Có thể nói thật khó viết về Phan Quang, khi tôi có ý định chia sẻ với các bạn bè, đồng nghiệp từ một góc nhìn về ông, nhất là muốn gửi gắm điều gì đó đối với các đồng nghiệp trẻ, với sinh viên báo chí - truyền thông đang nguyện đi theo “cái nghiệp cầm bút” vì sự phát triển bền vững của đất nước mình.
Khó khăn không phải ở chỗ hàng chục nhà báo, nhà văn, nhà thơ... bậc đàn anh cũng như bao đồng nghiệp dồi dào bút lực đã viết về Phan Quang với các góc nhìn khác nhau, như viết về một hiện tượng nhà báo tài ba, lãng mạn và phóng khoáng; một nhà văn trí tuệ uyên thâm với tầm bang giao “xuyên lục địa”, hay một Phan Quang “văn – báo bất phân” cái khó cũng không phải ở chỗ ông là một trong những nhà báo lão thành cách mạng tài ba, thuộc bậc “chiếu trên” như cách nói của cố nhà báo lão thành Hoàng Tùng rằng “đã làm nghề thì phải có chiếu nghề”... cái khó cũng không nằm ở chỗ, Phan Quang cũng như nhiều đồng nghiệp của ông ở báo Nhân Dân đã tạo nên một đẳng cấp “chiếu trên của nghề báo chí Việt Nam đương đại”, một thời làm nên lịch sử báo Nhân Dân oanh liệt, xứng đáng ngọn cờ tư tưởng của Đảng và một trong những cái nôi ươm mầm, bảo vệ hệ giá trị văn hóa Việt của chúng ta. Đó là một thời công chúng luôn ngưỡng mộ các cây bút chính luận của báo Đảng như Hoàng Tùng, Xuân Thủy, Nguyễn Thành Lê, Quang Đạm, Trần Kiên, Nguyễn Hữu Chỉnh, ...; một thời công chúng mến mộ tìm đọc các cây bút phóng sự, ký, bút ký tài ba với các phong cách nổi trội như Thép Mới, Phan Quang, Trần Minh Tân, Lê Điền; rồi cây bút trào phúng chuyên tiểu phẩm như Thợ Rèn,... Vâng, có một thời hào quang như thế của báo Đảng đã sinh ra, nuôi dưỡng một đội ngũ “đẳng cấp” của nghề báo Việt Nam; và cũng chính họ là rường cột làm nên một thời hào quang ấy của tờ báo Đảng.
Cái khó có lẽ ở chỗ, Phan Quang là một hiện tượng hiếm gặp trong nền báo chí và văn đàn Việt
Chia sẻ với đồng nghiệp, người viết khó có thể thống kê hết các tác phẩm của ông và điều đó bạn đọc sẽ tự tìm hiểu trong hơn 50 đầu sách với hàng chục ngàn trang viết đã được in và tái bản chủ yếu ở các nhà xuất bản nổi tiếng; bài viết này cũng không thể bao quát hay khơi gợi được nhiều những giá trị được nhìn nhận trên nhiều góc độ về hoạt động của ông trong gần 70 năm qua, bởi đó là vấn đề cần được các nhà nghiên cứu thống nhất nỗ lực với các cuộc hội thảo nghiêm túc... Bài viết chỉ nhằm khơi gợi một cách tiếp cận nhà báo, nhà văn Phan Quang dưới một góc độ văn hóa, như một nhà văn hóa. Thiết nghĩ, đó là vấn đề không chỉ có ý nghĩa riêng đối với giới báo chí - truyền thông hiện nay.
Bởi trước khi cầm bút và với ý thức góp phần để lại những giá trị cho đời, người ta luôn “tự nhiên” tạo cho mình nền tảng văn hóa; trước khi làm việc gì liên quan đến cộng đồng, người ta cần chú trọng nền tảng văn hóa; và trước khi có ý định trở thành nhà chính trị, càng cần tích lũy “đủ độ” cho nền tảng văn hóa để mọi hoạt động của mình đều có ý nghĩa nhân văn và để lại cho đời những giá trị được lưu giữ với những gì trân quý nhất. Bởi trong bất cứ hoạt động gì liên quan đến báo chí – truyền thông, chính trị hay khoa học, nếu thiếu đi nền tảng văn hóa cần và đủ, sẽ khó có thể có được thái độ nhân văn trong xem xét các sự kiện và vấn đề của đời sống...
Phan Quang trong suốt từ năm 1945 đến nay, từ khi tham gia hoạt động cách mạng, dù làm gì, được giao nhiệm vụ hay trọng trách gì, bất cứ trên rừng hay dưới biển, ở khu vực nông thôn hay chốn đô thành, ông đều chú tâm tích trữ vốn liếng văn hóa cho bản thân, theo lời dạy của Cụ Hồ là học để làm việc, làm người, làm cách mạng; học mãi để tiến bộ mãi...
Thời miền Nam đất nước còn bừng bừng khói lửa chiến tranh, ông không chỉ lặn lội ở các chiến trường ác liệt, mà còn bao quát tầm bút đến “Đất nước hoa hồng” bên bờ Hắc Hải, nghiên cứu cách thức, kinh nghiệm bạn đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn, rồi sang Đức học kinh nghiệm phát triển chăn nuôi theo quy trình công nghiệp. Miền Nam vừa giải phóng, ông một thời lăn lộn với Đồng bằng sông Cửu Long và cả miền Nam Trung Bộ, để lại cho đời mấy tập ký: Đất nước một dải, Hạt lúa bông hoa, Lâm Đồng – Đà Lạt, Đồng bằng sông Cửu Long… với cái nhìn bao quát, mênh mang các vùng lúa đồi khoai và cận cảnh cấp một cái nhìn đến nền nông nghiệp từ miền núi đến trung du, rồi mênh mông đồng bằng miền sông nước, cuộc sống nông thôn và nông dân như một cuộc thưởng thức, chiêm nghiệm và khảo cứu, làm sâu lắng lại đáy lòng người đọc....
Hàng chục tập ký, bút ký, phóng sự của Phan Quang không chỉ là tái hiện những vùng đất, những mảnh đời về những góc phố làng quê đang trăn trở đi lên hay đang khoe mình giữa thiên nhiên kỳ thú, không chỉ là những bức tranh hiện thực được tái hiện bởi những điều mắt thấy tai nghe, trực tiếp đối thoại trong hình thức miêu tả, cùng với những ấn tượng và cảm xúc ban đầu, mà còn cho công chúng một bức tranh hiện hữu được đo đạc, được chiêm nghiệm, được phân tích, khảo cứu có khi như cận cảnh đến từng mét vuông của các vùng sông nước… Chỉ riêng với các tập sách này, như cách phân loại của các học giả châu Âu, Phan Quang thuộc vào loại các nhà văn của dòng văn học tư liệu, văn học chính luận; tức là những nhà văn chuyên khảo cứu và ghi chép hiện thực bởi những sự kiện, vấn đề hôm nay và với những con số chân xác cùng với những ấn tượng của những giây phút lịch sử - những nhà văn chép sử. Và theo GS, TSKH Prôkhôrốp1, không phải nhà văn nào cũng được “xếp” vào dòng văn học tư liệu, văn học chính luận như vậy; đó trước hết phải là những nhà văn - nhà báo - nhà chính luận chuyên “bám mặt” với cuộc sống hiện thời và thường chứng kiến những sự kiện và vấn đề thời cuộc nóng hổi, những dấu tích hay khoảnh khắc lịch sử; đó phải là nhà chính trị, nhà văn hóa có đủ tầm vóc và nghệ thuật văn chương để nhìn nhận và cắt nghĩa các sự kiện và vấn đề lịch sử ở những bước ngoặt mà nhân loại sẽ không bao giờ quên,… Ở Nga, những nhà văn như thế có thể kể đến như Lép-tôn-xtôi, Đốt-xtôi-ép-xki, Mác-xim-gooc-ki, Bê-lin-xki,... Điều đặc biệt là, thưởng thức tác phẩm nào của Phan Quang, bạn đọc cũng dễ “bắt mạch” được hương vị và khí chất quê hương Quảng Trị - sự chân xác, thái độ trung thực, cái tôi đằm thắm và mạnh mẽ,....
Bạn văn của ông đã từng thốt lên rằng, chỉ riêng với tác phẩm văn dịch Nghìn lẻ một đêm với hơn 30 lần tái bản, Nghìn lẻ một ngày với hơn 10 lần tái bản tại năm nhà xuất bản tên tuổi nhất nước, đã đủ đưa Phan Quang lên đỉnh cao văn đàn Việt Nam đương đại. Và khó có thể kể hết những vấn đề thời cuộc qua các bình luận, tiểu phẩm, tản văn kịp thời, cùng những giá trị để lại cho đời sau trong các tác phẩm văn chương. Ông khảo cứu nền văn hóa Ả-rập tại cuốn Nghìn lẻ một đêm và Văn minh Ả-rập ra mắt bạn đọc ở tuổi 87 sau gần 40 năm tích cố tư liệu (và đó cũng là cách ông Phan Quang tự học không ngưng nghỉ); trước đó là Bên mộ vua Tần, Thơ thẩn Paris, Chia tay trên sông… Ông dịch và luận bình theo phong cách riêng của mình, từa tựa cảm nhận như nhà thơ cảm nhận cái đẹp bí huyền độc đáo qua mấy chục Sử thi huyền thoại Đông Tây, chắt lọc từ châu Đại Dương đến Bắc châu Mỹ... Tầm bao quát ấy, không phải ai cũng có diễm phúc được trải nghiệm; và kể cả những người được đi nhiều hơn thế, cũng không dễ có người để lại cho đời những áng văn chương - khảo cứu và cảm nhận đầy tràn chi tiết, sự kiện, nghiên cứu và cảm xúc.
Tôi tự ngẫm, vậy tại sao từ một thanh niên yêu nước, theo Đảng vào rừng, ra trận, lăn lộn khắp mọi chiến trường và mọi vùng đất gian khó, không có cơ hội được học hành tập trung tại trường lớp bài bản, lại có được một Phan Quang lừng lững giữa đời văn, đời báo với những tác phẩm từ văn viết đến văn dịch tái bản hàng chục lần2, những tác phẩm báo chí3 đầy cảm xúc ấn tượng với đầy chất nghiên cứu và cả những công trình khảo cứu từ Trung Hoa đến tận Ả-rập, Trung Đông4. Và với Phan Quang, ông còn là nhà ngoại giao – một chính khách thực thụ, dù ông không nhận mình là chính khách, nhà quản lý báo chí, truyền thông,...
Câu hỏi đeo đẳng suốt trong tôi là điều gì đã làm nên một Phan Quang tài ba, lãng mạn, đậm đà khí chất, bản lĩnh và trí tuệ trên cả văn đàn và báo giới, trong cả hoạt động đối ngoại và văn hóa nơi chính trường,...? Tất nhiên là câu hỏi này khó có thể trả lời trong một bài viết. Những hiện tượng như thế, cần một nghiên cứu nghiêm túc, công phu của một tập thể tâm huyết và trách nhiệm trước nghề báo và nghiệp văn, trước công chúng và lịch sử.
Cũng theo mạch nguồn từ văn hóa, bước đầu tìm hiểu hiện tượng Phan Quang. Rõ ràng là, không chỉ về sự trưởng thành của một nhà báo, sức lớn mạnh lâu bền của một tờ báo hay cộng đồng xã hội, ngày nay người ta lý giải nguyên nhân của phát triển bền vững và ổn định của hầu tất các hiện tượng xã hội là từ nguồn cơn của vấn đề văn hóa và thể chế xã hội5. Văn hóa không chỉ làm nên diện mạo và nhân cách một con người, tầm vóc một quốc gia, dân tộc, mà quan trọng hơn, nó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển bền vững và ổn định. Và nền tảng văn hóa có lẽ là sợi dây kết nối, là tín hiệu dẫn dắt tôi tìm hiểu hiện tượng Phan Quang.
Nền tảng văn hóa gia đình – Ngọn lửa nghề bừng lên theo năm tháng...
Sinh ra ở mảnh đất “những đồi sim không đủ quả nuôi người”, “con chim bỏ trời quê ta đi xứ khác” và là “nơi đụng đầu lịch sử”, Hải Thượng (làng Thượng Xá) của Phan Quang Diêu (tên thật của Phan Quang) không chỉ nổi danh bởi là cơ sở dân cư được tuyên dương Anh hùng đầu tiên tại Khu Trị Thiên thời chống Mỹ xâm lược, mà còn nổi tiếng bởi từ thời xưa làng đã có lắm tướng lĩnh tài danh và người đỗ đạt - từ thế kỷ XVI đã có nhiều danh tướng nổi tiếng khắp vùng. Ông nội của Phan Quang học giỏi, đỗ cử nhân và được bổ làm quan đến chức Ngự sử dưới triều vua Tự Đức. Nhưng cũng vì trực tính, ba lần can vua và ba lần bị hạ chức; sau đến thời Thành Thái, ông được phục chức, nhưng chức thấp hơn. Sau khi nghiên cứu kỹ lịch sử và theo lời chính thân sinh ông kể lại, chính Phan Quang cho rằng, ba lần cách chức chủ yếu là do cụ thuộc phái chủ chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nên bị phái chủ hòa trong triều đình thời ấy áp đảo. Bởi thế, thân sinh của ông Phan Quang, con út, đến ngày cụ nội được phục chức mới được nhận hàm Ấm sinh. Sách Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim có chép: Ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu 1885, khi quân Pháp chiếm thành Huế, triều Nguyễn “thất thủ kinh đô”, Vua Hàm Nghi cùng ba bà Thái hậu được tướng Tôn Thất Thuyết phò tá ra Quảng Trị, đêm hôm ấy đã nghỉ tại nhà “một người Bá Hộ” (ấy chính là ông nội của Phan Quang, sau khi bị cách chức, tước hết phẩm hàm, người dân kính trọng gọi là ông Bá Hộ). Lớn lên một ít, Phan Quang có lần hỏi cha, sao trước nhà mình giàu, nay nghèo thế, đến nỗi không có khả năng nuôi các con ăn học dễ dàng như nhiều gia đình khác cùng xóm cùng làng, cha trả lời, tại nhà ông quan mà vua đến rồi vua đi không trở lại thì rồi kiểu gì cùng khánh kiệt.
Được học hành sớm, trong một gia đình truyền thống đỗ đạt thành danh, nhưng Phan Quang lại sớm lên đường theo cách mạng năm 17 tuổi, trước khi Cách mạng Tháng Tám thành công (ông sinh năm Mậu Thìn, 1928). Sang mùa thu năm 1948, sau hơn hai năm công tác vùng sau lưng địch, ông được tổ chức cử đi học nước ngoài, thì lại “bị” Hồng Chương giới thiệu “ép” sang làm báo Cứu quốc Liên khu 4. Thế là Phan Quang bước vào nghề báo “như một đứa trẻ tự dưng bị ném xuống ao, phải cố mà ngụp lặn nếu không muốn chết chìm”6. Năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Phan Quang được gọi ra Bắc, tăng cường cán bộ cho báo Nhân Dân chuẩn bị xuất bản hằng ngày tại thủ đô.
Từ khi bỏ dở việc học ở nhà trường, quá trình học tập, tích lũy của Phan Quang không những không hề bị ngắt quãng, mà thường xuyên tiếp tục không quản ngày đêm, dù ở rừng rú, nông thôn hay đô thị, bên ngọn đèn dầu hay dưới ánh điện quang. Ông học bởi đơn giản là khát khao học để làm việc, học để tiến bộ mãi như Bác Hồ từng dạy. Và cái sự khát khao này nơi ông như một dòng máu dày chất dưỡng văn hóa được tụ truyền từ gia đình. Bởi thế, tôi càng hiểu thêm rằng, hệ giá trị văn hóa chỉ có thể được tồn tại và phát triển trong quá trình lưu truyền – truyền tải từ người này sang người khác, từ nhóm người này sang nhóm người khác và từ cộng đồng này sang cộng đồng khác, từ đời này sang đời khác. Nếu không có dòng chảy lưu truyền các hệ giá trị văn hóa được truyền tải ấy trong mỗi con người từ mỗi gia đình, dòng họ và mỗi miền đất quê hương... thì có lẽ mọi giá trị văn hóa sẽ dần bị lãng quên, thui chột với thời gian...
Vậy nên những vốn tiếng Pháp, tiếng Anh và chút ít chữ Nho nơi ông không những không bị lụi quên trong môi trường chẳng mấy ai giao tiếp bằng tiếng ngoại quốc và vốn cổ tạm thời bị coi nhẹ, mà tại môi trường nào ông cũng chú tâm trui rèn, cũng làm cho nó tiếp tục sinh sôi nảy nở. Rồi ông tự rèn luyện và cập nhật tiếng Pháp, học thêm tiếng Anh, rồi dịch sách văn học ra tiếng Việt để người Việt được thưởng những tác phẩm văn học nước ngoài nổi tiếng. Nghìn lẻ một đêm và Nghìn lẻ một ngày liên tục ra mắt bạn đọc và tái bản tới hơn ba chục lần là do thế. Không chỉ dịch văn chương, ông còn nghiên cứu văn hóa qua văn chương, qua hình tượng và các tình tiết văn học; rồi mỗi khi có dịp đến Trung Đông và qua sách báo nước ngoài, ông lại tranh thủ mọi cơ hội để nghiên cứu, khảo cứu về nền văn minh Ả-rập để kết nối cái nền văn minh ấy từ trong tác phẩm, từ nhân vật văn chương ra đời thường của một nền văn hóa vĩ đại7. Đó là cuốn sách (Nghìn lẻ một đêm và văn minh Ả-Rập) có tính khảo cứu được ông cho ra mắt bạn đọc khi đã đến tuổi 87. Còn Bên mộ Vua Tần là cuốn tập hợp 17 bài ký về đất nước và con người Trung Hoa qua nhiều địa danh lịch sử, gắn với những dấu tích văn hóa lịch sử từ Bắc Kinh, Thiên Tân, Thẩm Dương, Thiểm Tây, Giang Tô,... Nam Kinh thủ đô của mười triều đại vua Trung Hoa.... Riêng một bài ký ngắn Bên mộ Vua Tần, được dùng làm đề chung cho cả tập sách, là dịp để Phan Quang ngẫm ngợi và luận bình kín đáo về những cuộc tranh giành quyền lực liên miên tại xứ sở Vạn lý trường thành, từ đời Tần Thủy Hoàng cho đến tận gần đây, gây cho những người dân thường biết bao cơ cực, khổ ải.
Cuốn Đồng bằng sông Cửu Long của Phan Quang in lần đầu năm 1981, tái bản lần thứ 5 (NXB Lao Động, Hà Nội - 2014) không hẳn là một tập khảo luận chuyên đề về địa lý - kinh tế - xã hội học. Đó là một tập bút ký được ghi chép, tái hiện theo quan niệm của Maxim Gorki là kết hợp miêu tả với khảo cứu, cùng với những cảm xúc, ấn tượng và nhận xét thể hiện cảm xúc và suy ngẫm của người viết trước con người và thiên nhiên Nam Bộ. “Như vậy đó, hiện đại và hoang sơ, bí ẩn và cởi mở, giàu có và khó nghèo chen lẫn, đồng bằng sông Cửu Long hiện lên trước mắt ta ngồn ngộn sức sống” – Phan Quang đã thốt lên như vậy. Quả thực, với tầm vóc văn hóa và cái nhìn sắc nhạy của nghề báo, cảm nhận của Phan Quang cho đến nay vẫn là dòng cảm hứng chủ đạo cho vùng đất đẹp thơ mộng, rộng mênh mang và giàu tiềm năng nhưng cư dân vùng này vẫn cực nhọc, lam lũ, vẫn khó khăn chồng chất.
Không tính cả mấy chục (hơn 50) đầu sách văn học và báo chí, riêng ngần ấy việc thôi qua một vài tác phẩm, quy trình và cung cách ghi chép, cung cách khảo cứu ấy8, Phan Quang đã xứng tầm vóc một nhà văn hóa; và chính cái nền tảng phẩm chất văn hóa ấy, nguồn năng lượng văn hóa ấy làm tỏa sáng ngọn lửa nghề báo nghiệp văn nơi ông suốt “hơn 60 năm không rời cây bút”, như lời GS.VS. Hoàng Trinh viết trên báo Nhân Dân năm 2008, nhân mừng Phan Quang thọ tám mươi, hơn bảy năm về trước.
Theo cách nhìn của Ngô Thảo, Phan Quang là một người khiêm cung, hồn hậu, ông là người có rất nhiều bạn bè trong giới chính khách và văn hoá. Hai tập Thương nhớ vẫn còn với ký ức về gần 60 nhân vật đương thời ông đã gặp, với những chi tiết về ngôn từ, những nét tính cách, tiểu sử và tác phẩm cho bạn đọc thấy được tầm vóc từ các lãnh tụ Hồ Chí Minh, các đồng chí Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Văn Linh… các nhà khoa học, nhà văn hóa Trần Văn Giàu, Lương Định Của, Nguyễn Lân, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Khắc Viện, Hoàng Tùng… các văn nghệ sĩ Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Văn Bổng, Bùi Hiển, Trần Hoàn, Nguyễn Văn Thương, Điềm Phùng Thị, Nguyễn Tuân… Đọc những trang viết khiêm nhường mà thân thiết, hiểu một số những người bạn của ông qua các trang viết, bạn đọc có thể biết vị thế và tầm vóc văn hóa và con người nhân văn của tác giả.
Nhà báo Trương Minh Tứ cảm nhận khi đọc Thương nhớ vẫn còn “Tôi dừng lại, đọc chậm ở bài viết “Tiếng lòng Viên Tĩnh”, là cõi đi về của nhà thơ Chế Lan Viên, nơi nhà báo Phan Quang nhiều lần về thăm trước và sau ngày nhà thơ qua đời. Đối với Phan Quang, Chế Lan Viên là người anh về tuổi đời và nghề báo, nghiệp văn, do đó trong hồi ức của ông luôn thể hiện một sự thành kính, chân thành và nồng hậu. Thắp nén hương cho nhà thơ nơi Viên Tĩnh Viên ở Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh, nhà báo Phan Quang có những quan sát thật xúc động: “Cảnh quan bên ngoài nay khác trước nhiều lắm, nhưng cái làm tôi xúc động mỗi lần có dịp trở lại sau ngày anh qua đời là nhiều thứ trong nhà hầu như nguyên vẹn. Dường như anh Hoan vẫn đâu đây, anh vừa chạy ra ngoài có việc gì đấy để rồi đột ngột xộc vào ôm choàng lấy bạn. Phòng khách và cũng là nơi làm việc của anh chị gần như ngày trước…”. Cũng qua trang viết của nhà báo Phan Quang, người đọc có thể cảm nhận được nhờ có mảnh vườn bé bỏng này, nơi Chế Lan Viên từng tự bạch: “Mảnh vườn bé bỏng vốn không tên/ Xanh um chỉ có màu xanh cỏ/ Tôi đặt cho lòng Viên Tĩnh Viên” mà nhà thơ tìm được không gian yên tĩnh để miệt mài làm việc, lưu lại cho đời một phần quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của mình. Qua lời kể của nhà báo Phan Quang, trước mắt chúng ta hiện lên một Chế Lan Viên mặc dù bệnh tình bủa vây vẫn không ngừng thao thức, trăn trở, trách nhiệm với bạn văn, với thơ, với đời, vẫn chạy đua với quỹ thời gian hạn hẹp còn lại để viết. Thư Chế Lan Viên viết cho nhà báo Phan Quang: “...Năm nay tôi đề bốn cái tựa sách, trong đó có tập thơ anh Lành (Tố Hữu), tập thơ Hàn Mặc Tử...”.
Có thể nói bất kỳ ai từng đọc, cũng thật sự rung cảm và ấn tượng với bài viết của Phan Quang, khi Phan Quang viết về người bạn đồng nghiệp - nghệ sĩ nhân dân Bạch Diệp, người thuộc lớp cán bộ được điều về báo Nhân Dân đợt tiếp quản thủ đô Hà Nội và chuẩn bị xuất bản báo hàng ngày, ông dành những trang viết thấm đẫm tình đồng nghiệp và đậm chất đời, chân thành và nồng hậu, qua đó người đọc biết thêm về đời tư “đoạn trường” của người nghệ sĩ tài hoa này (Bút ký Lá Trắng Vu lan). Nhiều người đã từng xem phim do Bạch Diệp đạo diễn với những bộ phim làm lay động lòng người như Ngày lễ thánh, Điện Biên Phủ, Ai giận ai thương, Huyền thoại mẹ, Hoa ban đỏ…, nhưng ít ai biết rằng trong đời sống tình cảm, người đàn bà ấy có những uẩn khúc riêng. Bởi trước đó Bạch Diệp từng là người yêu của nhạc sĩ tài hoa Tử Phác; sau đó được một nhà lãnh đạo địa phương trí thức, đẹp trai yêu nhưng chị từ chối và quyết dứt áo trở về Hà Nội sum vầy với gia đình, thế nhưng “như là định mệnh níu kéo người nghệ sĩ, bảo chờ làm bà hoàng ngắn ngủi của ông vua thơ tình? “Tôi cầm đóa dạ lan hương/ Trong tay. Đi đến người thương cách trùng…”. Nhà báo Phan Quang kể chuyện người bạn đồng nghiệp một cách chân tình: “…Lễ thành hôn nàng Bạch Diệp với nhà thơ Xuân Diệu, mà người mai mối đầy nhiệt tình là Tổng biên tập Hoàng Tùng, tổ chức rôm rả tối hôm ấy tại ngôi biệt thự nhìn ra Hồ Gươm, cạnh cây đa cổ thụ báo Nhân Dân. Chẳng được bao lâu, anh em rỉ tai nhau “Đêm nào nó cũng ra ngồi khóc một mình ở vườn hoa”…Đọc “Lá Trắng Vu lan”, mới biết thời ấy, sau ngày hòa bình lập lại, ở báo Nhân Dân có cô phóng viên Hà thành Bạch Diệp đi làm hàng ngày vẫn diện áo dài tha thướt, thường dẫn bạn đồng nghiệp về thưởng trăng trên sân thượng ngôi biệt thự cuối phố Bà Triệu của gia đình. Thật đẹp và lãng mạn. Thế rồi cô phóng viên ấy đã thay chiếc áo dài bằng cái sơ mi trắng cổ lá sen, được tổ chức phân công về tỉnh nghèo, làm tờ nội san đoàn cải cách ruộng đất. Vậy mà Bạch Diệp vẫn chưa thôi mơ màng. Thư chị gửi cho nhà báo Phan Quang viết: “Diệp xa Hà Nội vừa đúng tám tháng rồi đấy. Nếu ở Hà Nội lúc này chắc Diệp đã lấy xe đạp đi vòng lên đường Cổ Ngư chơi một mình rồi… Đêm hôm nay sao lặng lẽ thế này. Hình như là đêm chủ nhật. Lâu lắm rồi, đêm nay Diệp mới thấy nhớ Hà Nội, nhớ đến gần như muốn khóc…”. Ít lâu sau đợt thâm nhập ba cùng, Bạch Diệp chuyển sang lĩnh vực điện ảnh…
Có lẽ, với tầm nhìn văn hóa và thái độ nhân văn ở tầm vóc nào, Phan Quang mới có được những trang viết đầy ắp tình đời, tình người làm lay động lòng người về các đồng nghiệp, chia sẻ với các số phận sâu lắng đến như vậy.
Đầu tháng 4 năm 1975, trên đường thần tốc vào Sài Gòn, nhà báo Phan Quang ở Đà Nẵng được vài hôm. Thời gian ngắn ấy, ông tham dự một cuộc tọa đàm của các ký giả Sài Gòn đang có mặt tại thành phố này. Trong số đó có Trúc Ly, Chủ tịch Ban Chấp hành Phân bộ ký giả miền Trung; Lương Sĩ Trung, ký giả báo Đông Phương, Mặc Lan, phóng viên báo “Tiền tuyến” của quân đội Sài Gòn… và nhà văn Nguyễn Văn Xuân với danh nghĩa cố vấn của phân bộ ký giả… Cuộc gặp này, ông đã có lần nhắc đến trong một bài báo. Nhưng là người khiêm tốn, ông không nói rõ chính ông là người đề nghị Thành ủy Đà Nẵng tổ chức cuộc gặp mặt đó. Thú thực, nếu chỉ lăm lăm cầm bút mà thiếu tầm nhìn văn hóa, thì làm sao nhà báo Phan Quang có được ý tưởng gợi ý để thành phố Đà Nẵng tổ chức được cuộc gặp mặt ý nghĩa này. Với nhà báo Phan Quang, mỗi sự kiện đều thể hiện một tầm nhìn văn hóa và thái độ nhân văn đối với cuộc đời là thế; bởi nếu không, các sự kiện cứ trôi đi theo năm tháng. Có lẽ, mỗi sự kiện lịch sử đều có tầm vóc của nó, và đều có tiềm năng thông tin hay truyền tải thông điệp lịch sử; nhưng tiềm năng ấy có được khơi thức hay không lại tùy thuộc vào tầm nhìn, năng lực và khả năng khơi thức của nhà báo.
Được dịp tìm hiểu Phan Quang và đọc một số đầu sách của ông, tôi mới nghiệm ra rằng, khi nhà báo, nhà văn có được tầm vóc và nền tảng văn hóa đủ rộng, đủ sâu thì có lẽ đương nhiên ở con người ấy có được nhân cách sáng, có được tầm nhìn văn hóa và thái độ nhân văn với cuộc đời, với sự nghiệp của đất nước, của nhân dân cũng như có được sự nồng hậu trong cách kết nối, cách nhìn trong các quan hệ.... Được như thế, nhà báo sẽ luôn hướng tầm mắt của mình theo chiều hướng phát triển của dân tộc và vì sự phát triển ấy, mở ra theo chân trời góc biển, chứ không hướng vào những góc khuất hay xó bếp cuộc đời để giật gân câu khách và làm tổn hại đến bao số phận. Và như vậy, làm gì cũng cần có nền tảng văn hóa để hoàn thiện nhân cách, và hoạt động chính trị, báo chí, văn học,….càng cần nhiều hơn thế để tránh khỏi bị những xô đẩy của cuộc sống đời thường có thể làm méo mó giá trị và nhân cách. Tầm vóc văn hóa không chỉ làm nên diện mạo và nhân cách được kính trọng, mà còn tạo thế vững tồn với thời gian...
(Còn tiếp...)
N.V.D
___________
1 GS,TSKH, khoa Báo chí ĐHTH Matxcova mang tên Lômô-nô-xốp (MGU).
2 Nghìn lẻ một đêm đã tái bản 32 lần, Nghìn lẻ một ngày 12 lần, Những ngôi sao ban ngày 5 lần, Một mình giữa đại dương 5 lần, Sử thi huyền thoại Đông Tây 2 lần…
3 Hàng chục đầu sách tác phẩm báo chí và khảo cứu về Đồng bằng sông Cửu Long, tái bản 5 lần.
4 Bên mộ vua Tần, Thơ thẩn Paris, Nghìn lẻ một đêm và văn minh Ả-rập.
5 Xem Tại sao các quốc gia thất bại, Nxb Trẻ 2014.
6 Trích tư liệu ông trả lời phỏng vấn.
7 Xem Nghìn lẻ một đêm và văn minh Ả-rập.
8 Xem Bên mộ vua Tần.









