Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 18/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Những biên độ sáng tạo nhân vật lịch sử trong văn xuôi hư cấu lịch sử sau đổi mới

Cảm quan và ý hướng về nhân vật giữ một vai trò quan trọng trong ý thức nghệ thuật và mô thức tự sự lịch sử của người cầm bút. Bởi lẽ suy cho cùng, nhân vật là nơi thử thách và cũng là nơi khẳng định rõ nhất bản lĩnh, tài năng, phong cách, cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn. Và đó cũng là một trong những bình diện thể hiện sinh động nhất giới hạn trong biên độ sáng tạo, hư cấu, tưởng tượng của người nghệ sĩ.

Nhân vật lịch sử - câu chuyện không mới nhưng luôn “nóng” trên văn đàn Việt

Nhân vật và những biên độ, giới hạn sáng tạo, hư cấu vẫn luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà văn viết về đề tài lịch sử, và là tâm điểm trong cuộc trao đổi, tranh luận của cộng đồng diễn giải. Tính từ thời điểm Nguyễn Huy Thiệp “đại náo làng văn” với bộ ba truyện ngắn lấy chất liệu thời Quang Trung, Gia Long (Kiếm sắcPhẩm tiếtVàng lửa) đến nay đã gần 30 năm (1988 - 2016), nhưng những vấn đề ông đặt ra từ trong tác phẩm của mình vẫn chưa có hồi kết. Trong những vấn đề ấy, việc xây dựng hình tượng nhân vật Quang Trung (Phẩm tiết) là câu chuyện được nhắc đến nhiều nhất trong các cuộc tranh luận, trao đổi của người cầm bút, giới nghiên cứu, phê bình, và đông đảo công chúng độc giả. Gần như cùng với thời điểm này, sự xuất hiện của Yveline Feray và bộ đôi Vạn XuânLãn Ông lại càng hâm nóng văn đàn vốn đang dậy sóng sau “cơn địa chấn” Nguyễn Huy Thiệp. Một lần nữa, câu chuyện về nhân vật lại được nhắc tới khi bàn về văn xuôi hư cấu lịch sử. Trong tiểu thuyết Vạn Xuân, nữ văn sĩ người Pháp với tư tưởng tự do, cái nhìn dân chủ, bình đẳng của phương Tây đã đưa vĩ nhân lịch sử Lê Lợi và Nguyễn Trãi trở lại chiều kích Con Người bằng việc khai thác đời sống tính dục của Nguyễn Trãi, và lối sống có phần bản năng, thô tục của Lê Lợi.

Mặc dù có những điều cần phải trao đổi, tranh luận với Nguyễn Huy Thiệp và Yveline Feray về cách thức tiếp cận và xây dựng nhân vật, song công bằng mà nói, tác phẩm của họ phần nào đã ảnh hưởng đến quan niệm, cảm thức và lối viết về lịch sử của các nhà văn Việt Nam, cũng như cái/cách nhìn và tâm thế thụ hưởng lịch sử của cộng đồng độc giả lúc bấy giờ.

Sau sự xuất hiện đầy bão táp của Nguyễn Huy Thiệp và Yveline Feray, văn đàn Việt Nam (chính thống và phi chính thống) tiếp tục chứng kiến những tác phẩm gây bão: Mùa mưa gai sắcGia phả (Trần Vũ), Trở về Lệ Chi viên(Nguyễn Thúy Ái), Hội thề (Nguyễn Quang Thân)… Trung tâm cơn bão vẫn là những tranh cãi về biên độ hư cấu nhân vật lịch sử. Sự nỗ lực làm mới, làm khác trong việc tiếp cận, xử lí chất liệu lịch sử là điều cần khuyến khích trong các sáng tạo về lịch sử; song đôi khi “sự tùy tiện”, “phóng tay”, “phá phách” quá đà đã khiến nhiều nhân vật lịch sử (Quang Trung, Trần Thủ Độ, Nguyễn Trãi, Thị Lộ) trong truyện ngắn của Trần Vũ và Trần Thúy Ái bị méo mó, văn chương về lịch sử mất đi giá trị nhân bản và tính chân thực của nó1. Còn với Hội thề, bên cạnh ý hướng “giải minh lịch sử” đáng ghi nhận, Nguyễn Quang Thân vẫn chưa khiến người đọc thật sự thuyết phục bởi cái nhìn cùng cách thức xây dựng nhân vật Nguyễn Trãi và các tướng lĩnh Lam Sơn có chiều chưa tương xứng với tư thế, tầm vóc nhân vật, và bản chất, tinh thần thời đại.

Có thể nói, tác phẩm có thật sự để lại dấu ấn đậm nét trong lòng độc giả hay không một phần nào đó phụ thuộc rất nhiều vào khả năng sáng tạo, phân tích, giải mã, luận giải nhân vật. Trên thực tế, nhiều sáng tác ưu tú trong giai đoạn này ở một khía cạnh nào đó đã xây dựng thành công hệ thống nhân vật có thật và hư cấu trong lịch sử. Đó cũng chính là dấu hiệu rõ nét nhất thể hiện sự đổi mới trong quan niệm, cảm thức, loại hình nhân vật; bộc lộ sự chuyển biến trong tư duy, phương thức tự sự trong các sáng tạo về đề tài lịch sử của các tác giả đương đại.

Nhân vật lịch sử và/từ những biên độ sáng tạo

Viết về quá khứ đã qua, công việc của tiểu thuyết gia là làm sống lại lịch sử bằng việc khám phá, phân tích những bí ẩn, khuất lấp của lịch sử, lí giải lịch sử từ số phận cá nhân và tìm ra sợi dây nối kết các vấn đề từ quá khứ tới đời sống hiện tại. Khi ý thức người nghệ sĩ được khai phóng, nảy sinh nhu cầu hình dung và thụ hưởng lịch sử theo cách thế riêng của mình, dẫn đến vị thế và kinh nghiệm của mỗi cá nhân được đặt ngang bằng với kinh nghiệm và kí ức cộng đồng. Nhà văn có nhu cầu nhận thức lại lịch sử, giải mã những góc khuất, lấp đầy những khoảng trống, khoảng trắng, hoài nghi chân lí, thụ hưởng lịch sử bằng điểm nhìn văn hóa, triết học lịch sử và tinh thần nhân văn hiện đại.

Thay vì khẳng định, tuyệt đối hóa lịch sử, người ta có thể đặt ra những giả thuyết, những khả năng có thể xảy ra, những con đường mà lịch sử có thể diễn tiến. Lịch sử không thể lặp lại nhưng con người hoàn toàn có thể “bắt” lịch sử tái diễn trên nhiều con đường khác nhau, từ đó tìm cho mình và cộng đồng những bài học kinh nghiệm sâu sắc. Và từ đó, với tư cách là thành tố quan trọng trong ý thức, tư duy nghệ thuật của nhà văn, nhân vật được mở rộng về biên độ hư cấu và tưởng tượng.

Từ biên độ sáng tạo: các loại hình nhân vật lịch sử

Các sáng tác về đề tài lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Mộng Giác, Nam Dao, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Quang Thân, Trần Thu Hằng, Phạm Ngọc Cảnh Nam, Thái Bá Lợi, Uông Triều, Phùng Văn Khai, Lưu Sơn Minh… đều thể hiện tinh thần nhận thức lại lịch sử với mong muốn nhận chân các giá trị quá khứ một cách sâu sắc và toàn vẹn, nối kết với thực tại hôm nay để khai phóng về phía tương lai. Cái nhìn về lịch sử của nhà văn giai đoạn này mang màu sắc và kinh nghiệm cá nhân rõ nét. Các tiểu thuyết gia thiên về luận giải, phân tích, đối thoại hơn là mô tả, minh họa lịch sử. Sự diễn giải ấy bao chứa quan niệm mới về diễn ngôn lịch sử. Không có một thứ chân lí lịch sử duy nhất, không có một diễn ngôn thống trị, trung tâm, mà chỉ có lịch sử trong cảm nhận, hình dung chủ quan của cá nhân nhà văn, và sự tồn tại đa dạng, bình đẳng của các diễn ngôn về lịch sử. Từ đây mở ra chân trời mới cho những tưởng tượng và diễn giải lịch sử, làm xuất hiện nhiều loại hình nhân vật, cùng với đó là nhiều khuynh hướng, lối viết độc đáo, mới lạ.

Nhân vật trong tiểu thuyết được nhìn nhận, khám phá trong muôn vàn mối quan hệ đời tư, thế sự, khiến nó trở nên gần gũi, đời thường hơn bao giờ hết. Ngoài những suy tư, trăn trở về số phận con người trong các cuộc biến thiên lịch sử, các nhà văn còn “giải lịch sử”, soi rọi nhân vật dưới góc độ đời tư - thế sự - nhân văn: khát vọng tự do và tình yêu đôi lứa, hạnh phúc gia đình, giải phóng bản năng, bi kịch tâm hồn, thân phận con người... Những chủ đề mang tính nhân bản có tầm phổ quát này đã kiến tạo nên loại hình nhân vật đời tư - thế sự - nhân văn, đem lại sức ám ảnh khôn nguôi cho nhiều tác phẩm tiểu biểu trong giai đoạn này: Hồ Quý LyMẫu Thượng Ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác), Nguyễn Du (Nguyễn Thế Quang), Đất trời, Gió lửa (Nam Dao), Sương mù tháng Giêng (Uông Triều), Trần Khánh Dư (Lưu Sơn Minh), Thị Lộ chính danh (Võ Khắc Nghiêm)…

Lịch sử lúc này trở nên thật gần gũi, đời thường khi mang gương mặt của khát vọng tự do và tình yêu đôi lứa. Cả Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Mộng Giác, Nam Dao, Nguyễn Thế Quang đều dùng tự do làm “nốt nhấn” trong cấu trúc nhân cách của các vĩ nhân. Với những con người “khổng lồ” như Hồ Quý Ly (Hồ Quý Ly), Lê Lợi, Nguyễn Trãi (Đất trời), Quang Trung (Sông Côn mùa lũ), Nguyễn Du (Nguyễn Du), khát vọng đó đã thành bão tố rung chuyển cả thời đại. Dẫu biết rằng cái giá phải trả không hề nhỏ của cuộc canh tân đất nước, Hồ Quý Ly dám chấp nhận trả giá, vượt lên căn bệnh “ngu trung” của thời đại để cứu Đại Việt khỏi bờ vực của sự khủng hoảng. Quang Trung không tự trói mình trong đám thư thi lễ nghĩa của tầng lớp hủ Nho hết thời, chấp nhận hành động “tàn nhẫn”, “có tội” với gia đình và dòng tộc để làm những điều mà với ông là cần thiết cho vận mệnh dân tộc. Còn Nguyễn Du sẵn sàng đối diện với quyền uy, chủ động đón nhận bi kịch “tha nhân” để truy tìm giá trị đích thực của tự do và khai phóng sáng tạo. Và Nguyễn Trãi dám đặt cọc bằng máu và sinh mệnh của dòng tộc bảo vệ cho tư tưởng nhân nghĩa, thân dân của mình. Dẫu thất bại, mang tiếng xấu muôn đời như Hồ Quý Ly hay gặt hái vinh quang, để lại tiếng thơm muôn thuở như Quang Trung, hoặc chịu bi kịch tru di tam tộc như Nguyễn Trãi, song họ đều là những nhân cách lớn, lớn trước hết là khả năng dám là mình, dám dấn thân và chịu trách nhiệm về những gì mình làm.

Chủ đề tình yêu có một sức hút kì diệu, nó cho thấy từ sâu thẳm tính người, nhân loại khi đi tìm ý nghĩa đích thực của đời sống đều gặp nhau ở điểm hẹn tình yêu. Trong Sương mù tháng Giêng (Uông Triều), bên cạnh mạch chảy cuồn cuộn của những chuyển vần lịch sử, là dòng chảy âm thầm, ám ảnh và bất diệt của tiếng gọi tình yêu, khát vọng bản năng, dục vọng quyền lực, hữu hạn của kiếp nhân sinh. Vị tướng tài Trần Khánh Dư, với những chiến công oanh liệt góp phần xoay chuyển tình thế cuộc chiến suốt một đời ám ảnh về mối tình oan nghiệt của mình với công chúa Thiên Thụy. Phạm Nhan gian xảo, mất hết tính người, trong sâu thẳm nhân tính của mình lại day dứt về mối tình đầu ngây dại với Nhiên, thảng thốt, yếu mềm trước tiếng gọi vô hình của cội nguồn kí ức. Trong Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác), người anh hùng đánh Nam dẹp Bắc, bách chiến bách thắng Nguyễn Huệ luôn ân hận về mối tình đầu ngây dại với An. Tình yêu trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly lại là phép thử để Nguyễn Xuân Khánh phát hiện ra phần tự nhiên, thành thật, thầm kín nhất trong mỗi con người, kể cả Hồ Quý Ly, một khối ý chí khổng lồ, một bản lĩnh phi thường. Với Trần Khánh Dư trong tiểu thuyết cùng tên của Lưu Sơn Minh, mối tình định mệnh, trớ trêu với Thiên Thụy như một vết hằn trong cuộc đời sóng gió của ông ngay cả khi đức cao vọng trọng đến lúc sa cơ lỡ vận; để lại những cơn bão lòng không nguôi từ lúc sống cho đến tận cuối đời; và những khoảng trống không thể khỏa lấp trong từng khoảng khắc hiện tồn, lẫn những ám ảnh, giấc mơ, vô thức.

