Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 19/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Nghĩa tình Vĩnh Linh qua những trang sách "Thép từ ngàn độ lửa" (*)

         

   TCCV OnlineSau Hiệp định Genève, Vĩ tuyến 17 được chọn làm giới tuyến quân sự tạm thời tạm thời chia cắt hai miền Nam-Bắc của đất nước, Vĩnh Linh trở thành tuyến đầu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa và là hậu phương trực tiếp của cách mạng miền Nam. Hòng ngăn chặn sức người, sức của chi viện cho chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ đã huy động một lực lượng không quân và hải quân gây ra sự kiện Vịnh Bắc bộ vào ngày 5/8/1964, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Trong chiến tranh phá hoại, Vĩnh Linh là mục tiêu hủy diệt của đế quốc Mỹ khi tiến hành đánh phá ác liệt các cơ sở kinh tế, văn hóa, đường giao thông, các thành phố lớn ở miền Bắc- kể cả khu vực dân cư nhằm uy hiếp tinh thần, buộc miền Bắc từ bỏ sự chi viện để dễ bề đàn áp cách mạng miền Nam và tiến công miền Bắc khi có thể. Từ giữa năm 1996, mật độ bom đạn mà đế quốc Mỹ rải xuống Vĩnh Linh dày đặc, mọi sinh hoạt của nhân dân Vĩnh Linh đều phải chuyển vào lòng đất nhưng bom đạn của đế quốc Mỹ từ máy bay B52, từ Hạm đội 7, từ Cồn Tiên, Dốc Miếu ngày đêm rải thảm vẫn làm chết hàng trăm người, trong đó có nhiều trẻ em ở một số địa đạo tại các xã Vĩnh Hòa, Vĩnh Giang, Vĩnh Quang, Vĩnh Thạch. Sự ác liệt của chiến tranh và tầm nhìn về tương lai đã đưa Trung ương Đảng tới quyết định giảm mật độ dân cư ở tuyến lửa Vĩnh Linh, lực lượng ở lại bám trú sản xuất và chiến đấu là người lớn, người khỏe và di chuyến ra phía Bắc là trẻ nhỏ, người già yếu. Kế hoạch 8, Kế hoạch 10 (K8, K10) là chủ trương của Trung ương Đảng nhằm sơ tán ba vạn thiếu niên, nhi đồng là trẻ em từ 7 đến15 tuổi của huyện Vĩnh Linh và trẻ em của hai huyện Gio Linh, Cam Lộ đang sống, học tập ở Vĩnh Linh sau trận càn của Mỹ-ngụy vào tháng 5/1967 ra các tỉnh Thái Bình, Ninh Bình, Nam Hà, Thanh Hóa và đưa người già, trẻ em, phụ nữ về tuyến sau ở các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An trong hai năm 1966, 1967.

Vào dịp kỷ niệm 60 năm truyền thống Vĩnh Linh (25/8/1955-25/8/2014), tập sách Thép từ ngàn độ lửa tập hợp những bài viết dưới dạng ký sự, ghi chép, hồi ký, bút ký, thơ… nói về cuộc “vạn lý trường chinh” K8, K10 đầy máu và nước mắt của người dân Vĩnh Linh đồng thời là những ghi nhận và tình cảm biết ơn của đồng bào Vĩnh Linh đối với đồng bào các tỉnh miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã cưu mang đùm bọc, chăm sóc, nuôi dạy thế hệ tương lai của đất thép anh hùng trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Một cách giản dị, những tác giả góp sức làm nên tập sách Thép từ ngàn độ lửa dù đang sống ở quê nhà Vĩnh Linh hay ở Phú Yên, Khánh Hòa, Đông Hà, Gio Linh, Nghệ An, Vĩnh Long, thành phố Hồ Chí Minh,… đã nói về sự ra đời của các chủ trương, quyết sách của Trung ương Đảng xung quanh Kế hoạch 8, Kế hoạch 10 và diễn tiến của cuộc hành quân K8, K10 đồng thời kể lại những câu chuyện thấm đẫm tinh thần trách nhiệm và tình cảm yêu thương của đồng bào các tỉnh miền Bắc đã thay mặt Đảng Nhà nước cưu mang, nuôi dưỡng các thế hệ người dân Vĩnh Linh trong hai chiến dịch K8, K10. Đặc biệt, qua ba phần Ra đi từ tuyến lửa, Trong lòng hậu phươngVăn thơ một thời K8 của tập sách Thép từ ngàn độ lửa, nghĩa tình của người Vĩnh Linh thuộc thế hệ K8, K10 được khắc họa thật cụ thể, chân mộc và xúc động. Từ nghĩa tình ấy, tập sách Thép từ ngàn độ lửa giàu tính chân thật của sự kiện, câu chuyện được chính những con người đã trực tiếp tham gia K8, K10 kể một cách mộc mạc, chân chất với nhiều chi tiết đời thường trong một giai đoạn lịch sử rất đặc biệt. Trong đó, tác giả Nguyễn Hải An kể chuyện mình đi K8 lúc 11 tuổi với nhiều sự việc, con người và cảm xúc; tác giả Trần Xuân Tịnh kể về dặm đường K8 đau thương và tình đất tình người ở những nơi đi qua và đã đến; tác giả Lê Thị Hoa Thắm với những tình cảm sâu sắc của thời K8, K10;…

Từ mỗi trang sách Thép từ ngàn độ lửa, hình ảnh trẻ em K8 mang chiếc gùi vải nhỏ trên vai đựng khăn dù ngụy trang nhuộm xanh bằng lá mướp hoặc lá bàng, tấm nilông xanh học sinh, áo quần do bố mẹ may bằng tay, lương khô, đường cát, muối mè và chân đi dép cao su, đầu đội mũ rơm còn thơm hương lúa quê nhà, lưng quàng ống tre đựng nước đã đi vào cảm nhận của người đọc với rất nhiều cảm phục và quý mến. Đồng thời, theo bước chân hành quân và từng ngày sống ở nơi sơ tán của những con người K8, K10 là người đọc cũng có niềm quý trọng, sự biết ơn đối với bà con các dân tộc Thái, Thổ, Thanh, Kinh ở những miền đất ghi sâu nghĩa tình K8, K10 như Nghĩa Ninh, Tam Đa, Tuyên Hóa, đèo Mồng gà, Hương Sơn, Hương Khê, Linh Cảm, Thạch Hà, Can Lộc, Đô Lương-Truông Doong, thị trấn Lạt, Đào Nguyên, khe Thiềm, Nghĩa Hợp, làng Giang, Tân Xuân, Nghĩa Hiệp, Tân Kỳ, Thanh Chương, Thanh Nam, Thọ Xuân, Nho Quan, Phủ Giày, Lý Nhân, Gia Hưng, Gia Vân, Gia Viễn, Gia Minh, Gia Lạc, Đông Hoàng, Đông Quan, Tiên Hưng, làng Rào, rừng Lim, Cừa… Và đặc biệt, người đọc rưng rưng xúc động khi tiếp nhận những câu chuyện về thầy Hoạt, bà Lơng, bà Cháu, chị Lô Thị Hoa, ông Câu, bà Lộc, mẹ Sơn- những người đã cho con trẻ của K10 Vĩnh Linh bú chung bầu sữa với con gái ruột của mình, để dành hàng bán cho bà con Vĩnh Linh, chia bàn thờ làm đôi để bà con Vĩnh Linh ở chung nhà thắp hương cúng tổ tiên trong dịp Tết Mậu Thân 1968,.. Yêu quý và biết ơn người dân Tân Kỳ trong chiến dịch K8 và K10, người Vĩnh Linh tặng người và đất Tân Kỳ giống hồ tiêu góp phần nâng cao cuộc sống, cùng xây dựng chợ xã Kỳ Sơn bằng nghĩa tình Hồ Xá,.. Bên cạnh đó, Thép từ ngàn độ lửa cũng chuyển tải những trang văn, vần thơ tràn ngập kỷ niệm và ký ức, đong đầy những tình cảm và ghi nhận có thể làm nên sự rung động trong thụ cảm của người đọc với những tác phẩm “Đón tiếp bằng tấm lòng”, “Nhận lại tấm hình thời K8 sau 40 năm”, “Thời thơ ấu, K8- kỷ niệm không bao giờ quên”, “Một chuyến thăm quê đã nuôi tôi lớn khôn”, “Trường Sư phạm Vĩnh Linh trên đất Mỏ”, “Ân sâu nghĩa nặng”, “Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay”, “Hai quê tụ nghĩa một quê hương”, “Tình Nghĩa Hoàn”, “Tân Kỳ điểm hẹn”, “Nhớ Tân Kỳ”, “Thăm Mẹ”, “Nhớ rét Hà Nam”, “Qua chung bến đò”, “Vọng lời trường xưa”, “Nghĩa tình K8”, “Sâu nặng nghĩa tình”, “Về thăm quê”, “Người đi K8”, “Hoa gạo đỏ bên sông”,…

Những trang văn trong tập Thép từ ngàn độ lửa đã kể về chặng đường trường chinh con trẻ- một kỳ tích vô tiền khoáng hậu của dân và quân lũy thép Vĩnh Linh khi thực hiện việc “đưa các cháu đi lần này giống như chuyển cây từ chỗ đất này sang chỗ đất khác, phải làm sao cho cây tốt tươi, ra hoa, kết quả và sau này phải thành rừng” như Bác Hồ kính yêu đã ân cần căn dặn. Trên chặng đường đó, những người đi K8 qua Quảng Bình gặp mẹ Suốt anh hùng, vượt đèo Mồng gà trước khi đến đất Hà Tĩnh với tỉnh thần “đèo cao thì mặc đèo cao/tinh thần K8 còn cao hơn đèo”, có cái chết thương tâm của hai mẹ con một cô giáo và một giáo viên cùng hai anh bộ đội lái xe. Nhiều nhất trong tập sách là cảm xúc của người K8, K10 trong phút lên đường, cảm giác trải qua trận bom đầu tiên, đi chuyến xe đầu đời, đi bộ qua đêm, ở trạm dừng chân qua đêm, sự òa vỡ của nỗi nhớ nhà làm nên trận khóc tập thể của các học sinh, lòng tốt của những  “chủ nhà nấu nồi khoai khô trộn lạc mời thầy trò, chúng tôi mừng rối rít và chia nhau thưởng thức. Dân ở đây đời sống cũng nghèo nhưng tình cảm thì vô cùng lớn. Chúng tôi biết đây là phần ăn bớt ra từ lương thực dự trữ của mấy mẹ con” (Trạm T2 Hà Tĩnh-Tôi đi K8.Nguyễn Hải An). Bên cạnh đó, tập sách Thép từ ngàn độ lửa cũng tràn ngập những ký ức về việc một người bố lật từng xác chết tìm con ở nơi bom Mỹ giết chết một số học sinh K8, người bố cõng con trai đang trên đường đến nơi lên đường đi K8 chui vào ống cống để tránh mưa bom, những học sinh K8 được chỉ cách chăn trâu, cắt cỏ, đánh dậm, xúc tép trong tình cảm yêu thương của người dân Nam Hà “còn nghèo lại thắt lưng buộc bụng cho kháng chiến mà chúng tôi lớn lên giữa Nam Hà như những người con của họ” (Cô bé Lai Xá. Lê Thị Thông), người Ninh Bình nhường ăn nhường mặc và bày trẻ em K10 vớt bèo, mò cua, bắt cá, ngủ ổ rơm để chống rét trong những năm tháng đùm bọc, cưu mang… Nhiều trang sách đã mang lại niềm vui khi kể về đời sống của người đi K8, K10- như: “Những năm sống ở Thái Bình, cuộc sống của học sinh K8 thật hạnh phúc, được đón như những người thân yêu, được bố mẹ nuôi và các anh chị chăm sóc, nuôi dạy khỏe mạnh, khôn lớn, học hành đến nơi đến chốn như con đẻ của mình trong bình yên. Học sinh K8 còn có những bạn tốt, gần gũi, thân thiện trong những năm học cấp 1, cấp 2, cấp 3 luôn giúp đỡ trong học tập, trong cuộc sống và cả những lúc vui buồn” “ở với nhau như ruột thịt nên trong ngày chia tay vào năm 1973, cả người Tân Kỳ và người Vĩnh Linh đều lau nước mắt, về mang cả cái cuốc của bà cho, gác chiếc giường trên kèo nhà để làm kỷ niệm”. Từ đó, những học sinh K8, K10 có người đi học ở Liên Xô, Tiệp Khắc, Công hòa Dân chủ Đức, Ba Lan, Trung Quốc, vào đại học Bách Khoa, đại học Thủy lợi, đại học Giao thông vận tải, đại học Mỏ địa chất, đại học Y, đại học Tổng hợp và sau đó làm việc, giữ nhiều trọng trách trên khắp cả nước,.…

Trong những trang thơ của tập Thép từ ngàn độ lửa, nghĩa tình sâu nặng của người Vĩnh Linh trong chiến dịch K8, chiến dịch K10 là chất liệu nghệ thuật hết sức phong phú. Với chất liệu đó, tác giả Võ Đinh viết về cái rét của mùa Đông ở Hà Nam trong gần năm mươi năm trước: “Tôi chưa lên Thái Nguyên, Yên Thế/ Mùa rét Hà Nam không thể quên/ Môi, da nứt nẻ, đau như xé/ Gió rít từng cơn xâu thủng phên/ Năm bố con miền Trung, miền Bắc/ Chung ổ rơm, giữ ấm suốt đêm/ Bông, len, bao áo cùng phải mặc/ Chiếu dưới, chăn trên rét còn run/… Bố nằm thao thức, đêm không ngủ/ Sợ gió lén rình, rét các con/ Sáng ra tỉnh giấc, con còn ấm/ Hơi ấm nghĩa tình, người Hà Nam” (Nhớ rét Hà Nam), tác giả Nguyễn Quang Nga viết: “Nghĩa Hoàn ơi trăm mến ngàn thương/ Khó khăn gian khổ vẫn coi thường/ Mở rộng vòng tay đón Vĩnh Thủy/ Hai quê tụ nghĩa một quê hương/ Chiến tranh Vĩnh Thủy gắn Nghĩa Hoàn/ Trẻ, già tính mạng được bình an/ Thiếu cơm, nhạt muối cùng chia sẻ/ Bảy năm tình nghĩa vẫn vẹn toàn” (Hai quê tụ nghĩa một quê hương) và tác giả Trần Như Quốc làm những câu thơ: “… Khi mới đến lèn cao, rừng thẳm/ Lúc trở về, đất bịn rịn dưới chân/ Gửi đến anh em, cô bác xa gần/ Lòng cảm tạ chung tình kết nghĩa/ Nhớ bãi lau Cồ, mây mù Lẻn Một/ Mật ngọt mía đường, nông trường cam rộ/ Tình yêu thương, đất lạ đã thành quen” (Tình Nghĩa Hoàn) khi nhớ về tình người ở Nghĩa Hoàn. Tương tự, thơ của tác giả Lê Vĩnh Lợi nhắc tới nơi sơ tán Tân Kỳ: “Bắt đầu những năm tháng xa quê/ Gian nan, thử thách/ Sơ tán an toàn, đời sống và sự học/ Cũng là đánh giặc/ Đảng giao rồi! Mệnh lệnh của trái tim… Nói sao hết tình dân, nghĩa Đảng/ Đùm bọc, yêu thương, chia sẻ, chở che/ Người xa xứ, Tân Kỳ thành quê mới” (Tân Kỳ điểm hẹn) và trong thơ của tác giả Nguyễn Dương Xoa hôm nay vẫn đầy đặn nỗi nhớ Tân Kỳ: “Xứ Nghệ nghĩa mặn tình nồng/ Dẫu xa xôi vẫn một lòng nhớ thương/ Mười ba năm ấy đoạn trường/ Ngọt bùi, cay đắng, cơm nhường, lửa chia/ Nước chè sáng, ngọn đèn khuya/ Chung trường, chung lớp, chung quê, chung lòng/ Bãi ngô trỉa, nương sắn trồng/ Tin tuyến lửa, cùng đợi mong thư nhà/ Tình dân, nghĩa Đảng thiết tha/ Dẫu đôi quê vẫn ruột ra tình thân/ Xa nhau đã mấy mươi năm/ Nghĩa tình xứ Nghệ, sông Lam ghi lòng” (Nhớ Tân Kỳ),...

Bằng trọn vẹn nghĩa tình của những người đã làm nên “cuộc thiên di màu đỏ” của cán bộ và nhân dân Vĩnh Linh trong hai chiến dịch K8 và K10, tập sách Thép từ ngàn độ lửa đã làm sống lại ký ức một thời gian khổ chan chứa tình người trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc. Đồng thời, tập sách Thép từ ngàn độ lửa cũng là món quà mà Hội Đồng hương Vinh Linh tại Khánh Hòa trao tặng đồng bào Vĩnh Linh trong sự tri ân người dân các tỉnh Thái Bình, Ninh Bình, Nam Hà, Thanh Hóa, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An đã giúp người Vĩnh Linh làm nên kỳ tích lịch sử K8, K10. Được tái bản với một vài bổ sung, chỉnh biên vào dịp kỷ niệm 60 năm truyền thống Vĩnh Linh (25/8/1955-25/8/2014), tập sách Thép từ ngàn độ lửa là một trong những kết quả đẹp của nghĩa tình sâu nặng của Vĩnh Linh với hậu phương lớn miền Bắc và cũng là một trong những món quà ân nghĩa mà thế hệ K8, K10 trao gửi các thế hệ tương lai.

                                                                                                       T.K

 

____________________

(*) Thép từ ngàn độ lửa. Nhiều tác giả. Nhà Xuất bản Văn hóa-thông tin, 2014

Thục Khanh
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 242

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

20/04

25° - 27°

Mưa

21/04

24° - 26°

Mưa

22/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground