi nhà xưa bên suối, Người săn gấu, Hấp hối, Tượng trắng… được xây dựng theo kiểu như thế. Tuy nhiên, cốt truyện vẫn tuân thủ theo mô hình truyền thống nhưng đã có sự linh hoạt, không cứng nhắc. Sự linh hoạt ấy thể hiện trong việc Cao Duy Sơn biết làm mới trên cái nền cốt truyện truyền thống đó, biết thay đổi cấu trúc cốt truyện theo hướng lịch sử - tâm hồn, chứ không tuân theo cấu trúc lịch sử - sự kiện. Những sự kiện trình bày theo trình tự biên niên, dòng thời gian tuyến tính đều bị xáo trộn, phá vỡ, thay vào đó là những hồi ức, những giấc mơ, những huyền thoại xa xưa... Chính sự phá vở cấu trúc cốt truyện truyền thống giúp cho Cao Duy Sơn chuyển tải được bức tranh đời sống xã hội miền núi một cách đa chiều, đa diện và phong phú hơn; đồng thời đi sâu khám phá đời sống tâm lý đầy vi diệu, đa phân của người miền núi. Ngôn ngữ trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn vừa giàu sắc thái bản địa vừa thể hiện nét độc đáo, sáng tạo trong việc vận dụng ngôn ngữ Tiếng Việt. Chính sự phối kết hợp thuần thục, linh hoạt song ngữ Tày và Việt trong tác phẩm đã góp phần giúp người đọc hiểu sâu hơn về cuộc sống, về con người, về bản sắc văn hóa của dân tộc Tày. Để người đọc hiểu được ý nghĩa to lớn về phong tục Khai vài xuân trong đời sống tinh thần của dân tộc mình; đồng thời để duy trì, phát triển và giữ gìn vốn ngôn ngữ truyền thống của dân tộc, Cao Duy Sơn đã sử dụng song ngữ để miêu tả một cách chi tiết về tục khai vài xuân. Và để hiểu hết ý nghĩa nhân văn trong điệu hát khai vài xuân, nhà văn họ Cao đã chuyển tải điệu hát này bằng chính ngôn ngữ Tày chứ không phải bất kỳ một ngôn ngữ nào khác. Đây là một đoạn trong bài hát khai vài xuân: “Bươn chiêng pi mấu khai vài xuân a... ngần xèn khảu tu nả à, mò mả khảu tu lăng ơ... cần ké lục đếch khảu pi mấu à a... phù sần au khen slửa lòng dà... khảu, nặm, ngần xèn tim rườn la... cung hỷ phát sòi...”, nghĩa là (Tháng giêng năm mới đến khai xuân, chúc cho tiền bạc như nước chảy vào cửa trước, ngựa bò chen đầy cửa sau. Trẻ già cùng bước vào năm mới, đều được tay áo thần tiên che chở,... gạo, nước, tiền, bạc đầy nhà,... Vui vẻ phát tài)5;tr.221. Qua điệu hát khai vài xuân bằng tiếng Tày, người đọc dẫu không hiểu nghĩa của tiếng Tày nhưng vẫn cảm nhận được những lời cầu chúc ấy đều xuất phát từ trái tim giàu nhân ái của người dân nơi đây; đồng thời qua đó thể hiện được tấm lòng sâu nặng, gắn bó keo sơn với cuộc sống và con người miền núi Tây Bắc của Cao Duy Sơn. Trong giao tiếp, người miền núi Tây Bắc nói chung và người Tày nói riêng thường hay sử dụng những hình ảnh so sánh và liên tưởng. Kiểu diễn ngôn này rất phù hợp với lối sống, với cách cảm, cách nghĩ của họ. Họ thường mượn những hình ảnh thiên nhiên, rừng núi, suối khe... để nhằm hiển lộ cốt cách, lối sống, tâm hồn và tỏ bày tâm trạng, thân phận của mình. Miêu tả về ngoại hình của hai chị em sinh đôi Du và Sìu, Cao Duy Sơn đã sử dụng những hình ảnh so sánh, liên tưởng rất phong phú: “Du và Sìu có bề ngoài giống như hai cái cày mới, cùng loại gỗ, kích cỡ kiểu dáng đều do một người khéo tay tạo nên”5;tr.170. So sánh sự thanh sạch của một cô gái trong Những đám mây hình người: “Bây giờ em thanh sạch như nước Bó Slao ấy, thảo nào bọn đàn ông cứ bám như vắt”. Nỗi buồn, sự đau đớn của Sinh khi không được lấy Ếm trong Chợ tình: “Buồn như con suối thu cạn nước”. Tiếng cười của cô gái bị điên trong Hấp hối: “Chuỗi cười vang lên sắc lạnh như vọng từ dưới đáy giếng, giọng cười khên khàn tóa ra như xé”. Người đàn bà góa trong cơn khát vọng hạnh phúc trong Góc trời Tây có cơn mưa đá: “Áp má vào lồng ngực vồng như hai quả đồi, nang nghe rõ trái tim Sín rộn nhịp trống hội”. Hạnh phúc mãn nguyện của Dình khi được Khơ tỏ tình yêu thương: “Nàng đã có người con trai ngỏ lời, như con chim đã có đôi, có suối có bóng núi làm bạn”5;tr.95. Cao Duy Sơn còn chu chuyển cả thành ngữ, tục ngữ của dân tộc mình vào trong tác phẩm. Cao Duy Sơn mượn những thành ngữ, tục ngữ để nói lên tâm tư, tình cảm, phẩm chất của các nhân vật. Tác giả vận dụng thành ngữ, tục ngữ để nói lên tình yêu chân thành, thủy chung, không quản ngại khó khăn, thử thách khi Dình và Khơ yêu nhau trong Hoa bay cuối trời: “Dình ơi! Em không ngại nhà anh phải đi qua sông lửa, không sợ leo đèo Khau Liêu làm nhạt muối mồ hôi, anh muốn được ngỏ lời yêu, nay mai được đón em về ở chung một nhà, sướng khổ có nhau”6;tr.95. Lâm Tiến nhận xét rất đúng khi cho rằng: Chính ngôn ngữ tự nhiên, dung dị, giàu hình ảnh so sánh, liên tưởng đã khiến lối “dẫn truyện quềnh quàng không trau chuốt bộc lộ đúng như lối sống mộc mạc của người Tày, trở thành thủ pháp văn chương khá hấp dẫn”, qua đó góp phần làm cho “ngôn ngữ văn xuôi Tày trở nên phong phú, sinh động, trong sáng hơn, những câu chuyện không chỉ mang ý nghĩa thời sự mà còn mang giá trị nhân văn sâu sắc”9.

6. Truyện ngắn Cao Duy Sơn đã góp thêm một cách nhìn, một lối viết, một giọng điệu và một cách cảm nhận mới, làm đa dạng thêm gia tài truyện ngắn về các dân tộc thiểu số Việt Nam đương đại. Với những thành tựu gặt hái được ở mảng truyện ngắn viết về đề tài này đã góp phần khẳng định được bản lĩnh, ý thức cũng như nhân cách của nhà văn họ Cao trong việc trân trọng, lưu giữ những giá trị nguồn cội của bản sắc văn hóa dân tộc Tày và các dân tộc thiểu số Việt Bắc nói chung. Những vấn đề Cao Duy Sơn đặt ra trong tác phẩm vì vậy không chỉ ở phạm vi của dân tộc mình, mà đó còn là những vấn đề mang tính phổ quát của toàn dân tộc Việt Nam và nhân loại. Tôi đồng tình với lời nhận định của Lê Văn Thảo khi cho rằng: “Cao Duy Sơn kể về cuộc sống của con người miền núi, nhưng tác phẩm đã vượt ra khỏi ranh giới địa phận người dân tộc mà đạt đến một ý nghĩa sâu xa hơn - nỗi đau chung vẫn hằn trong tâm thức con người”10; Dẫn theo Tiểu Quên.

              

  Tài liệu tham khảo chính

1. Phan Chinh An (2009), “Đi tìm vẻ đẹp hoài niệm”, Nguồn: Vietnam.net.

2. Chu Thu Hằng (2008), “Cả đời tôi chỉ theo đuổi đề tài về người miền núi”, Nguồn: Báo Văn nghệ, (20/11).

3. Trần Hoàng Thiên Kim (2010), “Tôi đã được nhiều “lộc” từ quê hương”, Nguồn: Báo Văn nghệ, (122.112).

4. Cao Duy Sơn (1997), Những chuyện ở Lũng Cô sầu, Nxb Quân đội nhân dân.

5. Cao Duy Sơn (2008), Ngôi nhà xưa bên suối, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

6. Cao Duy Sơn (2008), Hoa bay cuối trời, Nxb Thanh niên, Hà Nội.

7. Cao Duy Sơn (2010), Người chợ, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

8. Lâm Tiến (2002), Văn học và miền núi, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

9. Lâm Tiến (2010), “Cách thể hiện con người, cuộc sống miền núi trong tác phẩm Cao Duy Sơn”, Tạp chí Cao Bằng.

10. Tiểu Quên (2009), “Người đào “vàng văn chương” trên núi, (21/08), Nguồn: Baomoi.com.

11. Nguyệt Anh (2008), “Chất lượng khá hơn”, Nguồn: thethaovanhoa.vn. 

Bùi Như Hải
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 247

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

19/04

25° - 27°

Mưa

20/04

24° - 26°

Mưa

21/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground