|
Đ |
ối với báo Thống Nhất, tôi không phải là loại có thủy, có chung như một số anh chị em khác. Báo ra số đầu tháng 5.1957 thì tôi mãi đến tháng 6.1958 mới được điều về và sau ngày giải phóng miền Nam, lúc báo kết thúc nhiệm vụ thì tôi đã vào chiến trường Trị Thiên Huế từ gần 3 năm trước. Tuy vậy, nếu tính riêng về thâm niên trong cuộc đời làm báo của tôi thì thời gian công tác tại báo Thống Nhất là quãng thời gian dài nhất, tâm đắc nhất, có nhiều kỷ niệm sâu sắc nhất.
Sự việc không phải khởi đầu từ tôi mà từ tờ báo. Ngay lúc mới ra đời, do tình hình đất nước bị chia cắt, chạm vào tình cảm thiêng liêng nhất của toàn dân, tờ báo đã có một sức thu hút rất mạnh, không những với bạn đọc mà cả đối với những người viết báo. Có thể nói như là nó thuộc về một cõi riêng, cõi của tâm thức con người ở bất cứ nơi nào, thuộc bất cứ thành phần xã hội nào. Chỉ nói riêng cái trụ sở của tờ báo, tất nhiên là do tình cờ nhưng cũng có lẽ như do một định mệnh nào đó, lại đặt số 80 đường Nguyễn Du, một cái lầu ba tầng xoay mặt về phương Nam, mỗi lần lên sân thượng, tôi lại vụt có ý nghĩ như lên một chóp "vọng cố hương" giữa thủ đô Hà Nội. Những ngày đó, tôi đang yên vị ở tòa soạn tập san Sinh hoạt Văn hóa của Bộ văn hóa, tự nhiên sinh ra "dị tâm", cứ mong ước được chuyển sang tờ báo mới để có một phạm vi hoạt động rộng rãi hơn, phù hợp với hoàn cảnh và tâm hồn mình hơn. Vừa gặp lúc tờ báo đang cần biên tập viên người miền Nam, thế là duyên may gặp gỡ, chỉ qua một cuộc trao đổi ngắn ngủi giữa hai tòa soạn, tôi đã trở thành người của báo Thống Nhất. Thư ký tòa soạn lúc đó là anh Phan Thao, sau khi nghe tôi trình bày nguyện vọng, đã bố trí tôi về tổ miền Bắc, đi viết phóng sự về sự nghiệp xây dựng và cũng cố hậu phương, làm bàn đạp cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.
Lúc bấy giờ, đang còn sung sức, lại được đi thênh thang trên toàn miền Bắc, mở rộng tầm mắt, bồi bổ thêm kiến thức về địa lý lịch sử đất nước - chưa nói là về sau, năm 1970, còn được tòa báo cử vào đoàn nhà báo Việt Nam đi thăm nước Cộng hòa nhân dân Ba Lan nữa - tôi thấy rất thú vị. Nhưng dù sao nơi tôi thích đi nhất là Qảng Bình và Vĩnh Linh. Vì mấy lẽ: Đây là một vùng đất quen thuộc, dễ nắm được tính cách và tâm hồn con người hơn; đã thế, lại còn gặp được nhiều bà con và bạn bè cũ, vừa kết hợp làm thêm một số bài thơ để bổ sung cho tập Nắng Hiền Lương mà tôi đang chuẩn bị gởi Nhà xuất bản văn học. Chính tại đây tôi đa viết bài "Gởi lại", sau khi in vào tập, đã được "Tác gia xuất bản xã" của Trung Quốc chọn dịch in trong tập chiến đấu đích Nam Việt (Miền Nam Việt Nam chiến đấu) ra đời năm 1964 tại Bắc Kinh. Một dịp may hiếm có nữa, cũng do những chuyến đi công tác này, tôi còn viết được bài phóng ự "Cuộc đổi đời ở nơi xưa kia chó phải ăn đá" (*) cho tờ tuần báo Wochenpost của nước Cộng hòa dân chủ Đức. Số là tờ tuần báo này, tôi không hiểu do yêu cầu thế nào mà đã thông qua đại sưa quán nước họ ở Hà Nội đề nghị Vụ Báo chí Bộ Ngoại giao ta giúp cho họ một bài phóng sự về một vùng ở vĩ tuyến 17. Vụ báo chí gọi điện thoại đến Bộ biên tập báo Thống Nhất yêu cầu viết giúp cho bạn. Anh em tòa soạn không ai nhận viết cả,kể cả anh Phạm Hữu Tùng, anh Đặng Ngọc
Bài gởi lên Vụ Báo chí một thời gian vẫn chưa nghe họ trả lời được hay không gì cả, anh Sắc và tôi đều sốt ruột. Bỗng một hôm anh Kỳ đến họp Bộ biên tập, vừa gặp tôi anh đã bắt tay, vui vẻ báo tin: "Bài của ông Wochenpost nó đăng rồi, xin chúc mừng!". Rồi anh vỗ vai tôi: "Ít nhất nó cũng gởi biếu ông một cái đài Stenr". Đài Stenr là loại đài bán dẫn gọn nhẹ, có thể xách tay như đài Nhật, do Cộng hòa Dân chủ Đức, nước tiến bộ nhất về khoa học kỹ thuật trong phe xã hội chủ nghĩa sản xuất, lúc bấy giờ mà có một chiếc xà thì đã "oai" lắm, "sang" lắm. Tôi về kể lại với nhà tôi, cả hai vợ chồng đều mừng rơn. Nhưng rồi cứ chờ mong dài cả cổ mà chẳng thấy đài gởi đến. Ít lâu sau, anh Sắc nhận được cú điện thoại ở Bộ Ngoại giao nhắn tôi lên. Tôi ra đi rất xăng xái, lòng tràn đầy hy vọng. Nhưng đến nơi chẳng nghe Vụ Báo chí nói đến đài đơ gì cả, họ chỉ theo phép xã giao mời uống trà, tỏ lời cảm ơn tòa báo và tôi đã viết giúp bài rồi bỏ bì trao cho tôi 10 đồng, bảo là nhuận bút Vụ trả theo chế độ trao đổi văn hóa với nước ngoài, bên nào trả cho bên ấy. Hóa ra thế. Đến lúc này mới biết anh Kỳ lầm tưởng bài của mình cũng như bài của anh lúc qua thăm đã viết cho báo bên ấy, khiến mình mừng hụt. Dù sao tôi cũng vẫn cảm thấy vui thích và tự hào vì đã viết giúp được cho tờ báo của mình một bài "đối ngoại", được có tên trên báo nước ngoài và nhất là đã góp phần giới thiệu một mảnh đất nhỏ và nghèo khó của quê hương lên mặt báo phương Tây. Cứ tưởng mọi việc vậy là đã qua đi, không ngờ, nhân bài báo đó, Đại sứ quán nước bạn đã tổ chức một bữa cơm thân mật, mời đại diện Bộ biên tập, tòa soạn và tác giả đến dự. Hôm đó, anh Kỳ, anh Sắc và mấy anh phụ trách tổ biên tập đều đi. Trước khi ngồi vào bàn ăn, ông Tùy viên văn hóa Đại sứ quán đã đứng lên nói mấy lời cảm ơn báo Thống Nhất đã giúp cho báo bạn và mong rằng sự việc này sẽ mở đầu cho một thời kỳ cộng tác chặt chẽ hơn giữa hai tờ báo. Thay mặt Bộ biên tập, anh Kỳ cũng đứng lên vui vẻ tiếp nhận lời đề nghị này.
Đây là một kỷ niệm khó quên của tôi trong thời gian công tác tại tổ miền Bắc. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn cất giữ bài báo đã dịch ra tiếng Đức này, dù rằng không biết bạn có sắp đặt lại hay sữa chữa ít nhiều gì không, bởi chẳng có bạn giỏi Đức ngữ để nhờ xem, có hai bản thảo cũng đã vô tâm để thất lạc từ lúc nào không rõ.
Tôi ở tổ miền Bắc cho đến cuối năm 1960 thì được chuyển sang Tổ văn nghệ, lúc này do anh Phạm Hữu Tùng làm tổ trưởng. Khi tôi nhận mục thơ và mục giới thiệu sách viết về đấu tranh thống nhất thì tổ đã tổ chức xong hai đợt thi truyện ngắn trong hai năm 1959 và 1960. Về hai đợt thi này, tiếc báo cũ đã không còn, anh Tùng lại đang ốm nặng, quên lửng gần hết mọi sự, tôi chỉ còn nhớ là anh Giang Nam - một bạn viết trong vùng giải phóng ở Liên khu 6 - đã được tặng thưởng giải ba với truyện ngắn Những người thợ đá. Lý do tôi nhớ dai như vậy là vì tôi có một kỷ niệm đơn phương với anh từ khi bắt tay vào mục thơ. Lúc bấy giờ, tình hình miền
Không lâu sau cuộc thi này, để chuẩn bị cho cuộc đón tiếp Đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc, Vụ tuyên truyền của Ủy ban Thống Nhất lại đặt vấn đề với báo Thống Nhất giúp tập hợp bài, biên tập cho hai tập thơ, một của anh Thanh Hải, một của anh Giang Nam - hai nhà thơ tiêu biểu nhất của vùng giải phóng lúc đó - để Nhà xuất bản Văn học kịp in vào quý đầu năm 1962. Tất nhiên là tòa soạn không thể từ chối và như số phận đã an bài, tôi lại được giao phó toàn bộ công việc. Tôi nhận trách nhiệm này, thực ra cũng còn do tình cảm của riêng mình với hai anh. Anh Thanh Hải, đối với tôi, không hề xa lạ. Chúng tôi đã quen thân nhau từ trong cuộc hội nghị văn nghệ Phân khu Bình Trị Thiên tại Cùa (Cam Lộ, Quảng Trị) năm 1952. Ngày tập kết, anh được phân công ở lại. Vì mối tình thâm ấy, khi ra thăm miền Bắc trong đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam do giáo sư Nguyễn Văn Hiếu làm trưởng đoàn, trước cả lúc cùng Đoàn đến thăm báo Thống Nhất một đêm anh đã "lẻn" đến thăm tôi tại nhà tập thể 59, Trần Hưng Đạo, và "hai đứa" (2) đã cầm tay nhau, cười mà rưng rưng nước mắt. Còn anh Giang Nam, tuy chưa quen biết nhau, nhưng qua lớp học về thời kỳ quá độ tại ấp Thái Hà, tôi có gặp người em chú bác của anh và anh này đã cho tôi biết tên họ, tuổi tác, quê hương cùng tính tình, hoàn cảnh hoạt động và ý hướng về thơ ca của anh. Tất cả những phát kiến trên cộng với sự phó thác các bài thơ của anh cho Tổ văn nghệ báo Thống Nhất đã khiến hình ảnh anh trong tôi không khác "một người nhà". Hai tập thơ này vì vậy về phần tôi, tôi đã cố gắng hết sức để khỏi phụ lòng hai bạn, hai đồng chí.
Tập hợp, biên tập xong, tôi mang theo cả bản thảo sang Nhà xuất bản Văn Học. Anh Khương Hữu Dụng, lúc đó là cán bộ Tổ thơ của nhà xuất bản được giao đặc trách, cũng đã làm công tác biên tập với tất cả nhiệt tình đối với hai tập thơ đầu tiên của miền
* * *
Trên đây, tôi chỉ kể lại mấy chuyện tâm đắc nhất đối với mìn trong hơn 14 năm công tác tại báo Thống Nhất, còn như những chuyện vui buồn khác, chẳng hạn như chuyện nhiều nhà văn, nhà thơ xem việc viết cho báo để tự động viên hoặc tự biểu hiện mình, chuyện tiếp đãi khách văn thường ngày hay cuối năm, chuyện có khi được lòng người này, mất lòng người nọ, chuyện có lúc in ấn sai một li đi một dặm, chuyện có lần quá nể cấp cao, không dám đề nghị chữa lại vài câu thơ, thậm chí vài chữ… thì khó kể xiết. Thì có gì đâu, anh cán bộ nào cũng vậy, bộ biên tập nào cũng vậy, ai chẳng có khi sai. Không thể có một tấm huân chương nào không có mặt trái mà lại. Điều cốt yếu là trước sau báo Thống Nhất đã được xem như là một trong những tờ báo của miền Bắc được cả hai miền, được cả kiều bào ở nước ngoài yêu thích, gởi gắm, ai cũng muốn có phần đóng góp của mình.
Tháng 10 năm 1972, tôi được lệnh của Ban Tổ chức Trung ương điều vào chiến trường Trị Thiên Huế nhận nhiệm vụ mới. Tôi giã từ tòa báo, giã từ anh chị em, lòng không tránh được một mỗi niềm bâng khuâng. Lúc đã vào hoạt động trong vùng mới giải phóng, đêm nào cũng vậy, nhất là những đêm vừa đọc xong tờ báo Thống Nhất mới gởi tới từ chiều, tôi lại nằm thao thức, nghĩ về các trụ sở báo có cái sân thượng "vọng cố hương" cũ. Bởi nơi đó - và cùng với nó là cái nhà tập thể chật chội nhưng dạt dào tình cảm Bắc Nam ở số 59 Trần Hưng Đạo - đã khắc in vào tim não tôi những hình ảnh thân thương, những kỷ niệm sâu sắc, cuốn hút cả một đoạn đời, biến nó thành không thể nào quên được của mình.
L.A
______________________
(1) Ngày trước ở Quảng Trị, nhân dân các huyện phía
(2) Chữ dùng trong bài thơ tôi viết đón anh:
Trại Cùa họp giữa vòng máy bay quần liêng
Bế mạc rồi, hai đứa xuống Thanh Hương
Anh đi vào miệt Đại Lược, Vĩnh Xương
Tôi trở ra vùng Kim Giao, Cố Lũy
Giặc vừa càn, mất bao nhiêu đồng bào đồng chí
Ta đem thơ về rịt vết thương đau.









