Vào dịp kỷ niệm 60 năm truyền thống Vĩnh Linh (25/8/1955-25/8/2014), tập sách Thép từ ngàn độ lửa tập hợp những bài viết dưới dạng ký sự, ghi chép, hồi ký, bút ký, thơ… nói về cuộc “vạn lý trường chinh” K8, K10 đầy máu và nước mắt của người dân Vĩnh Linh đồng thời là những ghi nhận và tình cảm biết ơn của đồng bào Vĩnh Linh đối với đồng bào các tỉnh miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã cưu mang đùm bọc, chăm sóc, nuôi dạy thế hệ tương lai của đất thép anh hùng trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Một cách giản dị, những tác giả góp sức làm nên tập sách Thép từ ngàn độ lửa dù đang sống ở quê nhà Vĩnh Linh hay ở Phú Yên, Khánh Hòa, Đông Hà, Gio Linh, Nghệ An, Vĩnh Long, thành phố Hồ Chí Minh,… đã nói về sự ra đời của các chủ trương, quyết sách của Trung ương Đảng xung quanh Kế hoạch 8, Kế hoạch 10 và diễn tiến của cuộc hành quân K8, K10 đồng thời kể lại những câu chuyện thấm đẫm tinh thần trách nhiệm và tình cảm yêu thương của đồng bào các tỉnh miền Bắc đã thay mặt Đảng và Nhà nước cưu mang, nuôi dưỡng các thế hệ người dân Vĩnh Linh trong hai chiến dịch K8, K10. Đặc biệt, qua ba phần Ra đi từ tuyến lửa, Trong lòng hậu phương và Văn thơ một thời K8 của tập sách Thép từ ngàn độ lửa, nghĩa tình của người Vĩnh Linh thuộc thế hệ K8, K10 được khắc họa thật cụ thể, chân mộc và xúc động. Từ nghĩa tình ấy, tập sách Thép từ ngàn độ lửa giàu tính chân thật của sự kiện, câu chuyện được chính những con người đã trực tiếp tham gia K8, K10 kể một cách mộc mạc, chân chất với nhiều chi tiết đời thường trong một giai đoạn lịch sử rất đặc biệt. Trong đó, tác giả Nguyễn Hải An kể chuyện mình đi K8 lúc 11 tuổi với nhiều sự việc, con người và cảm xúc; tác giả Trần Xuân Tịnh kể về dặm đường K8 đau thương và tình đất tình người ở những nơi đi qua và đã đến; tác giả Lê Thị Hoa Thắm với những tình cảm sâu sắc của thời K8, K10;…
Từ mỗi trang sách Thép từ ngàn độ lửa, hình ảnh trẻ em K8 mang chiếc gùi vải nhỏ trên vai đựng khăn dù ngụy trang nhuộm xanh bằng lá mướp hoặc lá bàng, tấm nilông xanh học sinh, áo quần do bố mẹ may bằng tay, lương khô, đường cát, muối mè và chân đi dép cao su, đầu đội mũ rơm còn thơm hương lúa quê nhà, lưng quàng ống tre đựng nước đã đi vào cảm nhận của người đọc với rất nhiều cảm phục và quý mến. Đồng thời, theo bước chân hành quân và từng ngày sống ở nơi sơ tán của những con người K8, K10 là người đọc cũng có niềm quý trọng, sự biết ơn đối với bà con các dân tộc Thái, Thổ, Thanh, Kinh ở những miền đất ghi sâu nghĩa tình K8, K10 như Nghĩa Ninh, Tam Đa, Tuyên Hóa, đèo Mồng gà, Hương Sơn, Hương Khê, Linh Cảm, Thạch Hà, Can Lộc, Đô Lương-Truông Doong, thị trấn Lạt, Đào Nguyên, khe Thiềm, Nghĩa Hợp, làng Giang, Tân Xuân, Nghĩa Hiệp, Tân Kỳ, Thanh Chương, Thanh Nam, Thọ Xuân, Nho Quan, Phủ Giày, Lý Nhân, Gia Hưng, Gia Vân, Gia Viễn, Gia Minh, Gia Lạc, Đông Hoàng, Đông Quan, Tiên Hưng, làng Rào, rừng Lim, Cừa… Và đặc biệt, người đọc rưng rưng xúc động khi tiếp nhận những câu chuyện về thầy Hoạt, bà Lơng, bà Cháu, chị Lô Thị Hoa, ông Câu, bà Lộc, mẹ Sơn- những người đã cho con trẻ của K10 Vĩnh Linh bú chung bầu sữa với con gái ruột của mình, để dành hàng bán cho bà con Vĩnh Linh, chia bàn thờ làm đôi để bà con Vĩnh Linh ở chung nhà thắp hương cúng tổ tiên trong dịp Tết Mậu Thân 1968,.. Yêu quý và biết ơn người dân
Những trang văn trong tập Thép từ ngàn độ lửa đã kể về chặng đường trường chinh con trẻ- một kỳ tích vô tiền khoáng hậu của dân và quân lũy thép Vĩnh Linh khi thực hiện việc “đưa các cháu đi lần này giống như chuyển cây từ chỗ đất này sang chỗ đất khác, phải làm sao cho cây tốt tươi, ra hoa, kết quả và sau này phải thành rừng” như Bác Hồ kính yêu đã ân cần căn dặn. Trên chặng đường đó, những người đi K8 qua Quảng Bình gặp mẹ Suốt anh hùng, vượt đèo Mồng gà trước khi đến đất Hà Tĩnh với tỉnh thần “đèo cao thì mặc đèo cao/tinh thần K8 còn cao hơn đèo”, có cái chết thương tâm của hai mẹ con một cô giáo và một giáo viên cùng hai anh bộ đội lái xe. Nhiều nhất trong tập sách là cảm xúc của người K8, K10 trong phút lên đường, cảm giác trải qua trận bom đầu tiên, đi chuyến xe đầu đời, đi bộ qua đêm, ở trạm dừng chân qua đêm, sự òa vỡ của nỗi nhớ nhà làm nên trận khóc tập thể của các học sinh, lòng tốt của những “chủ nhà nấu nồi khoai khô trộn lạc mời thầy trò, chúng tôi mừng rối rít và chia nhau thưởng thức. Dân ở đây đời sống cũng nghèo nhưng tình cảm thì vô cùng lớn. Chúng tôi biết đây là phần ăn bớt ra từ lương thực dự trữ của mấy mẹ con” (Trạm T2 Hà Tĩnh-Tôi đi K8.Nguyễn Hải An). Bên cạnh đó, tập sách Thép từ ngàn độ lửa cũng tràn ngập những ký ức về việc một người bố lật từng xác chết tìm con ở nơi bom Mỹ giết chết một số học sinh K8, người bố cõng con trai đang trên đường đến nơi lên đường đi K8 chui vào ống cống để tránh mưa bom, những học sinh K8 được chỉ cách chăn trâu, cắt cỏ, đánh dậm, xúc tép trong tình cảm yêu thương của người dân Nam Hà “còn nghèo lại thắt lưng buộc bụng cho kháng chiến mà chúng tôi lớn lên giữa Nam Hà như những người con của họ” (Cô bé Lai Xá. Lê Thị Thông), người Ninh Bình nhường ăn nhường mặc và bày trẻ em K10 vớt bèo, mò cua, bắt cá, ngủ ổ rơm để chống rét trong những năm tháng đùm bọc, cưu mang… Nhiều trang sách đã mang lại niềm vui khi kể về đời sống của người đi K8, K10- như: “Những năm sống ở Thái Bình, cuộc sống của học sinh K8 thật hạnh phúc, được đón như những người thân yêu, được bố mẹ nuôi và các anh chị chăm sóc, nuôi dạy khỏe mạnh, khôn lớn, học hành đến nơi đến chốn như con đẻ của mình trong bình yên. Học sinh K8 còn có những bạn tốt, gần gũi, thân thiện trong những năm học cấp 1, cấp 2, cấp 3 luôn giúp đỡ trong học tập, trong cuộc sống và cả những lúc vui buồn” “ở với nhau như ruột thịt nên trong ngày chia tay vào năm 1973, cả người Tân Kỳ và người Vĩnh Linh đều lau nước mắt, về mang cả cái cuốc của bà cho, gác chiếc giường trên kèo nhà để làm kỷ niệm”. Từ đó, những học sinh K8, K10 có người đi học ở Liên Xô, Tiệp Khắc, Công hòa Dân chủ Đức, Ba Lan, Trung Quốc, vào đại học Bách Khoa, đại học Thủy lợi, đại học Giao thông vận tải, đại học Mỏ địa chất, đại học Y, đại học Tổng hợp và sau đó làm việc, giữ nhiều trọng trách trên khắp cả nước,.…
Trong những trang thơ của tập Thép từ ngàn độ lửa, nghĩa tình sâu nặng của người Vĩnh Linh trong chiến dịch K8, chiến dịch K10 là chất liệu nghệ thuật hết sức phong phú. Với chất liệu đó, tác giả Võ Đinh viết về cái rét của mùa Đông ở Hà Nam trong gần năm mươi năm trước: “Tôi chưa lên Thái Nguyên, Yên Thế/ Mùa rét Hà
Bằng trọn vẹn nghĩa tình của những người đã làm nên “cuộc thiên di màu đỏ” của cán bộ và nhân dân Vĩnh Linh trong hai chiến dịch K8 và K10, tập sách Thép từ ngàn độ lửa đã làm sống lại ký ức một thời gian khổ mà chan chứa tình người trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc. Đồng thời, tập sách Thép từ ngàn độ lửa cũng là món quà mà Hội Đồng hương Vinh Linh tại Khánh Hòa trao tặng đồng bào Vĩnh Linh trong sự tri ân người dân các tỉnh Thái Bình, Ninh Bình, Nam Hà, Thanh Hóa, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An đã giúp người Vĩnh Linh làm nên kỳ tích lịch sử K8, K10. Được tái bản với một vài bổ sung, chỉnh biên vào dịp kỷ niệm 60 năm truyền thống Vĩnh Linh (25/8/1955-25/8/2014), tập sách Thép từ ngàn độ lửa là một trong những kết quả đẹp của nghĩa tình sâu nặng của Vĩnh Linh với hậu phương lớn miền Bắc và cũng là một trong những món quà ân nghĩa mà thế hệ K8, K10 trao gửi các thế hệ tương lai.
T.K
____________________
(*) Thép từ ngàn độ lửa. Nhiều tác giả. Nhà Xuất bản Văn hóa-thông tin, 2014









