Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 18/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Những bằng chứng không thể chối cãi về chủ quyền biển đảo Việt Nam

1. Bằng chứng từ các thư tịch của Việt Nam

            Tài liệu chính sử của Việt Nam chứng minh một cách hoàn toàn thuyết phục rằng: người Việt đã có chủ quyền rất lâu đời trên biển Đông, đặc biệt là hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa một cách phù hợp với tập quán của người Việt và luật pháp quốc tế về quá trình xác lập, khẳng định chủ quyền lãnh thổ. Nhìn chung, các bản đồ và tài liệu của Việt Nam từ thế kỷ XVII về trước đều gọi hai quần đảo này bằng cái tên “Hoàng Sa - Bãi cát vàng” và ghi rõ vị trí địa lý thuộc huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi. Các tài liệu còn miêu tả Trường Sa, Hoàng Sa như bãi cát vàng dài vạn dặm ngoài biển Đông được Nhà nước cử hải đội Hoàng Sa ra khai thác và quản lý. Các triều đại Phong kiến Việt Nam luôn cử người ra chỉ đạo, quản lý các hải đội ở hai quần đảo này. Dưới sự trị vì của mình, triều đình nhà Nguyễn đã cử các tướng: Phạm Quang Ảnh, Trương Phúc Sĩ, Phạm Hữu Nhật, Phạm Văn Nguyên ra khảo sát, đo đạc, vẽ bản đồ, xây miếu và dựng bia chủ quyền.

            Trong tấm Bản đồ xứ Đằng Trong “Giáp Ngọ bình Nam đồ” của Đoàn quận công Bùi Thế Đạt vẽ năm 1774 thể hiện và chú thích rất rõ ràng rằng: Hoàng Sa và Trường Sa là một phần lãnh thổ của Việt Nam. Tương tự như vậy, “Toàn tập Thiên Nam từ chí lộ thư”, tập bản đồ Việt Nam được soạn vẽ bởi Đỗ Bá (Công Đạo) vào thế kỷ XVII cũng chú giải: “Giữa biển Đông có một bãi cát dài, gọi là bãi cát vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa Đại Chiêm (Nay là cửa Đại – Quảng Nam) đến của Sa Vinh (Nay là cửa Sa Huỳnh – Quảng Ngãi) mỗi lần có gió Tây Nam thì thương thuyền của các nước ở phía trong trôi dạt ở đấy… có gió đông Đông Bắc thì thương thuyền đi ở phía ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả, hàng hóa thì đều để lại nơi đó”.

            Sách “Phủ biên tạp lục” của nhà bác học Lê Quý Đôn biên soạn năm 1776 ghi: “Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi ở ngoài cửa biển có núi gọi là Cù Lao Ré, rộng hơn 30 dặm, có phường Từ Chính, dân cư trồng đậu, ra biển bốn canh thì đến, phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa. Trước kia có nhiều hải vật và hóa vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi ba ngày đêm mới đến, là chỗ gần Bắc HảiCác thuyền ngoại biên bị bão thường đậu ở đảo này. Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm thì đến đảo... Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải  không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Thứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai đội Hoàng Sa kiêm quản”. Cùng với những thư tịch quan trọng vừa kể trên, may mắn thay, hiện nay chúng ta vẫn giữ được tờ sai năm 1786 của Quan Thượng Tướng công, trong đó ghi rõ: “Sai cai Hội Đức hầu đội Hoàng Sa dẫn bốn chiếc thuyền câu vượt biển đến Hoàng Sa và các cù lao trên biển thu lượm đồ vàng bạc, đồ đồng và đại bác, tiểu bác, đồi mồi, hải ba, cùng cá quý mang về kinh đô dâng nộp theo lệ”.

            Tấm bản đồ thời Nguyễn (khoảng năm 1838) mang tên “Đại Nam nhất thống toàn đồ” thể hiện và chú thích: Hoàng Sa Vạn Lý Trường Sa và các đảo ven bờ miền Trung thuộc lãnh thổ Việt Nam. Sách “Đại Nam nhất thống chí” do Quốc sử nhà Nguyễn biên soạn năm 1882 ghi: “Phía Đông tỉnh Quảng Ngãi có đảo cát (tức đảo Hoàng Sa) liền với biển làm hào; phía Tây Nam liền sơn man, có lũy dài vững vàng, phía Nam liền với tỉnh Bình Định có đèo Bến Đá chắn ngang, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, có ghềnh Sa Thổ là giới hạn… Đầu đời Minh Mệnh thường sai người đi thuyền công đến đấy thăm dò đường biển, thấy một nơi có cồn cát trắng chu vi 1.070 trượng, cây cối xanh tốt, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam còn có ngôi miếu cổ, không rõ dựng từ thời nào, có bia khắc bốn chữ “Vạn lý ba bình” nghĩa là “muôn dặm sóng yên”. Cồn cát này, xưa gọi là Phật Tự Sơn, phía Đông và phía Tây đảo đều có đá san hô nổi lên một cồn chu vi 340 trượng, cao một trượng hai thước ngang với cồn cát gọi là Bàn Than Thạch. Năm Minh Mệnh thứ XVI sai thuyền công chở gạch đá đến xây đền, dựng bia đá ở phía tả đền để ghi dấu (chủ quyền đất nước) và tra hột các thứ cây ở ba mặt tả hữu và sau”.

Châu bản triều Nguyễn cũng mang giá trị lịch sử vô giá. Hiện các tài liệu quý giá này đã được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới càng làm tăng thêm giá trị cho việc khẳng định chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển đảo của đất nước.

2. Bằng chứng từ các tư liệu của phương Tây

            Bên cạnh các thư tịch của Việt Nam là nguồn tài liệu của các nhà hàng hải, các giáo sỹ phương Tây cũng chứng minh một cách rõ ràng và đầy thuyết phục về chủ quyền của Việt Nam đối với biển Đông và Hoàng Sa – Trường Sa. Trong bài “Nghiên cứu về địa lý nước Cochinchine” (Tức An Nam), đăng trên Tạp chí của Hội châu Á Băng - Gan, trang 745 – Tập VI, in năm 1873 và cuốn “Từ điển La Tinh – Việt Nam” xuất bản năm 1837 của Giám mục J. L. Taberd đều ghi rõ: “Pracel hay Parscel là phần lãnh thổ của nước Cochinchina. Người Cochinchina gọi nó là Cát Vàng”.

Với “An Nam đại quốc họa đồ” xuất bản năm 1838, học giả J. L. Taberd đã vẽ đảo Hoàng Sa và chú thích: “Paracel hay Cát Vàng nằm ở ngoài các đảo ven bờ của miền Trung Việt Nam (Tức là quần đảo Hoàng Sa hiện nay)”. Bài báo “Bí mật các đảo san hô – Nhật ký về cuộc hành trình đến Hoàng Sa” đăng trên tuần báo Đông Dương, ra các ngày 03, 10, 17 tháng 07 năm 1941 đều khẳng định rằng: “Pracel (Tức Hoàng Sa) là một quần đảo thuộc Vương quốc An Nam”. Bài “Địa lý Vương quốc Cochinea” xuất bản năm 1849, Guzlaff cũng nhấn mạnh: “Paracel thuộc lãnh thổ Việt Nam” và chú thích cả tên tiếng Việt của Paracel là “Cát Vàng”.

            Khi sang đô hộ Đông Dương, nhân danh quyền bảo hộ Việt Nam, thực dân Pháp tiếp tục việc quản lý hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam qua việc cử tàu chiến De Lannessan, Inconstant, Alerte, La Malicieuse ngày đêm tuần tiễu, canh giữ thể hiện quyền bảo hộ và đảm bảo an ninh, ngăn chặn buôn lậu. Suốt hơn mười năm sau đó, thực dân pháp cho quân chú đóng ở các hòn đảo lớn thuộc hai quần đảo này. Các hoạt động của thực dân Pháp nhân danh Việt Nam trên hai quần đảo được công bố rộng rãi trong Công báo Cộng hòa Pháp, ngày 26/07/1933. Cũng ngay trong năm 1933, Toàn quyền Đông Dương Jean Decoux ra Nghị định quy biên quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Bà Rịa. Quần đảo Hoàng Sa được tách khỏi tỉnh Nam Nghĩa và sát nhập vào tỉnh Thừa Thiên và cử một đơn vị thuộc quân đội đóng quân ở đó.

            Năm 1945 sau khi quay trở lại Đông Dương, việc đầu tiên thực dân Pháp làm ở hai quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa là yêu cầu quân Trung Hoa dân quốc rút khỏi các đảo mà họ đã chiếm đóng trái phép ngay lập tức. Ngay sau đó, thực dân Pháp cho xây dựng lại các Trạm khí tượng, Đài vô tuyến… Tại Hội nghị 51 nước có đóng góp trong việc đánh bại Nhật Bản tổ chức tại San Francisco - Mỹ vào tháng 09 năm 1951 với vai trò là Trưởng đoàn đại biểu Quốc gia Việt Nam, ông Trần Văn Hữu khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với Hoàng Sa - Trường Sa và được sự công nhận của tất cả các nước tham dự.

            Năm 1956, chính quyền thực dân Pháp buộc phải chuyển giao lãnh thổ miền Nam – Việt Nam cho chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Song song với việc tiếp quản miền Nam – Việt Nam là việc tiếp quản quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về mặt hành chính. Hệ thống bia chủ quyền được Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa xây dựng kiên cố trên khắp các hòn đảo. Năm 1975, chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hoàn toàn sụp đổ, hải quân Việt Nam tiếp quản đầy đủ các đảo trên biển Đông và tổ chức, quản lý cho đến nay. Căn cứ Công ước của Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982 thì Hoàng Sa và Trường Sa hoàn toàn nằm trong vùng lãnh thổ hợp pháp của Việt Nam.

            Rõ ràng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được cả thế giới công nhận từ rất lâu trong lịch sử. Trên đây là những bằng chứng không thể chối cãi mà Trung Quốc đang cố tình làm ngơ trước sự phẫn nộ và phản đối kịch liệt của dư luận Việt Nam nói riêng và dư luận cả thế giới nói chung. Chúng tôi đề nghị Trung Quốc hãy chấm dứt ngay những hành động trái phép, tôn trọng chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông, đặc biệt là hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

N.T.T

 

            * Bài viết sử dụng tư liệu của Ủy Ban biên giới Quốc gia 2014 - Bộ Ngoại giao – Việt Nam

Nguyễn Thanh Tuấn
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 262

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

19/04

25° - 27°

Mưa

20/04

24° - 26°

Mưa

21/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground