Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 18/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Phan Quang - một tầm vóc văn hóa

(Tiếp theo số trước)

Năng khiếu, khí chất và chịu trui rèn trong thực tiễn

Thật ra tôi biết đến và thật sự yêu thích Phan Quang từ khi đọc loạt bài về Đồng bằng sông Cửu Long Nơi đụng đầu lịch sử của ông đăng trên báo Nhân dân, thường là chân trang 3, khi đang học năm thứ nhất đại học báo chí. Một kỷ niệm khó quên là bài thi ngôn ngữ báo chí của tôi đạt điểm cao nhất trong toàn khóa học (cùng bài thi Kinh tế chính trị - phần xã hội chủ nghĩa được điểm 10 hiếm hoi của cơ sở đào tạo). Số là, khi làm rõ đặc trưng chính yếu của ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ sự kiện theo đề bài thi, tôi nhập tâm phân tích đoạn ghi chép trong Nơi đụng đầu lịch sử của Phan Quang khi ông chứng kiến và thuật lại buổi giao ca trực của “anh công an áo xanh” (tức công an biên phòng thời đó) nói với “anh công an áo vàng” (tức cảnh sát giữ gìn trật tự, an toàn xã hội) rằng, nhiệm vụ của chúng tôi đến đây là hết; từ nay các đồng chí có nhiệm vụ giữ gìn trật tự an ninh trong nội địa. Đoạn thuật sự kiện này nói lên một điều mà tác giả không cần gọi tên, là hòa bình đã lập lại, đất nước trên thực tế đã thống nhất rồi... Vì hồi ấy, quan điểm sau giải phóng miền Nam, thống nhất ngay cả nước cùng thực hiện một nhiệm vụ chiến lược đang có những ý kiến khác nhau. Và quan điểm của tác giả, cũng là quan điểm của báo Nhân Dân được thể hiện trong một trích đoạn bài báo chỉ vẻn vẹn có mỗi đoạn bàn giao ca trực. Đó chính là nghệ thuật sử dụng sự kiện và ngôn ngữ sự kiện của Phan Quang.

Một trong những cái tài giỏi của nhà báo là nói bằng sự kiện - ngôn ngữ sự kiện và từ đó để sự kiện tự nói lên chủ đề, ý đồ, ý định của người viết, của tác phẩm báo chí chứ nhà báo không nhảy vào cuộc mà hô hào... như người hô khẩu hiệu hay như anh hùng xa lộ. Không biết cái năng khiếu ấy từ đâu ra, nhưng trong các tác phẩm báo chí của Phan Quang thì nó cứ hiện lên ngồn ngộn sự kiện được ghi chép trung thực và được kết nối từ những chi tiết sống động, những con số đang cựa quậy cùng với những cảm xúc và ấn tượng ấm áp tình đời. Bởi thế cuốn Đồng bằng sông Cửu Long của ông đến nay được tái bản tới 5 lần, người đọc sau khi gấp lại những trang sách, thấy cuộc sống ở đấy như vẫn đang tiếp tục cựa quậy sinh sôi với bao nhọc nhằn gian khó của bà con vùng sông nước miền Tây...  

Ông tâm sự rằng trong hơn nửa thế kỷ cầm bút, hầu như ông chưa bị “tai nạn nghề nghiệp” nào; nguyên do là lúc nào ông “cũng cố gắng làm tốt mọi việc được giao ở mức tốt nhất có thể, cẩn trọng và ghi chép, cái gì chưa biết thì thật thà hỏi và kiểm tra cẩn thận, không bao giờ giấu dốt...”. Bất cứ ai tiếp xúc với Phan Quang cũng đều có thể nghiệm ra điều đó, bởi ở ông toát lên một phong thái ung dung, tự tại, điềm đạm và cẩn trọng từ con số đến ngôn từ, giọng điệu, nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, cởi mở mà sâu lắng. Hình như tôi có cảm nhận ở ông điều này có sự khác biệt với một vài đồng nghiệp của ông ở báo Nhân Dân. Chất lãng mạn của Thép Mới bộc lộ ra bên ngoài làm người ta có cảm nhận dễ dàng về phong cách hơi lãng tử; còn với Phan Quang lại điềm đạm và sâu lắng... Ngồi nghe ông kể chuyện nghề, tôi thật sự bị hút vào cái “năng khiếu bẩm sinh nơi ông” và phải chăng vì vậy ông “thuận tay” với ký, phóng sự, phân tích và nghiên cứu.... Bởi nhiệm vụ của phóng sự hay ký là tái hiện bức tranh hiện thực bằng những con người và sự kiện tiêu biểu, bởi những điều mắt thấy tai nghe, trực tiếp đối thoại trong hình thức miêu tả, cùng với những cảm xúc và ấn tượng ban đầu. Bởi thế, dù không dám so sánh, và bất cứ so sánh nào cũng khập khiễng, nhưng thú thực bản thân tôi “khoái” đọc Đồng bằng sông Cửu Long hơn là Sông Đà cũng có lẽ là như vậy.

Câu chuyện nghề với nhà văn, nhà báo, nhà văn hóa lão thành Phan Quang đang đến cận kề bữa cơm trưa, nhưng ông ngày càng tỏ ra đau đáu khi nói về “khí chất Quảng Trị” của mình. Nhân bàn về tính cách từ tốn, thận trọng, tôn trọng cấp dưới của đồng chí Trường Chinh, ông kể: Có lần Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh gọi ông lên trao đổi công việc, và có ý kiến về một vấn đề thời sự qua mấy bài báo của Phan Quang ông vừa đọc. Cấp trên nói xong, Phan Quang không ngần ngại: “Thưa anh, về điểm này, ý tôi có hơi khác anh một chút...”. Nhà lãnh đạo lắng nghe rồi từ tốn: “Công việc báo chí, anh thành thạo hơn tôi. Hôm nay tôi mời anh lên trao đổi ý kiến là để anh tham khảo, tuy nhiên anh cứ làm theo cách của anh, chẳng cần phải câu nệ cho lắm”.

Rồi ông cười, “tính khí người Quảng Trị trong tôi trước sau vẫn vậy; không nịnh cấp trên, không thay đổi ý kiến mình chỉ để làm vừa lòng cấp trên...”. Ông chỉ nói có vậy, nhưng tôi ngẫm, nếu không có được cái bản lĩnh ấy thì làm sao có thể trở thành một trí thức, một nhà văn hóa có tầm vóc. Phẩm chất cần có của một trí thức chân chính đã được bàn thảo nhiều qua các cuộc hội thảo nghiêm túc. Nhưng theo tôi có ba phẩm chất cơ bản và quan trọng. Một là, người có kiến thức nền tảng đủ rộng và đủ sâu như mảng kiến thức bách khoa, cùng với nó là kiến thức chuyên ngành, chuyên môn mà cái để thẩm định nó, thể hiện nó là sản phẩm sáng tạo cá nhân được công chúng, cộng đồng thừa nhận, chứ không phải núp bóng, dựa nhờ vào người khác để đứng tên và lấy danh. Bởi nhà văn nói chuyện với công chúng bằng và thông qua tác phẩm, qua hình tượng văn học của mình; nhà báo nói chuyện với công chúng bằng và thông qua tác phẩm, thông qua sự kiện, vấn đề thời sự và cách “thẩm” những sự kiện, vấn đề ấy. Hai là, có bản lĩnh bảo vệ chân lý, lẽ phải, chứ không phải là người chuyên “ăn theo nói leo” hoặc nịnh nọt cấp trên để mưu lợi cá nhân. Người có học vấn cao mà chỉ nhằm chiều theo ý cấp trên, bất chấp sự thật, lẽ phải để mưu cầu lợi ích cá nhân, thậm chí để “mua quan, bán chức” thì thật ra cũng là biểu hiện của sự thiếu giáo dục, thiếu nhân cách. Người như thế, không phải là trí thức chân chính.  Ba, là người nhiệt thành truyền đạt, chia sẻ thông tin, kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm cho cộng đồng, cho đồng nghiệp, chứ không bo bo vào lợi thế riêng để độc quyền nhằm thâu tóm thông tin,… Và tôi trộm nghĩ, chính những phẩm chất này nơi ông Phan Quang đã làm nên tầm vóc văn hóa một con người, với khí chất người Quảng Trị, những phẩm chất này càng toát lên mạnh mẽ, đậm đà khó trộn lẫn.

Cuối năm 1972, khi đang làm ở Ban Nông nghiệp báo Nhân Dân, báo Đảng chuẩn bị làm báo dưới bom đạn B52, ông được điều sang làm đồng Trưởng ban Thư ký tòa soạn, trong quy trình chỉ để lại Hà Nội một số cán bộ thật cần thiết cho việc xuất bản báo đều đặn hằng ngày, còn hầu hết cán bộ được phân về các địa phương làm phóng viên thường trú hoặc việc khác (cũng là một cách bảo toàn cán bộ về lâu dài). Ông đã cùng anh em đồng nghiệp, dưới sự điều hành trực tiếp của Tổng biên tập Hoàng Tùng, chuẩn bị chu đáo mọi việc, ngày đêm có mặt tại tòa báo, để bảo đảm báo ra đúng ngày giờ ngay dưới làn bom đạn B52 của đế quốc Mỹ. Có lẽ với những phẩm chất và linh cảm đã được rèn luyện trong khói lửa cuộc chiến tranh trong vùng “nơi đụng đầu lịch sử”, nhất là với nền tảng văn hóa và kỹ năng nghề nghiệp, đức tính cẩn trọng, khả năng bao quát, đã giúp ông xử lý mọi việc trơn tru và hiệu quả, bảo đảm xuất bản tờ báo Đảng trong những ngày dưới bom B52.

Có lẽ với “bộ ba” hiện hữu là nền tảng văn hóa, năng khiếu và bản lĩnh luôn được trui rèn đủ để làm nên một Phan Quang đẳng cấp “chiếu nghề” của văn báo bất phân và một nhà văn hóa tầm vóc, một chính khách được nhiều người yêu mến, kính trọng. Và bởi thế, với tầm vóc văn hóa ấy, lúc nào cũng bắt gặp nơi ông sự lịch lãm, nhẹ nhàng trong giao tiếp và với độ sâu, độ hút của những câu chuyện ông kể, độ chân thành, thẳng thắn của nghệ thuật giao tiếp cũng như hàm lượng văn hóa và tính nhân văn trong các tác phẩm của ông.

Niềm vui, nỗi buồn của một trí thức

Với ông Phan Quang, niềm vui của nghề báo là đầy ắp những chuyến đi, những chứng kiến dấu tích lịch sử của đất nước và góp phần ghi lại những dấu tích ấy với sự phân tích và cảm xúc đầy tràn.

Đầu năm 1973, Quảng Trị giải phóng. Trước khi Hiệp định Paris về chiến tranh Việt Nam được ký kết, lãnh đạo tỉnh ra báo cáo Trung ương, cuộc họp đó có Tổng biên tập Hoàng Tùng tham dự. Các đồng chí Quảng Trị nhờ ông Hoàng Tùng nhắn Phan Quang hãy thu xếp về quê, đón cha và chị gái từ Hải Thượng hiện đã sơ tán ra bờ bắc sông Hiếu. Nhưng Hoàng Tùng khuyên Phan Quang chớ vội đi, hẵng chờ đến ngày Hiệp định chính thức ký kết và có hiệu lực. Năm ấy, sau mấy chục năm, ông được cử về quê Quảng Trị “đón Tết”, chuyến công tác ấy có trợ lý là nhà báo Đỗ Quảng cùng đi. Tám giờ sáng ngày 28 tháng giêng 1973, thời điểm (về lý thuyết là vậy nhưng thực tế thì bờ nam Cửa Việt vẫn còn nóng ran tiếng súng vì quân đội Việt Nam cộng hòa muốn tái chiếm nơi đây) hai bên phải ngưng tiếng súng, chiếc xe con của ông tiếp ngay theo sau xe Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị Hồ Sĩ Thản vượt cầu phao vừa bắc qua Hiền Lương vào thị xã Đông Hà... mà trong lòng lâng lâng khó tả.

Hai năm sau, mùa xuân 1975, Phan Quang đang ở Mộc Châu, Tây Bắc. Ông đã trở lại nghề cũ, lại đi viết loạt bài về trồng và chế biến chè, nuôi bò sữa tại nông trường Mộc Châu thì có điện khẩn của tòa soạn gọi về Hà Nội, khẩn trương chuẩn bị để mau chóng vào Nam. Lúc đó báo Nhân Dân lập hai đoàn. Một đoàn do Thép Mới dẫn đầu theo Đường Hồ Chí Minh dọc Trường Sơn tiến thẳng vào Xuân Lộc. Đoàn của ông gồm năm nhà báo, do Trần Kiên làm trưởng, bám theo đường số một đi dần vào Huế, Đà Nẵng rồi tiến vào Sài Gòn, ngay sau khi được tin Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Và Phan Quang là một trong số ít người may mắn kịp có mặt tại Dinh Độc Lập, để chứng kiến lễ Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn trả tự do cho tướng Dương Văn Minh tổng thống cùng thủ tướng và nhiều quan chức khác của chế độ Sài Gòn vừa sụp đổ đang bị giữ trong Dinh được ra ngoài, trở lại cuộc sống bình thường.

Ông phấn chấn nhớ chuyện về Hà Nội năm 1954, khi ông được cấp trên điều từ Liên khu IV ra tăng cường cho báo Nhân Dân, nhờ thế lần đầu trong đời “tôi chợt gặp trời thu Hà Nội”, cũng như hào hứng kể về cuộc thần tốc vô Sài Gòn mùa xuân năm 1975. Rồi những chuyến đi châu Âu, châu Mỹ, châu Úc, Trung Đông,... với vai trò nhà báo hay tư cách Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội. Nghe ông kể mà... thèm, bởi chuyến đi nào, đi đến đâu, dù lạ dù quen ông đều có những niềm hứng khởi, và thời gian sau thế nào cũng có bài viết về người về đất, về cái hôm nay và cái ngày xưa những nơi ông có dịp ghé chân. Và tôi hiểu, tại sao ở tuổi cận kề chín mươi, ông vẫn tự hào về cuộc hành trình của nghề báo đã cho ông những trải nghiệm ngồn ngộn những chất liệu đời, giúp nghiệp văn của ông tiếp tục khai nở mùa quả ngọt, khi đã đọng đầy kỷ niệm vui buồn.

Về những trải nghiệm nghề nghiệp, có lẽ ông tự hào và phấn khích nhất là khi nhớ về những lần được làm phóng viên phục vụ Bác Hồ đi cơ sở và được Bác Hồ trực tiếp dạy bảo, hay những lần được tiếp xúc cộng việc, thân tình một số đồng chí lãnh đạo hàng đầu của Đảng và Nhà nước như Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng..., được các vị trực tiếp trao đổi công việc, chỉ đạo, bàn bạc chuyện nghề chuyện đời.

Kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời làm báo của Phan Quang, theo ông, rốt cuộc vẫn là những lần được đi theo, phục vụ các chuyến công tác của Bác Hồ. Nhớ một lần, tại một bài viết, Phan Quang nhắc đi nhắc lại chi tiết Bác Hồ đi bộ rất xa giữa cánh đồng khô hạn dưới cái nắng chang chang để thăm và động viên các đội nông dân làm thủy lợi..., sáng hôm sau, Bác cho gọi lên. Bác nói: “Bác đã đọc bài tường thuật của chú trên báo Nhân Dân. Chú viết thế là được”. Sau câu động viên, Bác  hơi cao giọng, nói gần như gắt: “Nhưng Bác hỏi chú: Chuyện Bác Hồ đi bộ giữa cánh đồng thì có gì mà nói lắm thế! Vậy xưa nay Bác Hồ chỉ ngồi xe thôi, Bác không đi bộ bao giờ sao?”.

Một chuyện khác. Khi ông viết bài trên báo Nhân Dân (tháng 5 năm 1957) phê bình một số bất cập của Tỉnh ủy Thanh Hóa trong công tác chỉ đạo sản xuất theo phương hướng “từ chiến tranh chuyển sang hòa bình”, tỉnh không phản ứng nhưng không công khai tiếp thu và tự phê bình theo như quy định. Mấy hôm sau, Bác Hồ đã viết bài báo ngắn, đầu đề: “Có phê bình phải có tự phê bình”9. Khoảng một tuần sau, dĩ nhiên tòa soạn báo nhận được và công bố lên báo bài tự phê bình của Tỉnh ủy Thanh Hóa. Và ông Phan Quang chốt lại một câu: “Với đời người làm báo, còn có gì hạnh phúc hơn là khi mình viết bài, được Bác Hồ đọc và cho ý kiến dạy bảo, nhất là trường hợp một phóng viên mặt còn non choẹt lại dám bài phê bình một tỉnh lớn và đông dân nhất nước, thế mà bài báo mọn không chỉ được Bác Hồ đọc, đồng tình, Bác còn tự tay viết bài nhắc nhở tỉnh ủy phải tiếp thu, “Có phê bình phải có tự phê bình”. Trong đời, còn có niềm vui nghề nghiệp nào lớn hơn thế?”.

Trước tết Bính Thân 2016, báo Nhân Dân có lên tiếng10 (Thứ hai, ngày 01 - 2 - 2016) phê phán hiện tượng nhìn nhận, đánh giá sai lệch về các nhân vật lịch sử. Như việc xuất bản cuốn hồi ký Xứ Đông Dương của Paul Doumer (P.Đu-me, 1857 - 1932) - Toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1897 - 1902, đã thu hút sự chú ý của nhiều người. Trên một số tờ báo, nội dung cuốn sách được giới thiệu chi tiết: “Đó là quá trình xây dựng những cây cầu Long Biên bắc qua sông Hồng, cầu Thành Thái (Tràng Tiền) tại sông Hương hay cầu Bình Lợi trên sông Sài Gòn. Đó là sự quyết tâm của Doumer trong việc xây dựng tuyến đường sắt xuyên Việt. Đó là việc Hà Nội, dưới thời cai trị của Paul, trở thành thành phố châu Á đầu tiên có điện”… Tức là nhiều tờ báo vào cuộc ca ngợi “công trạng” của toàn quyền Đông Dương Paul Doumer (P.Đu-me, 1857 - 1932) một thời, mà quên đi tính “ba mặt một con người” như Phan Quang đã từng mổ xẻ trong một bài viết cách đây đã gần chục năm.Có một sự thật không ai có thể phủ nhận là P.Doumer đến Việt Nam với vai trò một viên quan thực dân và đương nhiên, ông phải tìm mọi cách để phục vụ lợi ích của nước Pháp. Trên thực tế, trong thời gian ở Việt Nam ông đã rất mẫn cán “bình định” bằng bất cứ giá nào, rồi xây dựng bộ máy cai trị thực dân thay thế chế độ cai trị của nhà Nguyễn, khai thác tài nguyên, bóc lột đến cùng kiệt sức lao động của người bản xứ.” “Công tích” của P.Doumer trong mấy năm ở Đông Dương rất cụ thể: “Dưới triều đại P.Doumer, 3 sắc thuế được đẩy mạnh hết mức là thuốc phiện, muối và rượu. Của cải bòn rút từ người dân qua 3 sắc thuế ấy đóng vào ngân sách thuộc địa tăng từ 20 triệu đồng Đông Dương (Đ) năm 1899 lên 33 triệu Đ năm 1902, rồi vọt lên 42 triệu Đ năm 1911. Lợi nhuận của Ngân hàng Đông Dương cũng tăng theo chiều thuận với tăng thuế. Theo một nhà sử học Pháp, “công tích chính của Doumer tại Đông Dương” là tăng thuế. Ở Trung Kỳ, thuế thân và thuế ruộng đất trước ngày ông tới Việt Nam nhậm chức mới 83.000 Đ, sau đó vọt lên 2 triệu Đ năm 1899 - năm thứ 2 nhiệm kỳ toàn quyền. Ở Bắc Kỳ, 2 sắc thuế ấy cũng tăng nhanh, đạt gần 5 triệu Đ năm 1907. Trong khi đó, mọi loại thuế má người Pháp làm việc tại Đông Dương phải đóng góp vào ngân sách vỏn vẹn có 9.000 Đ/năm! Ở Nam Bộ, công cuộc khai thác và tập trung hóa ruộng đất đẩy nhanh hết cỡ: Từ 522.000 ha ruộng lúa năm 1880 tăng vọt lên 1.175.000 ha 10 năm sau. Lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long trở thành nguồn xuất khẩu lớn nhất châu Á. Trên thực tế, P. Doumer đã tạo dựng cơ sở để khi chiến tranh thế giới nổ ra, nước Việt Nam nghèo đói phải oằn mình cho “rồng Nam phun bạc, đánh đổ Đức tặc”, phục vụ chiến thắng của mẫu quốc”11.

Vấn đề là tại sao một số tác giả và tờ báo lại rốt ráo vào cuộc khen ngợi, ca tụng “công trạng” Toàn quyền Đông Dương đến như vậy, nhân một cuốn sách xuất bản, mà vô tình hay cố ý lờ đi những tội ác mà con người này đã gây ra ở Việt Nam? Có nhiều nguyên nhân, nhưng có lẽ người viết thiếu đi nền tảng văn hóa cần thiết của việc đánh giá các hiện tượng lịch sử là điều dễ nhận biết; bởi thế, hay có hiện tượng a dua, “khen chê theo kiểu hội đồng”, theo trào lưu.

Nhiều đồng nghiệp vẫn còn nhắc lại với sự chiêm nghiệm sâu sắc ý kiến của ông Phan Quang phát biểu tại Hội thảo nhân kỷ niệm 90 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam. Khi nêu ý kiến về sự phát triển báo chí hiện nay, về hiện tượng ngược với báo chí thế giới, ra đời một loạt cơ quan báo chí mới trong khi hầu tất các nước đều suy giảm, nhất là thành lập mới các kênh truyền hình trong bối cảnh hiện nay, ông nói đại ý rằng, báo chí ta như cậu ấm được chiều chuộng, đang mắc chứng béo phì và bệnh tiểu đường. Cách ví von hình ảnh của ông nêu ra thật sinh động, thấm thía và sâu sắc.

Tư thái một nhà hoạt động đối ngoại

Phan Quang không đồng tình với cách đồng nghiệp gọi ông là “chính khách”, nhưng tôi nghĩ ông thực sự có đủ phẩm chất một nhà hoạt động chính trị đối ngoại, một nhà ngoại giao chính hiệu. Ông kể: Tại một hội nghị quốc tế họp tại Bangkok cuối năm 1987, Đoàn Việt Nam được ban tổ chức xếp ngồi cạnh Đoàn Hàn Quốc. Trong bữa cơm, mọi người trao đổi danh thiếp với nhau. Lúc này ông đang làm Thứ trưởng Bộ Thông tin. Mấy tháng sau, nhận được giấy mời sang thăm Hàn Quốc. Thời gian này, hai nước chưa chính thức đặt quan hệ ngoại giao, cho nên bạn phải dùng danh nghĩa Tập đoàn Phát thanh Truyền hình Hàn Quốc KBS (Korea Broadcasting System) đứng ra mời. Các cơ quan cấp trên hơi ngần ngại, khuyên ông nên trực tiếp xin ý kiến Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch. Bộ trưởng đồng ý, còn khuyên ông nên nhận lời mời. Tuy nhiên, ông dặn thêm, trong hoàn cảnh nhạy cảm như lúc này, cần phải xin ý kiến quyết định của Thủ tướng. Sau khi nghe Phan Quang trình bày, Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc đầu cũng hơi ngần ngại, vì có nước láng giềng không muốn ta đi thăm Hàn Quốc cấp Thứ trưởng. – “Hay là anh cử ông phó của anh đi thay?”, Thủ tướng nói. Phan Quang đáp: - “Thưa anh, không phải tôi thích đi, nhưng sang Hàn Quốc lúc này là cần cho công việc các anh giao cho Đài TNVN, hơn nữa lúc này người ta đang cần mình, chứ sau này có thể khác; thứ hai là, họ mời đích danh mà mình cử cấp phó thì chắc gì họ đã nhiệt tình và sẽ hết lòng bàn việc hợp tác song phương....”. Vậy là Thủ tướng đồng ý cho Phan Quang đi Hàn Quốc (1989). Và Hội Nhà báo là tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp đầu tiên ở nước ta đặt quan hệ với đồng cấp Hàn, khá lâu trước khi hai nước chính thức kiến lập quan hệ ngoại giao, mở đường cho một sự hợp tác song phương đầy hiệu quả. Như vậy, không thể không nhận thấy “nhân tố Phan Quang” của mối quan hệ này giữa hai Hội Nhà báo và hai nước, cũng như “phẩm chất chính khách” nơi ông.

Một câu chuyện khác. Năm 2000, ông Phan Quang được Tổng thống Pháp tặng Huân chương Bắc đẩu bội tinh hạng hai. Nhân một chuyến thăm chính thức Việt Nam theo lời mời của Quốc hội ta, Chủ tịch Thượng viện Pháp Christian Poncelet trực tiếp trao Huân chương cho Phan Quang tại buổi lễ long trọng tổ chức tại Đại sứ quán Pháp. Có mặt tại buổi lễ tối hôm ấy, có đoàn Thượng nghị sĩ Pháp, Thị trưởng thành phố Toulouse cùng đoàn của mình (ông thị trưởng Toulouse là Đại biểu Quốc hội Pháp, và Toulouse là thành phố kết nghĩa với thủ đô Hà Nội) và nhiều người khác nữa. Về phía ta, có Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, Thứ trưởng Ngoại giao, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, đại diện một số cơ quan báo chí, truyền thông Việt Nam và Pháp, cùng nhiều khách mời, phần đông là công dân Pháp đang làm việc tại Việt Nam….

Theo lệ thường, sau khi được trao huân chương, đương sự có lời cảm ơn. Phan Quang cố tình phá lệ, phát biểu khá dài. Ông bày tỏ “lòng biết ơn ngôn ngữ Pháp đã giúp tôi mở một cửa sổ nhìn ra thế giới, cho tôi thêm một phương tiện nữa để làm giàu kiến thức của mình, giúp tôi khám phá tâm hồn con người ở những chân trời khác, của những thời đại khác”. Tiếp ngay sau, ông xin phép kể một kỷ niệm. Chuyện là, năm 1950 ông cùng nhà văn Bùi Hiển từ vùng địch hậu Thừa Thiên rủ nhau lên chiến khu Dương Hòa nghỉ ngơi mấy hôm lấy sức. Trong cái lán núp dưới bóng rừng sâu, hai nhà văn hào hứng đọc sách báo Pháp từ Paris vừa mới gửi sang qua đường thành phố Huế đang bị tạm chiếm. Bỗng dưng hai máy bay Spitfire của không quân Pháp phát hiện được căn cứ ta, nhào đến oanh tạc dữ dội trong nửa tiếng đồng hồ. Hai người may mắn thoát chết nhờ chạy kịp vào rừng, nhưng tất cả hành trang, bao gồm các sổ tay ghi chép, đều bị đạn bắn nát. Làm sao tránh được hờn căm trong hoàn cảnh ấy? Phan Quang nói tiếp: “Tư tưởng Hồ Chí Minh giúp tôi lấy lại sự thanh thản. Tôi lấy lại được niềm tin. Đấy (tức chiến tranh) rốt cuộc là một sự hiểu lầm, một sự hiểu lầm to lớn và thô bạo của lịch sử thật đấy, song mọi hiểu lầm đều có thể xua tan khi con người còn giữ được lý trí” (và nhờ vậy mới có buổi tối hôm nay)12.

Cử tọa vỗ tay nhiệt liệt, nhất là phía những bạn Pháp, duy có ông Đại sứ là có phần nào hơi băn khoăn. Trong bữa ăn, ông nói riêng với Phan Quang: “Lời phát biểu của ông hôm nay vượt ra ngoài thông lệ”. Kể đến đây ông Phan Quang cười: “Tôi hiểu chứ. Ai lại dài dòng ba hoa vào lúc mọi người, kể cả ông Chủ tịch Thượng viện và nhiều thượng nghị sĩ tuổi ngoại 70, đều nghiêm túc đứng nghe, khi mà bữa tiệc thịnh soạn đã bày ra phòng bên cạnh, rượu quý tỏa mùi hương thơm ngát. Nhưng tôi tự bảo, không nhân dịp này nói thẳng suy nghĩ của mình thì chẳng bao giờ còn có cơ hội”.

- Thâm ý của ông là gì?

- Tôi muốn nói thẳng với họ: Không phải tôi được các ông trao Huân chương vì tôi ủng hộ chế độ chính trị của các ông đâu. Không. Tôi biết ơn ngôn ngữ Pháp, khâm phục văn hóa Pháp, kính trọng nhân dân Pháp, nhưng tôi từng suýt chết vì bom đạn thực dân của các ông. Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy chúng tôi: ‘‘Nước Việt Nam ta nhân hậu, người Việt Nam ta không hận thù, chỉ cần hai bên đều giữ được lý trí và cùng chân thành hợp tác với nhau, mọi sự khắc tốt đẹp’’.

Ông Đại sứ Pháp thoạt đầu có hơi lo, nhưng sau khi Đoàn Thượng nghị sĩ Pháp trở về nước, ông Phan Quang nhận được thư riêng của ngài Chủ tịch Thượng viện cảm ơn nồng nhiệt, và một thời gian sau, nhân một chuyến ông sang Pháp về việc khác, Chủ tịch Thượng viện Pháp hay tin, đã mời ông cùng cả đoàn ta vào Lâu đài Luxembourg dự chiêu đãi trọng thể, để cho ông Chủ tich có dịp ‘‘một lần nữa bày tỏ cảm tình và những kỷ niệm tốt đẹp của chúng tôi sau chuyến thăm Việt Nam’’13.

Đúng là một Phan Quang ung dung tự tại, phóng khoáng mà sâu sắc với tầm nhìn văn hóa - chính trị kết nối vì đất nước, vì sự nghiệp chung. Thiếu một tầm vóc văn hóa, khó có thể có được phong thái lịch lãm tự tin, ấn tượng với cách ứng xử ở một nhà ngoại giao như thế.

Mãi còn đau đáu nỗi nhớ thương

Ông Phan Quang không bao giờ quên được nỗi đau mỗi lần nhớ lại những trận càn do Đội quân Lê Dương người nước ngoài do Pháp tuyển mộ và chỉ huy từng bao lần gây nên tại tỉnh Quảng Trị quê hương ông, và cả ba tỉnh “Bình Trị Thiên đau thương và anh dũng” nức tiếng một thời trong cả nước ta; đặc biệt về làng dân chài Mỹ Thủy anh hùng, tại một vùng biển nghèo cuối huyện Hải Lăng, gần nơi ông ra đời - cái làng nghèo ấy mọi người dân cùng một lòng kháng chiến và đã có lần phục kích diệt một số tên xâm lược. Quân đội thực dân Pháp trả thù, chỉ trong mấy ngày càn quét đã tàn sát hơn 500 dân thường, trong đó có rất nhiều phụ nữ và trẻ em. Cái làng Mỹ Thủy mà ông từng có nhiều dịp tới lui và được đồng bào đùm bọc những ngày ông công tác vùng địch hậu, nơi đó ngày nay Nhà nước cùng bà con địa phương đã xây lăng mộ tập thể đẹp và khá khang trang, có bức tường tưởng niệm bao quanh, mặt tường khắc đầy đủ tên họ tất cả các nạn nhân.

Giọng ông Phan Quang trầm hẳn xuống, mặt ông buồn.

Tôi hỏi tiếp. Ngày nay, đến tuổi thọ cận kề 90 này, ông còn có những nỗi buồn nào khác bên cạnh các niềm vui? Ông đáp: Những chuyện buồn do nhân tình thế thái là chuyện thường tình ở đời mọi lúc mọi nơi. Thiếu gì chuyện, nhớ mà làm chi! Chẳng hạn, có khi ta hết lòng vì bạn bè, đồng nghiệp, ta vô tư giúp đỡ, tạo điều kiện để bạn bè thăng tiến, nhưng rồi có người nào đó ứng xử không như ta chờ đợi, dù ta chẳng mong muốn gì khác ở họ ngoài chút tình người... Nhưng thôi, các bạn ơi, băn khoăn về những chuyện ấy làm chi! Cuộc đời luôn có vui buồn. Con người không ai là thiên thần. Thời buổi nào chẳng có người tốt và người không tốt....

Có lẽ đến tuổi nào đó, khi có điều kiện ngồi lại với những chuyện vui buồn, người ta mới chiêm nghiệm ra nhiều thứ giá trị và nhìn lại những lối đi của con người; nhưng cuộc đời luôn cuốn đi như dòng chảy; và cuộc đời cũng có những khúc tự biến mình thành đất màu mỡ cho những mặt trái có cơ nảy nở, sinh sôi14.

Phải chăng từ cách suy tư ấy mà Phan Quang mỗi lần viết bút ký kỷ niệm về những người ông kính trọng, ngưỡng mộ hoặc viết về bạn bè cùng trang lứa, những đồng nghiệp đã ra đi, ông toàn nhắc những chuyện đáng trân trọng, những kỷ niệm đáng để nằm lòng, đúng như mấy dòng ông ghi đầu bộ sách “Thương nhớ vẫn còn” (đã tái bản mấy lần):

                 Con người không ai là thiên thần

                 Nhớ về những người đã xa

                 Tôi chỉ nhớ

                 Những điều đáng nhớ.

Phải chăng đấy là một phong cách chiêm nghiệm, một thái độ ứng xử với đời, với người, với bản thân mình của một nhân cách văn hóa, một tầm nhìn văn hóa và thái độ nhân văn với đời, với người…

Khi đứng dậy chia tay nhà báo Phan Quang sau một hồi được say sưa trò chuyện với ông, hình ảnh một ông già râu tóc bạc phơ với ánh mắt sáng tinh đời, làn da trắng hồng với đôi chỗ bắt đầu «xuống nước», nụ cười rất tươi và rất hiền hòa nồng hậu, dù thính giác hơi bắt đầu nặng, nhưng bàn tay ông lướt trên màn hình ipad vẫn rất tinh nhanh với vẻ mặt điềm tĩnh, có lẽ hình ảnh ấy in chiếm mãi trong tâm trí tôi giữa một ngày Đông chí ở Thủ đô – ngày rét nhất ở các tỉnh phía Bắc trong mấy chục năm nay. Nhớ mãi một nhà văn, nhà báo Phan Quang, một nhà ngoại giao – một chính khách với một tầm vóc văn hóa, một người con Quảng Trị quê hương tôi.

N.V.D

____________

9 Có in lại trong Toàn tập Hồ CHí Minh, tập 8.

10 Xem http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/28695402-nham-lan-ve-lich-su-dan-toi-ngo-nhan.html

11 Xem  Phan Quang: P.Doumer: Ba mặt một con người - báo Người lao động, 11.10.2009),

12 Bài nói của Phan Quang đã đăng toàn văn trên báo Nhà báo và Công luận số ra ngày 21-4-2000, in lại trong tập Về diện mạo báo chí Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 92-95.

13 Lâu đài Luxembourg là nơi đặt trụ sở Thượng viện Pháp.

14 Xem thêm: Tại sao các quốc gia thất bại; nguồn gốc của quyền lực, thịnh vượng và nghèo đói của các tác giả Daron Acemuglu và James A. Robinson; Nxb Trẻ; 2014.

NGUYỄN VĂN DỮNG
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 259

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

19/04

25° - 27°

Mưa

20/04

24° - 26°

Mưa

21/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground