Truyện Kiều là sáng tạo của thiên tài Nguyễn Du đồng thời là sản phẩm lịch sử tất yếu. Truyện Kiều không tự nhiên từ trên trời rơi xuống mà là kết quả của quá trình văn hóa - văn học, một quá trình hình thành môi trường sáng tạo của thiên tài Nguyễn Du và sự lựa chọn của nhà thơ. Trong bài viết này, chúng tôi muốn trình bày một cách vắn tắt quá trình đó.
Xét về thể loại, Truyện Kiều thuộc thể loại truyện nôm, nhưng thuộc nhóm truyện nôm bác học. Cho đến nay, giới nghiên cứu đã thống nhất rằng những truyện nôm đầu tiên xuất hiện khoảng thế kỷ XVII là truyện nôm bình dân, kiểu truyện kể dùng thơ lục bát kể lại các truyện cổ tích dân gian như Phạm Công Cúc Hoa, Tống Trân, Phạm Tải Ngọc Hoa, Phương Hoa …1 Mô thức cốt truyện của truyện nôm bình dân thường kể về nhân vật nam mồ côi cha, nhà nghèo, phải đi ăn xin nhưng quyết chí học hành, đỗ đạt; nhân vật nữ là con nhà giàu, xinh đẹp, có tình thương yêu người hàn sĩ, quyết tâm nuôi chồng ăn học và kiên trinh chờ đợi, dẫu cho trải qua nhiều thử thách. Tác giả của truyện nôm bình dân là các nho sĩ bình dân, những người không đỗ đạt cao, sống trong môi trường nông thôn. Có thể nói, truyện nôm bình dân đáp ứng nhu cầu tâm lý của tầng lớp nho sĩ bình dân đang có hy vọng vươn lên đổi đời, thay đổi thân phận nghèo hèn bằng nỗ lực sôi kinh nấu sử trong điều kiện nhà nước phong kiến đề cao khoa cử, xem “hiền tài là nguyên khí quốc gia”.
Đồng thời, các truyện nôm bình dân cũng chuyển tải nội dung xã hội đậm đà, nhất là các quan hệ xã hội, các vấn đề thế thái nhân tình, hay nói như nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc, truyện nôm bình dân đặt vấn đề bảo vệ tình vợ chồng, bảo vệ hạnh phúc gia đình và tên của nhiều truyện nôm bình dân được cấu thành từ tên của những cặp vợ chồng2. Kiểu truyện này còn tồn tại mãi đến đầu thế kỷ XX trong các văn bản quốc ngữ hóa cho thấy chúng đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của một bộ phận công chúng nhất định trong một thời gian dài, được chuyển thể thành tích chèo, tuồng. Truyện nôm bình dân của người Việt đã có ảnh hưởng mạnh mẽ trong truyện nôm các dân tộc ít người, tiêu biểu là truyện nôm Tày, Thái3. Vậy là kiểu truyện nôm bình dân có một không gian lưu truyền khá rộng, trong một thời gian vài ba thế kỷ chứ không phải ngắn ngủi.
Trong khi truyện thơ nôm bình dân tồn tại như một thể loại tự sự bản địa của văn học Việt Nam và Đông Nam Á thì ở Trung Quốc quãng giữa thế kỷ XVII - cuối đời Minh đầu đời Thanh, bắt đầu phồn vinh kiểu tiểu thuyết tài tử giai nhân. Xét về tình tiết, kết cấu, tiểu thuyết tài tử giai nhân có ba phần tổ thành chủ yếu: 1) nam nữ nhất kiến chung tình; 2) lứa đôi bị tiểu nhân gây ly tán; 3) chàng trai tài tử thi đỗ làm quan và lứa đôi đoàn viên. Cũng có thể hình dung một kết cấu năm thành phần: 1) đôi nam thanh nữ tú đều thuộc gia đình quan lại hoặc phú hào; 2) lứa đôi đều trẻ tuổi, tài và mỹ; 3) đôi lứa có cơ duyên gặp gỡ, dùng thơ từ làm phương tiện môi giới; 4) kẻ tiểu nhân gây ly tán lứa đôi; 5) chàng trai thi đỗ, hôn nhân viên mãn thành công, phú quí thọ khảo. Dù có ba hay năm thành phần, tiểu thuyết tài tử giai nhân vẫn thuộc loại tiểu thuyết ái tình4. Trong cuốn sách nghiên cứu về tiểu thuyết tài tử giai nhân, Lâm Thần có đề cập đến Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân.
Bên cạnh sự tồn tại của dòng truyện nôm bình dân, một số nhà nho Việt Nam từ thế kỷ XVIII đã tiếp nhận ảnh hưởng của loại tiểu thuyết tài tử giai nhân ở Trung Quốc để từ đó xuất hiện một loại truyện thơ nôm kiểu mới mà giới nghiên cứu thường gọi là truyện nôm bác học để phân biệt với kiểu truyện thơ nôm bình dân. Kiểu truyện thơ nôm bác học như Truyện Hoa tiên, Phan Trần, Sơ kính tân trang, Ngọc Kiều Lê… vay mượn cốt truyện như Truyện Hoa Tiên, Phan Trần, Ngọc Kiều Lê, hoặc có những nét đặc trưng tương đồng với mô thức của kiểu truyện tài tử giai nhân Trung Quốc như Sơ kính tân trang. “Nội dung của truyện nôm bác học phong phú, đa dạng. Các tác giả thường viết về những mối tình của những giai nhân tài tử, yêu nhau một cách tự do vượt ra ngoài khuôn khổ lễ giáo phong kiến. Ngòi bút của tác giả tỏ ra rất say sưa khi theo dõi những mối tình ấy. Nhưng cũng có người không dám say sưa đến cùng, mà sau những trang mô tả tình yêu rất hấp dẫn, họ dần dần tìm cách điều hòa mâu thuẫn giữa tình yêu và lễ giáo phong kiến. Ngoài ra cũng có những tác phẩm không phải chỉ nói đến tình yêu mà còn đặt những vấn đề khác có ý nghĩa nhân sinh và xã hội rộng lớn như Truyện Kiều”5.
Vì sao bên cạnh các truyện nôm bình dân, lại xuất hiện truyện nôm bác học vay mượn cốt truyện và chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết tài tử giai nhân? Để trả lời câu hỏi này chúng ta cần chú ý đến cả hai phía: chủ thể tiếp nhận và khách thể ảnh hưởng.
Về phía chủ thể tiếp nhận, tác giả truyện nôm bác học là những nhà nho có học vấn cao, đỗ đạt, làm quan, sống trong môi trường đô thị Thăng Long đã khá phát triển. Chất lãng mạn của tiểu thuyết tài tử giai nhân Trung Quốc là sản phẩm của đời sống đô thị khá phát triển từ đời Đường trở đi có sức hấp dẫn lớn đối với các nhà nho Việt Nam sống trong môi trường đô thị Thăng Long - Kẻ Chợ. Thực ra, không phải đợi đến thế kỷ XVIII, ngay trong Truyền kỳ mạn lục đã có một câu chuyện mang màu sắc lãng mạn kể về một chàng thư sinh quê ở Xuân Trường rời nhà, lên Thăng Long du học và có cuộc tình đầy phóng túng với hai cô gái tại một trang viên cũ bỏ hoang - một mô típ có nét tương đồng nhất định với mô típ chàng Kim Trọng lên Bắc Kinh “du học” và làm quen với Thúy Kiều. Tâm lý đạo đức thẩm mỹ của nhà nho luôn trong thế lưỡng phân. Một mặt, họ muốn viết những tác phẩm có nội dung giáo huấn đạo đức, đưa tình yêu nam nữ vào vòng kiểm soát nghiêm khắc của lễ giáo. Mặt khác, họ lại hứng thú ngấm ngầm với tình yêu tự do, trai tài gái sắc không nghĩ đến “phụ mẫu chi mệnh” khi hứa hẹn chung tình. Giữa lúc đó, dòng tiểu thuyết tài tử giai nhân Trung Quốc tràn vào Việt Nam qua nhiều con đường như qua các nhà nho đi sứ, các thương gia người Hoa sang Việt Nam. Kể lại những câu chuyện có sẵn ở nước ngoài chứ không sáng tác là một cách thể hiện rất thuận lợi tâm lý lưỡng phân đó. Kể lại những gì có sẵn có thể xem là một cách đối phó với những cấm kỵ về đạo đức thẩm mỹ trong môi trường văn hóa trung đại: không ai có thể trách cứ, lên án một tác giả vì ông ta kể lại chuyện nước ngoài trong khi vẫn chuyển tải được khát vọng trai tài gái sắc yêu đương tự do. Mô thức tự sự này được khẳng định đã dẫn đến một sáng tác mô phỏng cấu trúc và cảm hứng tiểu thuyết tài tử giai nhân: truyện thơ Sơ kính tân trang của Phạm Thái.
Nhìn chung, truyện nôm bác học theo mẫu hình tiểu thuyết tài tử giai nhân nhà Minh nhà Thanh bổ sung cho bức tranh văn học trung đại Việt Nam thêm mảng màu sắc văn chương thành thị.
Xét từ góc độ tự sự học, tiểu thuyết tài tử giai nhân nằm trong truyền thống văn xuôi tự sự rất phát triển của Trung Quốc. Trong nhóm tiểu thuyết chương hồi chữ Hán ở Việt Nam thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, cũng có dấu vết tiếp nhận ảnh hưởng của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc như trong Nam triều công nghiệp diễn chí (1719, Nguyễn Khoa Chiêm) có thể chứng kiến dấu ấn vay mượn một số mô típ của Tam quốc diễn nghĩa. Hoặc trò chơi Ngụy - Thục - Ngô mà vua Lê Hiển Tông thường huy động cung nữ tham gia (chi tiết này được kể ở hồi 5 Hoàng Lê nhất thống chí) cũng cho thấy tầng lớp trí thức quí tộc rất mê tiểu thuyết anh hùng sử thi như Tam quốc diễn nghĩa. Khoảng thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, khá phổ biến ở Nam Bộ các tích tuồng từ Tam Quốc diễn nghĩa chẳng hạn Quan Công phò nhị tẩu. Và nếu nhìn rộng ra thì quãng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX trở đi, việc người Việt dịch ra chữ quốc ngữ các tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc rất phổ biến. Tuy nhiên, các tác giả Việt Nam chỉ chọn truyện cổ dân gian Việt Nam và tiểu thuyết tài tử giai nhân để chuyển thể thành truyện thơ lục bát mà không chọn tiểu thuyết lịch sử của Trung Quốc6. Sự lựa chọn truyện dân gian và tiểu thuyết tài tử giai nhân để kể lại cho thấy định hướng mỹ học của thể loại truyện thơ nôm lục bát có những nét riêng.
* * *
Như Nguyễn Lộc nhận xét, trong nhóm truyện nôm bác học mang màu sắc tiểu thuyết tài tử giai nhân, Truyện Kiều hầu như tách riêng ra, có một vị thế đặc biệt. Nói bằng ngôn từ của Phạm Quỳnh, Truyện Kiều “đột ngột như một ngọn cô phong ở giữa đám quần sơn vạn hác vậy”7.
Nếu so sánh thơ chữ Hán của Nguyễn Du và Truyện Kiều, dễ thấy có những khác biệt khá căn bản bên cạnh nhiều điểm tương đồng. Trong khoảng hai trăm rưỡi bài thơ chữ Hán, không bắt gặp bài thơ nào viết về tình yêu nam nữ mạnh dạn, có nhiều sắc thái dục tính như trong Truyện Kiều. Cả ba người tình Kim Trọng - Thúc Sinh - Từ Hải mỗi người một vẻ nhưng đều giống nhau ở tâm lý tính dục. Và cũng trong thơ chữ Hán, không có bài thơ nào viết về nhân vật nổi loạn chống triều đình như nhân vật Từ Hải trong Truyện Kiều. “Thơ chữ Hán của Nguyễn Du không có bài nào viết về tình yêu đôi lứa, về sự nổi loạn chống lại triều đình phong kiến thối nát, nhưng Truyện Kiều (chữ Nôm của ông) – theo thống kê của Xuân Diệu - lại dành 1/8 số câu thơ để tả tình yêu say đắm giữa Thúy Kiều - Kim Trọng, lại tôn vinh Từ Hải - người dám đứng lên lập một triều đình riêng một góc trời, chia đôi sơn hà với triều đình phong kiến – là anh hùng”8. Những tư tưởng nghệ thuật được Nguyễn Du nung nấu đã thấp thoáng đây đó trong các bài thơ chữ Hán cho đến khi Nguyễn Du đọc Kim Vân Kiều truyện thì định hình rõ nét. Có thể đoán đây là một trong những lý do chính quyết định việc Nguyễn Du vay mượn cốt truyện. Sự “nổi loạn”, bung phá về chính trị, đạo đức và thẩm mỹ, tôn vinh con người nhân bản đầy tinh thần phục hưng trong môi trường văn hóa chính trị phong kiến cấm kỵ ngặt nghèo cần phải được thể hiện một cách an toàn.
Kim Vân Kiều truyện với hai nhân vật kỹ nữ và tướng cướp đã gợi cảm hứng để Nguyễn Du viết nên truyện thơ nôm nổi tiếng Đoạn trường tân thanh mà hậu thế gọi rút gọn là Truyện Kiều. Cốt truyện Kim Vân Kiều truyện bao chứa được nhiều đề tài, chủ đề chứ không đơn tuyến. Nếu quan hệ Thúy Kiều - Kim Trọng làm nên dáng dấp của tiểu thuyết tài tử giai nhân thì quan hệ Thúy Kiều –Thúc Sinh, Thúy Kiều - Từ Hải lại làm nên sắc thái của tiểu thuyết xã hội, tiểu thuyết nhân tình thế thái. Nguyễn Du chọn Kim Vân Kiều truyện là chọn kiểu truyện thoạt nhìn thuộc loại tài tử giai nhân nhưng có cốt truyện phức tạp, đa chủ đề so với kiểu tiểu thuyết tài tử giai nhân vốn có cốt truyện đơn giản, công thức. Đây là một hướng lựa chọn khiến cho triển vọng thành công của tác phẩm cao hơn hẳn việc chọn các cốt truyện thuần túy tiểu thuyết tài tử giai nhân. Sau khi lựa chọn, nhà thơ vận dụng các thành tựu văn học Việt Nam đương thời như thể loại ngâm khúc, thể loại truyện thơ nôm quen thuộc để kể lại câu chuyện mà ông đã công phu lựa chọn.
Trong Thi pháp Truyện Kiều, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã từng đề nghị xác đáng rằng cần nhìn nhận kiệt tác này trong một bối cảnh văn học - nghệ thuật rộng lớn, trong sự giao lưu giữa các nền văn hóa. Ông viết: “Nghiên cứu so sánh Truyện Kiều hôm nay không thể đóng khung trong phạm vi so sánh tay đôi giữa hai tác phẩm Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện, bởi bản thân sự vay mượn và sáng tạo của Nguyễn Du nằm trong quĩ đạo của các nền văn hóa bao bọc xung quanh, Truyện Kiều là sản phẩm của hành vi sáng tạo văn hóa có bối cảnh rộng lớn”9.
Đúng vậy, trên nền văn hóa tự sự của dòng truyện thơ nôm Việt Nam, kinh nghiệm phân tích tâm lý của các ngâm khúc, cộng với gợi ý của cốt truyện độc đáo duy nhất của Kim Vân Kiều truyện, với tài năng cá nhân Nguyễn Du, Truyện Kiều đã xuất hiện trong tư thế một danh tác, khiến một số nhà nghiên cứu Trung Quốc đương đại thấy khó hiểu. Khó hiểu vì họ bị giam cầm trong ý nghĩ rằng Truyện Kiều do Nguyễn Du dịch từ Kim Vân Kiều truyện.
Nguyễn Du không đơn giản làm công việc phiên dịch Kim Vân Kiều truyện theo quan niệm về phiên dịch hiện đại. Ông đưa cảm hứng mới cho nguyên truyện. Các nhân vật của nguyên truyện đều được Nguyễn Du giải thích lại. Nếu Từ Hải trong Kim Vân Kiều truyện được xây dựng như một gã tướng cướp khi gặp Thúy Kiều thì Nguyễn Du nhìn Từ Hải là một anh hùng. Một số tình tiết và cốt truyện đã được thay đổi, giản lược khi đi từ nguyên truyện đến Đoạn trường tân thanh.
Truyện Kiều của Nguyễn Du không đơn thuần là một bản dịch còn một lý do khác, vì danh tác này nằm trong một mối quan hệ liên văn bản chằng chịt với văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc đã có căn cứ khi nhận xét mối liên hệ giữa thể thơ song thất lục bát của các khúc ngâm với thể lục bát của Truyện Kiều: “Thể song thất lục bát đạt đến hình thức hoàn mỹ của nó vào nửa cuối thế kỷ XVIII, dĩ nhiên không thể không tác động đến toàn bộ thơ Việt Nam, mà trước hết là đến thơ lục bát, và nó đẩy thơ lục bát tiến lên giai đoạn mới, trong đó đỉnh điểm là Truyện Kiều. Cũng cần phải nói, riêng về mặt kỹ thuật, thì Nguyễn Du cũng là người đẩy thể thơ song thất lục bát lên trình độ cao nhất với bài Văn tế thập loại chúng sinh, và điều này chứng tỏ Nguyễn Du không thể không áp dụng kỹ thuật của thơ lục bát trong song thất lục bát vào thơ lục bát Truyện Kiều”10. Mặt khác, Nguyễn Du khi sáng tác Truyện Kiều còn chịu ảnh hưởng của Hoa tiên ký của Nguyễn Huy Tự, một truyện nôm tài tử giai nhân. “Có thể tìm thấy trong Truyện Kiều một số câu giống với những câu trong Hoa tiên ký của Nguyễn Huy Tự. Nhưng ảnh hưởng của Hoa tiên ký đối với Nguyễn Du, chủ yếu không phải là sự vay mượn một số câu thơ, mà ở cách miêu tả thiên nhiên cũng như cách miêu tả tâm trạng nhân vật”11. Chúng tôi muốn bổ sung thêm một ý: kể cả thể thơ lục bát đã được rèn giũa nhuần nhuyễn và lối tự sự bằng thơ lục bát đã được rèn giũa nhiều thế kỷ qua ca dao dân ca, hát đối đáp “huê tình” nam nữ, qua truyện thơ nôm bình dân đã tích lũy nhiều kinh nghiệm nghệ thuật và đến thế kỷ XVIII thì diễn ra hiện tượng nhảy vọt theo qui luật lượng đổi chất đổi. Nguyễn Du hấp thụ tinh hoa văn hóa dân gian và văn học bác học của nhiều vùng miền. Không gian Thăng Long, Bắc Ninh, Hà Tĩnh, Thái Bình, Huế và không gian văn hóa Trung Hoa ẩn sau những thành tựu nghệ thuật của nhà thơ vĩ đại.
Đến lượt mình, Truyện Kiều lại phát huy sức ảnh hưởng đến sáng tác đương thời, có sức lan tỏa rộng kể cả trong phạm vi Việt Nam và vượt ra ngoài biên giới Việt Nam. Theo quan sát của Đào Duy Anh cách nay trên 70 năm, bản nhuận sắc Hoa tiên ký do Nguyễn Thiện thực hiện lại mang nhiều dấu vết của Truyện Kiều. “Theo thiển kiến của tôi thì Nguyễn Thiện nhuận sắc Hoa tiên ký sau khi đã được đọc Đoạn trường tân thanh rồi, cho nên trong bản Hoa tiên thông hành, trừ những câu Nguyễn Du bắt chước Nguyễn Huy Tự, còn có nhiều câu Nguyễn Thiện bắt chước Nguyễn Du”12. Và Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng trở lại với môi trường diễn xướng thơ lục bát dân gian, thành hành trang văn hóa của người dân Việt Nam, một sự kiện hiếm có trong lịch sử văn học nhân loại. Rồi từ thế kỷ XX trở lại đây Truyện Kiều nhiều lần được dịch sang Hán văn: theo hiểu biết của tôi, từ đầu thế kỷ XX cho đến thời điểm này, đã có 10 bản Hán văn dịch Truyện Kiều13. Rõ ràng là tồn tại một nhu cầu khó cưỡng nổi của các độc giả Hán văn muốn biết vì sao một câu chuyện kể lại cốt truyện Kim Vân Kiều truyện lại có sức sống mãnh liệt như vậy.
* * *
Truyện Kiều ra đời trong một không gian văn hóa rộng lớn, đa tầng và đa chiều chứ không phải là một sản vật ngẫu nhiên. Đọc Truyện Kiều, giải mã Truyện Kiều trong không gian văn hóa phương Đông hứa hẹn nhiều khám phá mới.
T.N.T
____________
Chú thích:
1 Nguyễn Thúc Khiêm trong Dã sử quan trạng Gầu, Nam phong, số 159 và 160 (tháng Hai /1931) cho biết Tống Trân được dân gian gọi là Trạng Gầu, người làng An Cầu – tên nôm là làng Gầu, huyện Phù Cừ tỉnh Hưng Yên. Cúc Hoa người làng Phù Oanh cùng huyện. Truyện nôm Tống Trân Cúc Hoa kể về những nhân vật có thực.
Các nghiên cứu hệ thống về truyện nôm phải kể đến Truyện nôm bình dân (Nguyễn Lộc, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, tái bản lần thứ ba, 1999) và Luận án Tiến sĩ của Kiều Thu Hoạch Truyện nôm bình dân của người Việt - lịch sử hình thành và bản chất thể loại, Trường ĐHKHXH-NV, ĐHQG Hà Nội, 1996.
2 Nguyễn Lộc, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, tái bản lần thứ ba, 1999, các trang 486-488.
3 Một nghiên cứu tiêu biểu: Triều Ân, Ba truyện thơ Nôm Tày từ truyện nôm khuyết danh Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin, 2011. Trong cuốn sách này, tác giả nghiên cứu ba truyện nôm Tày chịu ảnh hưởng của ba truyện nôm Kinh là Tống Trân Cúc Hoa, Thạch Sanh, Phạm Tử Ngọc Hoa (Phạm Tải Ngọc Hoa).
4 Lâm Thần, Minh mạt Thanh sơ tiểu thuyết thuật lục, Xuân phong văn nghệ xuất bản xã, 1988, tr. 60-61.
5 Từ điển văn học (bộ mới), Nxb Thế giới (2004), mục từ “Truyện thơ nôm”, Nguyễn Lộc viết, tr. 1848.
6 Về điểm này, xin xem thêm nghiên cứu của Nhan Bảo Ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Quốc đối với văn học Việt Nam, được Claudine Salmon biên tập trong sách Tiểu thuyết truyền thống Trung Quốc ở châu Á, Trần Hải Yến dịch, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004.
7 Phạm Quỳnh, Bài diễn thuyết bằng quốc văn của ông Phạm Quỳnh (Lễ kỷ niệm cụ Tiên Điền ngày 10 tháng Tám năm 1924), Nam phong s. 86, tháng Tám 1924.
8 Trần Nho Thìn , Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, 2012, tr. 205.
9 Trần Đình Sử , Thi pháp Truyện Kiều, Nxb Giáo dục, 2002, tr. 55-56.
10 Phan Ngọc, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, tái bản, Nxb Thanh Niên, 2001, tr. 263.
11 Nguyễn Lộc, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, tái bản lần thứ ba, 1999, tr. 204.
12 Đào Duy Anh, Hoa tiên truyện, Tri tân, số 88, ngày 25 tháng Ba 1943.
13 Trần Ích Nguyên đã nói đến 6 bản dịch Hán văn sau: 1) Vương Kim diễn tự truyện của Nguyễn Kiên (bản chép tay năm 1915); 2) Thúy Kiều quốc âm dịch xuất Hán tự của Lê Mạnh Điềm; 3) Kim Vân Kiều Hán tự lục bát ca của Lê Dụ (1946); 4) Việt Nam âm Kim Vân Kiều ca khúc dịch thành Hán tự cổ thi của Từ Nguyên Mạc (1906); 5) Kim Vân Kiều truyện bình giảng của Lý Văn Hùng (1955); 6) Hán dịch Kim Vân Kiều Nam âm thi tập của Trương Cam Vũ (1961) (xem Trần Ích Nguyên, Nghiên cứu câu chuyện Vương Thúy Kiều, Phạm Tú Châu dịch, Nxb Lao động – Trung tâm Ngôn ngữ văn hóa Đông - Tây, 2004, tr. 113-118).
Sau các cuốn sách này, đã có thêm ít nhất 4 bản dịch Hán văn: 1) Kim Vân Kiều truyện La Trường Sơn dịch, Nxb Văn nghệ, Thành phố HCM, 2006; 2) Kim Vân Kiều truyện Hoàng Dật Cầu dịch (Nhân dân văn học xuất bản xã, 1959, Bắc Kinh); 3) Kim Vân Kiều truyện do Kỳ Quảng Mưu dịch (Thế giới đồ thư xuất bản công ty, Bắc Kinh, 2011) và 4) Kim Vân Kiều truyện Triệu Ngọc Lan dịch (Bắc Kinh đại học xuất bản xã, 2013). Cả bốn bản dịch - ba bản dịch sau cùng in ở Trung Quốc - đều là dịch phẩm của các nhà văn người Trung Quốc.
(*) Rút trong tập Lý luận phê bình Văn học, nghệ thuật - Số 37 tháng 9/2015.