Nếu như nhân vật của tiểu thuyết lịch sử những giai đoạn trước còn khá đơn giản trong tính cách, nhất phiến trong tư tưởng, chân dung chủ yếu khắc họa bằng hành động và lời nói thì nhân vật giai đoạn này được nhìn nhận ở tính đa trị, lưỡng diện, nhiều chiều. Nhà văn đã đặt các nhân vật trong vô vàn mối quan hệ đời thường, để nhân vật đối thoại với chính mình, xoáy sâu vào phần khuất lấp và bi kịch nội tâm, nơi có sự giao tranh giữa ánh sáng và bóng tối, phi thường và đời thường, khát vọng và dục vọng, hữu thức và vô thức, nhằm tìm ra “tiếng nói tối hậu về con người”. Những vùng mờ trong cuộc đời, những gai góc trong tính cách, những khuất lấp trong nhân tính, những bí ẩn trong tâm hồn, những đa đoan trong số phận và bi kịch của Nguyễn Huệ (Sông Côn mùa lũGió lửa), Lê Lợi (Đất trờiHội thề), Nguyễn Trãi (Oan khuấtHội thề), Hồ Quý Ly (Hồ Quý Ly), Trần Khánh Dư (Sương mù tháng GiêngTrần Khánh Dư)… được các nhà văn luận giải sâu sắc, chân thực. Suy cho cùng, dẫu là các nhân vật lịch sử, các vĩ nhân, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, huyền thoại tôn giáo, có công hay có tội, thì trước tiên họ cũng là con người, mà đã là con người, tất cả luôn bị tác động bởi muôn vàn mối quan hệ phức tạp, bị bủa vây bởi những giới hạn thường tình của kiếp nhân sinh. Lịch sử lúc này được soi rọi từ chiều sâu thế giới nội tâm nhân vật, được khám phá ở từng trạng huống hiện sinh, và kết tinh trong mỗi số phận, bi kịch cá nhân trong dòng xoáy của lịch sử: bi kịch của dục vọng và ý chí quyền lực, bi kịch cô đơn, bi kịch bị lựa chọn, bi kịch đánh mất bản thể…

Từ biên độ sáng tạo: một mẫu hình nhiều “phiên bản”

Sự mở rộng biên độ hư cấu, sáng tạo lịch sử cho phép các nhà văn lựa chọn tái hiện cùng một giai đoạn, thời điểm lịch sử, lấy cảm hứng cùng một nguyên mẫu chung, lại có thể có những cách tiếp cận, cái nhìn/cách nhìn, sự luận giải và lối viết khác biệt. Những nhân vật lịch sử một thời như Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Thị Lộ, Quang Trung, Trần Thủ Độ, Trần Nhân tông, Trần Khánh Dư, Hồ Quý Ly… tưởng chừng như “đóng đinh” trong kinh nghiệm, hiểu biết của cộng đồng, nay một lần nữa được sống trong nhiều cuộc đời với những dáng vẻ, tính cách, số phận, bi kịch khác nhau.

Chọn Nguyễn Trãi là nhân vật trung tâm trong sáng tác của mình, Nam Dao, Nguyễn Quang Thân, Bùi Anh Tấn, Hoàng Công Khanh… đã có những khám phá mới mẻ và tinh tế về vĩ nhân này. Nếu như trong Hội thề, Nguyễn Quang Thân khía sâu vào bi kịch cô đơn, lạc loài của Nguyễn Trãi trong thân phận “nửa quan nửa tù”, giữa đám quần thần tướng lĩnh của một triều đại đang bắt đầu sửa soạn ngôi thứ; thì trong Đất trời, Nam Dao lại khai thác ở vị Thái Sơn Bắc Đẩu của làng Nho Việt này những phương diện nhân bản nhất của một con người: con người đời tư và con người tính dục. Ở một diễn giải khác, Bùi Anh Tấn trong Oan khuất lại khắc họa nên bức chân dung tinh thần của Nguyễn Trãi từ khi sinh ra với số kiếp trời định; rồi những biến cố, bước ngoặt lớn lao trong sự nghiệp và cuối cùng là nỗi oan ức, bi thương của số phận. Còn với Hoàng Công Khanh trong Vằng vặc sao Khuê, bằng cảm thức ngợi ca, khẳng định, ông đã tái hiện Nguyễn Trãi với vẻ đẹp bi tráng, bi hùng trong những khoảng khắc lịch sử vinh quang, chói sáng của dân tộc.

Bên cạnh Nguyễn Trãi, Quang Trung - Nguyễn Huệ cũng là một trong những nhân vật lịch sử được nhiều tiểu thuyết gia lựa chọn phục dựng. Để lí giải xung đột trong đời sống chính trị và tâm thức người Việt, tìm ra mẫu hình văn hóa chung, Nam Dao trong Gió lửa khám phá Nguyễn Huệ trong mối xung đột cá nhân và xã hội, dưới áp chế của quyền lực, và gắn với hành trình truy tìm những giá trị vĩnh hằng của tự do, dân chủ. Còn với Sông Côn mùa lũ, Nguyễn Mộng Giác đặt Nguyễn Huệ trong những mối quan hệ phức tạp và khám phá người anh hùng này ở khía cạnh đời thường nhất, để thấy ông là người nặng ân tình và cũng bị những giới hạn thường tình bủa vây. Với cảm thức chiêm bái, ngưỡng vọng, Nguyễn Thu Hiền trong Hoàng đế Quang Trung, Lê Đình Danh trong Tây Sơn bi hùng truyện đã phác họa sự nghiệp vinh hiển cùng những chiến công oanh liệt của người anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ trong sự nghiệp thống nhất và bảo vệ đất nước.

Là một tướng lĩnh có tài, một người nhạy cảm, có khả năng tiên liệu được các khả năng của địch, Trần Khánh Dư đã góp công không nhỏ trong chiến thắng thần thánh của dân tộc trước quân xâm lược đến từ phương Bắc. Tài năng, công lao là thế nhưng nhân vật này lại chịu không ít điều tiếng trong sử sách. Chọn Trần Khánh Dư là nhân vật trung tâm, xuyên suốt trong tác phẩm của mình, Uông Triều trong Sương mù tháng Giêng và Lưu Sơn Minh trongTrần Khánh Dư đã có lý khi nhận thấy sự gai góc, chất chứa nhiều mâu thuẫn trong tính cách của nhân vật này.

Uông Triều đã khám phá những góc khuất trong tâm hồn, những khát khao thầm kín, thành thực, rất đời, rất người của một trong những nhân vật phức tạp bậc nhất trong lịch sử. Trở thành kẻ tội đồ vì gian dâm với công chúa Thiên Thụy (vợ của Quốc Nghiễm, con dâu cả của Trần Quốc Tuấn), ông phải trả cái giá quá đắt: trận đòn nhục nhã thừa sống thiếu chết, cách hết quan tước, tịch thu tài sản, tiếng nhơ muôn đời khó gột rửa. Chấp nhận tất cả để được sống với chính cảm xúc của mình, Khánh Dư hiện lên như một con người của dục vọng, sẵn sàng quên trời quên đất, quên phép tắc, định kiến khắc nghiệt, sống hiện sinh, hết mình hưởng lạc với phút giây hiện tại. Mối tình oan nghiệt với Thiên Thụy không đơn thuần chỉ là tiếng gọi của thể xác, dục vọng nguyên sơ mà nó còn trở thành sự nuối tiếc, nỗi day dứt, niềm khát vọng suốt một đời không thỏa của ông.

Lưu Sơn Minh trong tiểu thuyết Trần Khánh Dư đã dũng cảm vượt qua những định kiến, những tín điều bất di bất dịch về Trần Khánh Dư được “đóng đinh” trong sử sách bằng cái nhìn, cách nhìn và những kiến giải mới. Nhà văn đã khám phá, luận giải chân thực, sâu sắc tính cách đa chiều, phức tạp của nhân vật: vị tướng tài ba, dũng cảm, mưu lược góp công lớn trong cuộc chiến chống quân Nguyên xâm lược; “ông trùm” cai quản thương cảng Vân Đồn đầy vụ lợi và nhiều thói tật; vị vương gia kiêu hãnh, ngang tàng, ngỗ ngược trong dòng họ Đông A trứ danh; người đàn ông đa tình, liều lĩnh trong tình yêu với Thiên Thụy. Đặt nhân vật trong vô vàn mối quan hệ là cách Lưu Sơn Minh khai thác tấn bi kịch “sinh lạc nhà, sống lạc thời, và yêu lạc người” của Trần Khánh Dư. Nhân vật hiện lên như một khối cô đơn khổng lồ, một nỗi cô đơn bản thể thăm thẳm. Trong từng kí ức chắp vá của tuổi thơ có hình ảnh ông nội - Thống quốc thái sư Trần Thủ Độ cô độc đối mặt với những quyết định tàn nhẫn; là hình ảnh người cha buồn phiền, ủ dột, an phận trong sự lãng quên của người đời. Khánh Dư cô đơn trong mỗi giấc mơ, khi một mình lạc lõng giữa trận tiền biển cả mênh mông, lúc bị bỏ rơi cùng lời hẹn ước với Thiên Thụy sau tiệc mo nang. Ông sắm vai “người thừa”, xa lạ trong dòng họ Đông A. Cảm giác cô đơn luôn thường trực trong ông, giữa đám đông vạn người, nơi chốn kinh đô phồn hoa, ở cung điện vàng ngọc, hay trong cõi riêng tư bí ẩn của mình. Không có hồng nhan tri kỷ, không có gia tướng tâm phúc, không có người thân bên cạnh, ông không có ai để chia sẻ những nỗi niềm và cả những mưu toan thầm kín. Ông độc hành giữa chốn trần ai, ngay cả người tình trong mộng Thiên Thụy, người duy nhất ông có thể hé lộ một góc riêng cô quẩn cũng đã đành lòng quên ông.

Uông Triều và Lưu Sơn Minh trong ý hướng nghệ thuật của mình đã lựa chọn Trần Khánh Dư, một nhân vật lịch sử gai góc, “có vấn đề”, với những tranh luận trái chiều về vị trí, vai trò của ông trong lịch sử dân tộc, để thể hiện những luận giải của mình về lịch sử và con người. Mỗi cách nhìn, mỗi cách kiến giải đã mang lại những cảm nhận, hình dung thú vị về nhân vật. Chọn lịch sử như một đối tượng giả định, phân tích với cảm thức luận giải, đối thoại, hai nhà văn đã chạm tới những góc khuất trong tâm hồn nhân vật, phơi trải những trạng huống cảm xúc, xoáy sâu vào đời sống tâm lý - tâm linh cùng những trăn trở, suy tư, ám ảnh, giấc mơ; và hơn hết khám phá số phận, tấn bi kịch tâm hồn của Một - Con - Người.

Kết luận

Nhân vật thành công là nhân vật vừa nằm trong tầm hiểu biết, kinh nghiệm của cộng đồng; vừa mở ra những góc nhìn khác bằng các kiến giải mới mẻ, độc đáo. Nó vừa là những con người có thật trong lịch sử vừa là những nhân vật được nhà văn hư cấu, thậm chí dù đó là những nguyên mẫu lịch sử, trước hết họ vẫn là những nhân vật tiểu thuyết, được khoác trên mình chiếc áo choàng nhuốm màu huyền thoại, là nơi gửi gắm tình cảm sâu kín và cả những tư tưởng nhân sinh, triết học nhân bản của người nghệ sĩ. Viết trong “khí hậu” dân chủ, bối cảnh hiện đại/hậu hiện đại, các tiểu thuyết gia đã thể hiện khát vọng khám phá, giải mã, đối thoại, thụ hưởng lịch sử. Nhà văn trở thành “nhà thám hiểm cuộc sống”, khơi dậy những khuất lấp, nhìn vào “bề sâu, bề sau, bề xa” của quá khứ để nối kết thực tại, gửi gắm niềm tin và sức mạnh vào tương lai. Nhờ mở rộng biên độ sáng tạo, lịch sử và con ngườitrong tiểu thuyết lúc này trở thành đối tượng trong cảm nhận cá nhân, được nhà văn nhìn nhận, đối thoại bằng điểm nhìn văn hóa, triết học lịch sử và thụ hưởng trên tinh thần nhân văn hiện đại.

N.V.H

________________________

1 Xem thêm Nguyễn Văn Hùng (2014), “Diễn ngôn tính dục với sự luận giải lịch sử, đối thoại văn hóa trong văn xuôi hư cấu lịch sử Việt Nam sau 1986”, in trong Phân tâm học với văn học, Nxb. Đại học Huế, tr.277-294.

Nguyễn Văn Hùng
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 274

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

19/04

25° - 27°

Mưa

20/04

24° - 26°

Mưa

21/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground