(Tặng Nguyễn Mạnh Tiến)
“Min cứ đi chứng minh sự tồn vong của các tộc người làm gì? Sự tồn vong chả phải nằm đâu xa, nằm ngay trong chính mỗi bản thể người với những xâm thực khắc nghiệt của đời sống mà không phải ai cũng nhận ra và chống đỡ nổi. Sao loài người đông đúc mà lại cô đơn thế?”
Cô Mặc Sầu là cuốn tiểu thuyết thứ tám của Nguyễn Đình Tú, được sáng tạo và thai nghén trong giai đoạn mà bút lực của nhà văn đang đạt độ chín sung mãn nhất. Vài năm qua, bạn đọc cả hàn lâm và phổ thông “buộc” phải chú ý đến Nguyễn Đình Tú bởi sự xuất hiện thường trực, quen thuộc của anh trên những giá sách, gần như năm nào anh cũng giới thiệu được một đứa con tinh thần mới. Đối với thơ hay truyện ngắn, điều ấy có thể không lạ, nhưng đối với tiểu thuyết, một thể loại hư cấu cỡ lớn, nó đòi hỏi người viết một sức sáng tạo phóng vượt, khả năng làm việc miệt mài, và dĩ nhiên, những tìm tòi nghệ thuật mới mẻ để có thể “đứng” lại trong lòng bạn đọc. Điều đáng chú ý ở tác giả này đó là sự xông xáo, dũng cảm hướng ngòi bút vào những chủ đề mới mẻ, tiềm chứa nhiều nguy cơ và buộc phải chấp nhận những định kiến của một bộ phận người đọc. Nếu như Nháp, Kín
Cho đến tiểu thuyết Cô Mặc Sầu
1. Từ diễn ngôn trinh thám
Cô Mặc Sầu trước tiên là một cuốn tiểu thuyết trinh thám – hình sự, khai thác một đề tài khá nóng bỏng, thời sự và gây nhiều chú ý hiện nay, đó là tội phạm buôn bán ma túy và những tác hại do ma túy gây ra cho con người lẫn nền tảng xã hội vùng cao. Cô Mặc Sầu đáp ứng một cách gần như hoàn chỉnh về cấu trúc hai chuyện song hành của truyện trinh thám truyền thống mà trong Loại hình của tiểu thuyết trinh thám Tzvetan Todorov đã đề cập đến. Todorov cho rằng, trong truyện trinh thám truyền thống có hai câu chuyện song hành, câu chuyện thứ nhất là truyện về tội ác, nó là một câu chuyện khiếm diện vì đã kết thúc ngay khi diễn ngôn truyện kể bắt đầu, “nó không thể hiện diện trực tiếp trong tác phẩm”. Câu chuyện thứ hai là câu chuyện về điều tra tội ác, câu chuyện này là sự môi giới để người đọc đến với câu chuyện thứ nhất mà thôi, nó hiện diện nhưng lại chỉ đóng vai trò “chẳng quan trọng chút nào”. Todorov viết: “Vậy là, trong tiểu thuyết ẩn ngữ (một giai đoạn phát triển của truyện trinh thám – YT), có hai truyện, một truyện thực sự song lại khiếm diện, truyện kia hiện diện song lại không quan trọng. Sự hiện diện và khiếm diện này lí giải việc cả hai truyện cùng tồn tại trong dòng kể”1 . Đọc Cô Mặc Sầu, chúng ta dễ dàng nhận ra hai câu chuyện này, bởi chúng được kể tách rời thông qua hai tuyến truyện khác nhau, được trình bày bởi những dạng thức văn bản khác nhau.
Thứ nhất, câu chuyện về tội ác, đây là câu chuyện bị khiếm diện bởi một loạt những vụ án mạng thảm khốc tại thung lũng Cô Mặc Sầu thuộc huyện Mù Pan Tẩn tỉnh Yên Châu. Ít nhất có ba nạn nhân đã bị đâm đến chết bởi nhiều nhát dao bầu, hay bị đập vỡ đầu bằng tày đó là Tất Vần Chư, Tất Lủ Chí và Tất Hủ Non. Điều đặc biệt của ba cái chết này đó là các nạn nhân đã từng là con nghiện hoặc có dính líu đến hoạt động buôn bán ma túy, nhưng điều khó hiểu đó là các nạn nhân cho đến trước khi chết đã gần như dừng lại việc buôn bán cái chết trắng. Vậy tại sao họ vẫn bị chết thảm theo nhiều cách khác nhau. Việc này gây ra những xáo trộn trong đời sống chính trị người dân tộc thiểu số ở miền biên viễn, bởi những thủ đoạn xuyên tạc chính quyền đàn áp, thủ tiêu, hoặc nhà nước không có khả năng bảo vệ nhân dân trước tội ác của những kẻ xấu phản động. Cả ba cái chết này đều đã diễn ra trước khi diễn ngôn truyện kể bắt đầu, và chúng ta chỉ có thể biết đến chúng thông qua câu chuyện thứ hai, đó là câu chuyện về điều tra tội ác. Câu chuyện về điều tra tội ác được trình bày thông qua một dạng văn bản đặc biệt, đó là những Báo cáo thỉnh thị án của Phòng điều tra tội phạm về trật tự xã hội công an tỉnh Yên Châu (PC45) gửi cho Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội trực thuộc Bộ Công an (C45). Thông qua câu chuyện thứ hai này, với nỗ lực điều tra của các lực lượng công an, nguyên nhân ba cái chết thảm khốc dần được hé lộ là do một nhóm ba hung thủ là Khang, Long và Hùng thủ ác. Chúng giết nạn nhân không vì buôn bán ma túy, mà là nhằm cướp cây trâm đeo trên đầu của các người Vị này nhằm đem bán cho bọn buôn đồ cổ. Niềm tin có tính hoang đường ngây thơ rằng mọi cái trâm đeo đầu của người Vị đều có thể được bán với giá bạc tỷ đã khiến các hung thủ ra tay hạ thủ với ba nạn nhân nhằm cướp trâm đeo đầu.
Nghệ thuật trinh thám truyền thống dựa trên cấu trúc hai câu chuyện nói trên khá phổ biến. Tuy nhiên, ngày nay, những truyện trinh thám hậu hiện đại của Paul Auster, Haruki Murakami, J.Luis Borges đã xóa nhòa khoảng cách giữa hai câu chuyện, biến cuộc truy tìm hung thủ thành truy tìm bản thể. Mặc dù vậy, Nguyễn Đình Tú đã sử dụng thủ pháp liên văn bản (intertext) trong Cô Mặc Sầu nhằm tạo ra những hiệu ứng nghệ thuật mới mẻ. Nhiều bạn đọc có thể sẽ cảm thấy nhàm chán, khô khan khi đọc đến những đoạn văn bản Báo cáo thỉnh thị án của PC45. Đây là loại văn bản được viết theo phong cách hành chính, với sự chính xác, điển phạm và súc tích có tính tường thuật, miêu tả thuần túy. Trong loại văn bản này không có các biện pháp tu từ, các từ ngữ có tính nghệ thuật, các nhân vật không được phép cất lời và chúng đều được viết với một hình thức y hệt nhau. Mở đầu là tên loại văn bản, sau đó là ngày tháng năm, đến lời kính gửi, đến phần tường thuật rồi cuối cùng là chữ ký của người tổng hợp và người chịu trách nhiệm chính. Đưa một văn bản hành chính thuần túy vào trong diễn ngôn văn chương, hẳn rằng đó là một dụng ý nghệ thuật của tác giả. Nó khác với việc Bram Stoker đưa những đoạn hồi ký, bài báo ngắn vào trong Bá tước Dracula – “tiểu thuyết kinh dị hay nhất mọi thời đại” bởi những đoạn hồi ký ấy không nhằm phát triển mạch truyện và giải quyết những nghi vấn, mà chỉ bổ sung điểm nhìn bên trong của nhân vật bên cạnh điểm nhìn của ngôi trần thuật thứ ba của người kể chuyện mà thôi. Trong Cô Mặc Sầu, những văn bản hành chính Báo cáo thỉnh thị án trực tiếp giải quyết cho câu chuyện thứ nhất (câu chuyện về vụ án), nó chính là câu chuyện thứ hai (câu chuyện phá án) một cách hoàn chỉnh. Chỉ thông qua loại văn bản Báo cáo thỉnh thị án này, người đọc mới lần giở ra được nguyên nhân cái chết của ba nạn nhân, vạch mặt hung thủ, cũng như hiểu được chi tiết các “biện pháp nghiệp vụ” phá án của lực lượng công an. Nhưng quan trọng nhất, chính loại văn bản báo cáo hành chính này đã tạo ra cho cuốn tiểu thuyết tính hành động, một sự căng thẳng ẩn náu bên cạnh những mối tình đẹp nhưng đượm buồn của Hoàng và Khoa. Ngoài ra, loại văn bản hành chính này còn cung cấp nhiều tư liệu về văn hóa, địa lý và lịch sử, giúp người đọc ngoài việc đến với vụ án còn được đến với những vỉa tầng giá trị tâm linh và khám phá cái đẹp của một vùng đất. Khi tiếp nhận Cô Mặc Sầu, người đọc một mặt được phiêu lưu trong câu chuyện về tình yêu, câu chuyện về nhân học của Khoa, nhưng đồng thời, bị cuốn vào trong tình tiết vụ án gấp gáp, gay cấn đầy hiểm nguy.
Dĩ nhiên, nếu diễn ngôn truyện kể chỉ có chừng ấy thôi thì câu chuyện rất đơn giản và hầu như khá nhạt. Xét từ góc độ một truyện trinh thám – hình sự thuần túy, Cô Mặc Sầu không có giá trị gì nhiều. Bạn đọc không quá bất ngờ về quá trình phá án hoặc chân diện hung thủ thực sự. Thông thường, trong các truyện trinh thám kinh điển, hung thủ sẽ là một trong các nhân vật chính mà bạn đọc không ngờ đến, hoặc quá trình phá án được diễn ra vô cùng phức tạp, tài tình thể hiện tính thông minh, nhạy bén của người thám tử điều tra. Cô Mặc Sầu không có cả hai yếu tố này, bạn đọc biết ngay từ khá sớm nhân vật Thụy – cán bộ lâm nghiệp đi nhờ xe của Hoàng và Roy là một chiến sĩ công an điều tra nằm vùng. Quá trình khám phá ra nguyên nhân cả ba cái chết của Tất Vần Chư, Tất Lủ Chí, Tất Hủ Non thì lại do một nhánh điều tra khác tiến hành, không được miêu tả đến. Thụy cùng những chiến sĩ công an dù rất tài tình, dũng cảm, nhưng lại không kịp ngăn chặn vụ án mạng tại nhà bà Tất Nhưng, như vậy nhiệm vụ cốt lõi của họ là ngăn chặn tội ác đã không hoàn thành hoàn hảo. Tuy nhiên, Cô Mặc Sầu không phải là cuốn truyện trinh thám – hình sự được viết nên chỉ để điều tra về vụ án ba cái chết nói trên, mà nó là cuốn truyện trinh thám – hình sự có mục đích điều tra về thân phận thật sự của Min, cũng như lý do căn cốt tại sao một số chiếc trâm đeo đầu của một vài người Vị lại có giá lên đến bạc tỷ. Nghệ thuật trinh thám của Nguyễn Đình Tú đã dẫn dắt người đọc đến với những huyền thoại, những câu chuyện nửa hiện thực, nửa huyền ảo hết sức hấp dẫn, đầy lôi cuốn. Qua cuốn tiểu thuyết này, bạn đọc sẽ phiêu lưu vào thế giới của mộng tưởng, nơi có những đàn trâu đi hoang trong rừng, dũng mãnh lao vào vách đá mở đường máu để thoát khỏi đám thợ săn, nơi có những cánh rừng hoa dạ thảo phong bạt ngàn... Trong Cô Mặc Sầu, con trâu đầu đàn được xem là con trai của thần rừng, đã húc đúng tảng đá quý là tim của khối núi đá nhằm mở đường máu thoát thân cho cả đàn, làm vỡ ra muôn mảnh đá quí vô giá để rồi từ đó những người thợ săn cao quý nhất nhặt đá quý để khảm vào trâm cài đầu. Cuối truyện, qua dấu vết là một vết xăm hình chiếc trâm trên tay Min, bạn đọc đã mường tượng biết được cô là đứa cháu bị thất lạc qua nhiều biến cố lịch sử của bà Tất Nhưng, và đó là lí do mà cô được bà yêu mến. Những truyện trinh thám có sự tham dự của các yếu tố huyền ảo, hoặc giả huyền ảo kinh điển trên thế giới như Con chó của dòng họ Baskerville (Conan Doyle), Vụ án mạng ở đường Morgue (Edgar Poe), Ma sói (Fred Vargas)… luôn tạo được sự hào hứng trong tiếp nhận bởi sự tò mò, tâm lý phiêu lưu phóng tưởng mà nó tạo ra cho bạn đọc.
Trên hết, trong nghệ thuật trinh thám – hình sự của Nguyễn Đình Tú, chúng ta dễ dàng nhận ra tính điện ảnh (cinematic) được vận dụng trong việc xây dựng diễn ngôn tiểu thuyết. Những đoạn chuyển mạch văn bản, từ mạch tự sự của người kể chuyện ngôi thứ ba, sang mạch văn bản Báo cáo thỉnh thị án là những đoạn chuyển cảnh trong điện ảnh. Một bên mang điểm nhìn bên trong, một bên mang điểm nhìn bên ngoài, một bên hướng sâu vào nội tâm, ký ức nhân vật (Hoàng, Min, Khoa, Tất Nhưng…), một bên hướng vào việc khám phá các sự kiện bên ngoài (nguyên nhân các vụ án mạng và tung tích Long và Hùng). Thông quan thủ pháp liên văn bản, chúng ta có thể thấy Nguyễn Đình Tú đã có dụng ý sử dụng hai loại văn bản riêng, đảm nhận hai chức năng nghệ thuật khác nhau trong Cô Mặc Sầu. Nếu văn bản báo cáo của cơ quan điều tra công an là nhằm khách quan hóa, hành chính hóa, hình sự hóa diễn ngôn truyện kể, thì các văn bản thơ của Fan Tuấn Anh được lai ghép, dung hợp vào dưới thân phận mới là các sáng tác của Khoa, sẽ đảm nhận chức năng trữ tình hóa, lãng mạn hóa và chủ quan hóa diễn ngôn. Theo thống kê của tôi, có 7 đoạn thơ của Fan Tuấn Anh (chủ yếu được trích từ tập thơ Người ngủ muộn
Có thể nói, Cô Mặc Sầu là một cuốn tiểu thuyết có tính điện ảnh một cách tự nhiên. Xu hướng liên văn bản giữa văn học với điện ảnh cả trong sáng tạo nghệ thuật lẫn trở thành mối quan tâm trong phê bình thời gian gần đây là một minh chứng cho việc văn học phải chuyển đổi để thích nghi với thị hiếu tiếp nhận hậu hiện đại như thế nào. Đó là bước đổi mới một cách tự nhiên của văn học nhằm kiếm tìm người đọc trong xã hội nghe nhìn thống ngự, đồng thời, điện ảnh cũng tìm thấy trong kho tàng văn học nguồn kịch bản tiềm năng, phong phú, nhiều giá trị nghệ thuật và chiều sâu tư tưởng. Tôi tin rằng, những người viết kịch bản và đạo diễn điện ảnh sẽ rất dễ dàng chuyển thể Cô Mặc Sầu, nếu sau này cuốn tiểu thuyết này được lựa chọn để đưa lên màn ảnh rộng.
2. Đến diễn ngôn truy tìm căn cước tộc người
Cô Mặc Sầu theo tôi có giá trị vượt ra/trên một diễn ngôn trinh thám – hình sự đơn thuần, mà là một diễn ngôn về quá trình truy tìm/gìn giữ căn cước, bản sắc tộc người. Cuộc điều tra về tội ác suy cho cùng, chỉ làm nền cho những cuộc điều tra về văn hóa tộc người thiểu số vùng cao. Nếu như loại hình văn bản Báo cáo thỉnh thị án mang chức năng điều tra truy tìm hung thủ và nguyên nhân các cuộc án mạng, thì loại hình văn bản do người kể chuyện ngôi thứ ba tường thuật lại đi sâu vào những cuộc điều tra nhân học của cậu sinh viên tên Khoa, và cuộc điều tra về cội nguồn gốc gác của cô nữ sinh viên Việt kiều Úc tên Min Hawke. Cô Mặc Sầu là một cuốn tiểu thuyết đẹp và trầm tích nhiều giá trị văn hóa, và không phải ngẫu nhiên mà cả hai nhân vật chính của nó là Khoa và Min đều là những sinh viên Nhân học, Đông phương học đi điền dã điều tra về bản sắc người Vị. Nguyễn Đình Tú dành rất nhiều dụng công nghệ thuật và cả sự tìm tòi, biện giải về nhân học, dân tộc học trong Cô Mặc Sầu. Nếu như nghệ thuật trinh thám trong cuốn tiểu thuyết này không có gì nhiều để đề cập đến, thì cuộc truy tìm căn cước cho những tộc người thiểu số theo chúng tôi có nhiều tầng ý nghĩa sâu xa để khám phá.
Trước tiên, Nguyễn Đình Tú dường như muốn đặt ra vấn đề còn hạn chế trong giới nghiên cứu nhân học, văn hóa học và dân tộc học ở Việt Nam, đó là có không ít những nghiên cứu nặng về tính lý thuyết, tầm chương trích cú, xa rời thực tiễn sống động của các tộc người. Nhiều người nghiên cứu nhân học hay dân tộc học ngày nay chủ yếu chỉ đóng phòng giấy viết, chứ không chịu điền dã, “nằm gai nếm mật” nhằm sống trải, sống cùng với những tộc người thiểu số. Từ đó cái nhìn của họ trở nên phiến diện, đầy tính phán xét khiên cưỡng và dùng cái nhìn của người miền xuôi nhằm áp đặt lên người miền ngược. Không ít những nghiên cứu dạng này lại được sử dụng lại như nguồn tư liệu thực tiễn nhằm quy hoạch, phác thảo ra những chính sách quản lý của các cấp, từ đó tạo ra những bất cập, mâu thuẫn tộc người. Những nhà nghiên cứu chuyên tâm thực địa và điền dã như Từ Chi với người Mường trước đây, và sau này là Nguyễn Mạnh Tiến đối với người H’Mông (Mèo) gần đây thực sự ít ỏi. Do đó, khi Nguyễn Đình Tú viết về chàng sinh viên trẻ tên Khoa chuyên tâm khám phá văn hóa dân tộc Vị thông qua điền dã, rồi cô sinh viên Min bay từ tận nước Úc xa xôi về Mù Pan Tẩn nhằm nghiên cứu người Vị, cho đến vị giáo sư nhân học người Pháp Rioux đầy tâm huyết với tộc người Vị, tác giả cuốn tiểu thuyết đã muốn có một cuộc đối thoại (dialogic) với các nhà nghiên cứu nhân học và dân tộc học “bàn giấy” nặng về tính hành chính hiện nay. Trong diễn ngôn tiểu thuyết, Nguyễn Đình Tú thông qua nhân vật Khoa cho rằng muốn hiểu được tộc người, cần sống trong lòng văn hóa của họ, thực hiện “ba cùng” với người dân địa phương. Muốn hiểu được tâm lý chiều sâu của tộc người, cần phải ở cùng với họ, tham gia các hoạt động văn hóa lẫn các sinh hoạt đời thường, và quan trọng nhất là phải hiểu ngôn ngữ của họ. Bản thân Min là một nữ sinh viên Đông phương học từ châu Úc xa xôi, nhưng khi muốn nghiên cứu người Vị, cô đã rất kỳ công, nghiêm túc nhằm chuẩn bị: “Đề tài mà cô tâm huyết chính là sự tồn vong của các tộc người thiểu số trong quá trình tiếp biến toàn cầu… Với Việt Nam cô chọn tộc người Vị. Ngay từ khi còn ở trường đại học, cô đã gặp các chuyên gia về Đông phương học để thụ giáo... Chính vị thủ thư này đã dạy cô tiếng Vị, chữ Vị và khuyên cô nên đến Việt Nam, tìm đến những người Vị ở Yên Châu, bởi trên thế giới, chỉ ở đó là còn những cộng đồng người Vị thuần khiết nhất”.
Nhưng người Vị là tộc người nào? Thực ra, người Vị không là ai cả, vì họ đơn thuần là một định danh có tính hư cấu của Nguyễn Đình Tú. Tác giả không lấy bất kỳ nguyên mẫu tộc người nào để xây dựng nên tộc người Vị, mặc dù không ít bạn đọc, tôi nghĩ, sẽ ít nhiều tự liên tưởng tộc người này là ám chỉ đến người H’Mông (Mèo), nhất là căn cứ vào những tư liệu như tính biệt lập, sống trên những đỉnh núi cao, nền kinh tế thuốc phiện hay vương quốc tự trị với vị vua người Vị… vốn là những đặc điểm rất gần với lịch sử người H’Mông. Lúc này, tôi lại muốn nhắc nhở chúng ta nhớ lại những di chúc bị phản bội của F.Rabelais và M.Cervantès mà Milan Kundera hay Mikhail Bakhtin vẫn thường nhắc đến. Nghệ thuật của tiểu thuyết, theo M.Kundera và M.Bakhtin là nghệ thuật của hư cấu, của tiếng cười, của những tiểu tự sự chứ không phải là sự phản ánh chính xác thực tại theo một nguyên tắc khô khan, giáo điều. Do đó, việc truy tìm một nguyên mẫu tộc người thực sự, hoặc chủ ý xem Nguyễn Đình Tú đang ám chỉ tộc người nào là một việc làm không cần thiết, nó đi ngược lại nghệ thuật của tiểu thuyết. Nhưng cũng chính vì vậy, nên người Vị có thể là tất cả những tộc người thiểu số tại Việt Nam, đặc biệt là tại vùng núi cao phía Bắc.
Khi đọc Cô Mặc Sầu, chúng tôi thấy có một sự chồng lớp, trầm tích về mặt văn hóa của nhiều tộc người khác nhau, quan trọng nhất là người H’Mông với bản tính bất khuất, gan dạ, kiên cường, sau đó là người Thái, người Mường, người Tày… thông qua món thịt chua, cách thức săn trâu, việc hiến tế hay tục mai táng… Thân phận của họ, trong bối cảnh của toàn cầu hóa hiện nay, đó là sự đánh mất bản sắc tộc người một cách nghiêm trọng thông qua việc cải đạo theo các tôn giáo phương Tây, bị kẻ xấu lôi kéo, dụ dỗ, kích động buôn bán ma túy hay các hành vi phi pháp khác, là tha hương ra nước ngoài, hoặc không còn khả năng thông hiểu chính bản sắc văn hóa, ngôn ngữ của tộc người mình. Trong tiểu thuyết, cả ba nạn nhân bị giết chết cùng nhiều người khác nữa đều là con nghiện hoặc đã từng dính vào buôn bán ma túy. Min thì bị tách ra khỏi cội nguồn từ nhỏ để tha hương đến tận nước Úc xa xôi. Còn cả tộc người Vị đông đúc tại Yên Châu, hầu như chỉ còn bà Tất Nhưng là còn nắm giữ những bản sắc dân tộc tinh túy (truyện kể folklore, ẩm thực, nghệ thuật kiến trúc…), còn lại những cán bộ xã người Vị thì hầu như đã bị nhạt phai bản sắc, các món ăn của họ cũng đã hệt như người miền xuôi. Việc đánh mất căn cước tộc người là một bi kịch. Nhà dân tộc học tự do Nguyễn Mạnh Tiến từng kể lại với tôi là ngày nay không nhiều người H’Mông trẻ còn biết chơi khèn, các lễ hội của họ, mà đặc biệt là các chợ tình đã bị thương mại hóa sâu sắc và đánh mất phần hồn cốt văn hóa. Người H’Mông ngày nay cũng ghen tuông với vợ chồng trong những chợ tình, đồ thổ cẩm của họ bán đa phần xuất xứ từ Trung Quốc và việc làm du lịch tự phát đã phá hỏng rất nhiều nền tảng văn hóa bản xứ.
Vấn đề nhức nhối của người Vị, hay nói rộng ra là các tộc người thiểu số phía Bắc miền cao đó là hoạt động buôn bán ma túy. Cô Mặc Sầu theo một nghĩa nào đó là cuốn tiểu thuyết trinh thám – hình sự trực tiếp đề cập đến tệ nạn nhức nhối này. Nhưng đây không phải là cuốn tiểu thuyết đơn thuần đề cao đến những tội ác ma túy hay quá trình phá án ma túy tài tình, mà sâu xa hơn, nó đặt ra những vấn đề có tính định mệnh nan giải của các tộc người thiểu số. Đầu tiên, họ là những người bị đánh mất dần căn cước văn hóa bản địa do quá trình toàn cầu hóa xâm thực một cách mạnh mẽ. Thứ hai, họ thiếu đi một phương thức sản xuất đủ sức nuôi sống gia đình và cộng đồng bởi sự khắc nghiệt của môi trường tự nhiên, trong khi đó, buôn bán ma túy lại mang về siêu lợi nhuận và “hàng trắng” thì luôn có sẵn ở bên kia biên giới. Cô Mặc Sầu đã đưa ra nhiều con số đáng chú ý. Chỉ một bánh heroin mua được ở vùng biên giới có giá một trăm triệu đồng, mang về đến thị xã Yên Châu đã có giá hai trăm triệu, và mang về đến Hà Nội thì có giá ba trăm triệu đồng. Đó là một thứ siêu lợi nhuận nhanh chóng thu được mà không có bất kì phương thức kinh doanh nào có thể sánh bằng. Dẫu biết là phi pháp, nhưng ở một nơi dân trí quá thấp, cán bộ xã trình độ chưa cao, chính quyền lỏng lẻo và nền kinh tế địa phương lại quá nghèo như những thung lũng Cô Mặc Sầu thì người dân rất dễ bị lôi kéo vào kinh doanh thuốc phiện. Mặc dù, cái giá phải trả cho những hoạt động phi pháp này cũng rất đắt. Bởi vì, “Trung bình (một bánh heroin – Y.T) là ba trăm năm mươi gam. Một liều ma túy mà cậu từng chơi ấy có giá bao nhiêu? Năm mươi ngàn đúng không? Mà một liều chỉ có trọng lượng không phẩy không hai gam thôi. Như vậy nếu chia ra, một bánh heroin có thể bán với giá trên tám trăm triệu đồng… Trên một trăm gam mới dính án hai mươi năm tù, trên ba trăm gam mới dính án chung thân, và trên sáu trăm gam mới dính án tử”. Vấn đề buôn bán ma túy trong lịch sử các tộc người thiểu số và sau đó là việc xung đột với chính quyền miền xuôi vượt lên trên khuôn khổ của những vụ án hình sự đơn thuần xuất phát từ lòng tham hoặc sự lôi kéo của kẻ xấu. Nó nằm trong định mệnh lịch sử của những tộc người miền cao mà những nghiên cứu dân tộc học gần đây đã chỉ ra.
Chúng ta đều biết, trong thời Pháp thuộc, xã hội người H’Mông vốn nằm biệt lập, cheo leo trên những đỉnh núi như vùng cao nguyên đá Đồng Văn đã từng xây dựng một nền kinh tế thuốc phiện, một chính quyền thuốc phiện của vua Mèo Vương Chí Sình2. Theo Nguyễn Mạnh Tiến, lợi tức từ thuốc phiện trồng tại miền cao Đông Bắc Việt Nam dưới thời toàn quyền P.Doumer chiếm đến 1/3 tổng thu thập từ thuộc địa. Như vậy, lịch sử nền kinh tế – chính trị của tộc người miền cao phía Bắc Việt Nam, theo một nghĩa nào đó gắn chặt với lịch sử của cây thuốc phiện. Muốn phá bỏ nền kinh tế tội ác này, và sau đó, sâu xa hơn là thiết lập một mối quan hệ thông hiểu giữa miền xuôi và miền ngược, phát huy năng lực và hiệu quả của chính quyền tại các vùng đất của tộc người thiểu số, chúng ta cần tôn trọng nền văn hóa bản địa, có sự hiểu biết đúng đắn, khoa học và những chính sách mềm mỏng, linh hoạt. Cần tạo điều kiện cho những tộc người thiểu số có không gian tự do, giúp họ phát triển tri thức thông qua giáo dục và mọi chính sách phải gắn với thực tiễn đời sống tộc người. Cần giúp các tộc người thiểu số có cách làm du lịch bền vững, đúng đắn, cũng như hỗ trợ họ chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế theo những ngành nghề mới, hiện đại và có hiệu quả kinh tế cao. Chỉ có như vậy mới tránh được một cách triệt để và lâu dài những tội ác, bi kịch như trong Cô Mặc Sầu.
Xét một cách tổng quan, Cô Mặc Sầu là một diễn ngôn truy tìm căn cước tộc người nhằm nỗ lực thông hiểu và bảo tồn những giá trị văn hóa bản địa. Bên dưới hình thức của một diễn ngôn trinh thám – hình sự, Nguyễn Đình Tú đã hướng các suy tư nghệ thuật của mình đi sâu và xa hơn những vụ án, hung thủ và khám phá tội ác thuần túy, nhằm đạt đến những chiêm nghiệm về phận người và số phận các tộc người ngoại biên, thiểu số cư trú ở trên những đỉnh núi cao vùng biên viễn. Nghệ thuật tiểu thuyết như thế chính là nghệ thuật hư cấu, nhưng là hư cấu về nhân tính và dân tộc tính được trái tim nghệ sĩ và lý trí của nhà khoa học nhân học viết nên. Nỗi cô đơn của người Vị, cũng giống như nỗi cô đơn của những tộc người vĩnh viễn “trăm năm cô đơn” mà tiểu thuyết lừng danh cùng tên của Gabriel García Márquez từng phác họa đến, chính là nỗi cô đơn bởi đã bị lịch sử bỏ rơi và bị cắt nghĩa dưới những mô hình khác. Do đó, tôi nghĩ, nhờ những diễn ngôn như Cô Mặc Sầu, những tộc người miền cao trong tương lai đã có cơ hội thoát ra khỏi nỗi truyền kiếp như chính tên gọi u mặc mà mảnh đất của họ đang mang vác, để bước ra những đỉnh núi du ca tự do, hạnh phúc, một lần và vĩnh viễn.
Y.T
Trường An, 19h, 11/2/2015
_____________________
1. Tzvetan Todorov (2004), Thi pháp văn xuôi, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, tr.13.
2. Nguyễn Mạnh Tiến (2014), Những đỉnh núi du ca – một lối tìm về cá tính H’Mông, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr.34-35.









