Mô hình và tổ chức hoạt động nào cũng ra đời để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn lịch sử đã sản sinh ra nó. Nền giáo dục cách mạng Việt Nam từ 1945 đến nay đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình. Đặt trong hoàn cảnh ngặt nghèo của thời kỳ này, đó là một đóng góp xuất sắc đáng tự hào. Nhưng đứng trước yêu cầu mới của thời kỳ công nghiệp hóa và hội nhập sâu rộng hôm nay thì việc “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục” đã trở thành một mệnh lệnh bức thiết của cuộc sống. Nghị quyết số 29/NQ-TW và Văn kiện đại hội Đảng lần thứ XII (2016) đã khẳng định yêu cầu đó. Là người đã 50 năm gắn bó và tâm huyết với ngành, tôi tin tưởng và kỳ vọng nhiều vào cuộc đổi mới này.
Đổi mới căn bản là đổi mới “những vấn đề lớn, cốt lõi và cấp thiết”. Đổi mới toàn diện là từ những vấn đề xã hội liên quan đến các vấn đề thuộc nội thân của ngành giáo dục ở tất cả các cấp học, ngành học. Đứng trước nhiều vấn đề lớn, mới và khó, tôi chỉ xin nêu suy nghĩ của mình về một yêu cầu đã được xác định trong Nghị quyết 29/NQ-TW: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu là trang bị kiến thức sang phát triển năng lực phẩm chất người học”. Tôi nghĩ rằng đây là vấn đề lớn rất cần thống nhất để quán triệt và thực hiện.
Xin được bắt đầu từ một chuyện có thật mà nhiều người đã biết và đã từng trăn trở. Đó là vào ngày 25 - 6 - 2010 tại một trường trung học lớn ở Newyork (Mỹ), trong lễ tổng kết trang trọng, nữ sinh Erica Goldson được mời nhận giải thưởng xuất sắc nhất toàn khóa và phát biểu ý kiến. Quan khách và thầy cô chờ mong em nói những lời ca ngợi nền giáo dục hiện hữu thì không ngờ sau những lời cám ơn lịch sự là những phê phán thật thẳng thắn. Em nói: “Có lẽ, thứ duy nhất bạn đã học được là khả năng ghi nhớ những cái tên, những địa danh, những ngày tháng và những công thức để rồi sau đó gần như xóa trắng tất cả để dọn chỗ cho bộ nhớ, chờ nạp các kiến thức mới cho một bài kiểm tra tiếp theo”. Thậm chí em còn hài hước tự nhận: “Tôi đã thực sự thành công trong việc tuyên bố với cả thế giới rằng: tôi là tên nô lệ giỏi nhất” (từ “nô lệ” ở đây hiểu theo nghĩa bị lệ thuộc, rập khuôn với những bài học thuộc lòng và những phương án lập trình sẵn). Từ đó, em đã nói về một khát khao đầy tha thiết, rằng: “Tôi muốn có sự đảm bảo chắc chắn rằng không một đứa trẻ nào phải để tiềm năng của mình bị đè nén bởi những sức mạnh chỉ để khai thác và điều khiển... Chúng ta là những kẻ tư duy, kẻ mơ mộng, nhà thám hiểm, nghệ sỹ, nhà văn, kỹ sư... Chúng ta làm bất cứ thứ gì chúng ta muốn nhưng chỉ khi chúng ta có một hệ thống giáo dục hỗ trợ chứ không phải kéo chúng ta xuống. Một cái cây có thể vươn thật cao chỉ khi rễ của nó được bám vào một mảnh đất thật màu mỡ”. (Toàn văn bài phát biểu này đã được dịch và đăng ở tạp chí “Tia Sáng” số 22).
Có nhiều điều để nghĩ từ tâm trạng của một nữ sinh xuất sắc ở một nền giáo dục tiên tiến này. Chí ít có hai điều thật đáng băn khoăn. Một là: học sinh không phải là cái “bình chứa” để “đổ đầy” “càng nhiều càng tốt” theo cách dạy chỉ cần thuộc lòng, trả bài đầy đủ chứ không như cách nói của một nhà sư phạm lớn là: “Học sinh là một ngọn đuốc, thầy giáo phải bằng tài năng sư phạm của mình phải làm cho ngọn đuốc đó phát sáng và lung linh”. Hai là: “Mỗi người là một người”, “mỗi đứa trẻ đều có những tiềm năng và chứa đựng những phương án phát triển khác nhau. Giáo dục phải là những mảnh đất màu mỡ để rễ cây được ăn sâu, phát triển ngày càng cao một cách thích hợp nhất”.
Trở lại vấn đề này, trong Nghị quyết số 29/NQ-TW đã nói gì?. Nghị quyết yêu cầu phải “Chuyển phát triển giáo dục từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng”. Trong chất lượng phải có chất lượng toàn diện nhưng “Mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được hiểu và thực hiện đúng”. Muốn vậy phải “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học - khắc phục lối truyền thụ áp đặt, một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực”. Như vậy, định hướng tổng quát phải là: “Chuyển mạnh từ chủ yếu là trang bị kiến thức sang phát triển năng lực và phẩm chất người học”.
Về lý luận, chúng ta hiểu rằng: “học chữ” là học làm người để sống tử tế và hiệu quả. Học hôm nay không chỉ cho hôm nay mà còn để phát triển tốt đẹp trong lâu dài. Lý luận dạy học hiện đại cho rằng: dạy học là một quá trình tương tác của hai chủ thể đồng sáng tạo. Học sinh là chủ thể nhận thức mà triết học biện chứng cho ta biết rằng: nhân tố chủ quan bao giờ cũng đóng vai trò quyết định. Vì vậy, nếu định hướng chủ yếu là trang bị kiến thức, xem nhẹ (hoặc bỏ qua) việc hình thành năng lực cho người học thì hiệu quả trước mắt cũng như lâu dài đều rất hạn chế. Hoàn toàn không có sự đối lập giữa kiến thức và phát triển. Vì kiến thức được tổ chức một cách đúng đắn và hợp lý là năng lực cho sự phát triển. Vậy vấn đề ở đây là sự lựa chọn về nội dung, thay đổi phương pháp và hình thành những năng lực cần thiết cho người học (năng lực phản biện, tư duy, năng lực tự học, tự giáo dục, tự hoàn thiện).
Tham khảo lập luận của giáo sư Hồ Ngọc Đại sẽ thấy rõ hơn vấn đề này. Ông đã viết cuốn “Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục” rồi in ra 1.000 bản tặng các đại biểu Quốc hội. Trong sách đó, bằng những mạnh đề triết học, ông cho rằng: Trẻ em là một thực thể tự nhiên. Trẻ em hiện đại tự sinh ra chính mình. Vì trẻ em hiện đại sống theo hai dòng xoắn với nhau: Trưởng thành và phát triển. Với sự trưởng thành trẻ cần phải ăn, tự ăn (theo cơ chế phân công - hiệp tác, gia đình nghiêng hơn về phía này). Với sự phát triển, trẻ em phải học, tự học (theo cơ chế phân công - hiệp tác, nhà trường nghiêng hơn về phía này). Theo ông, từ lọt lòng trẻ em đã phải tự ăn, tự học để trở thành chính mình (như tự học để tự bú). Giáo sư lý luận: sự phát triển của trẻ em là quá trình chiếm lĩnh các tri thức khoa học và đời sống từ bên ngoài chuyển vào bên trong để trở thành tài sản riêng của cá nhân mà phát triển. Nội dung cần chiếm lĩnh gồm 3 lĩnh vực: Kiến thức khoa học cho sự phát triển của lý trí - Hiểu biết về nghệ thuật cho sự phát triển về tình cảm - Kiến thức về đạo đức để biến thành ý chí. Vậy là theo ông mấu chốt của sự phát triển là quá trình “chuyển vào trong” này mà ở đó: Nghiệp vụ sư phạm là thiết kế quá trình chuyển vào trong rồi tổ chức và kiểm soát quá trình thực hiện ở bên ngoài của các cá nhân. Còn học sinh tự mình làm theo bản thiết kế và tổ chức của thầy. Từ đó giáo sư lý luận: Nghiệp vụ sư phạm là con đẻ cùng cha cùng mẹ với nền sản xuất vật chất. Nền sản xuất tiểu nông sinh ra và nuôi sống nền giáo dục cổ truyền được vận hành theo cơ chế: Thầy giảng giải – Trò ghi nhớ, học thuộc, trả bài. Nền sản xuất hiện đại đã sinh thành nên giáo dục hiện đại vận hành theo cơ chế: Thầy tổ chức (hay thiết kế) – Trò thi công (tự mình làm ra sản phẩm cho chính mình). Có thể có người chưa đồng tình về một số nội dung và cách diễn đạt không giống ai của giáo sư nhưng lý luận cơ bản về sự phát triển, theo tôi là đúng đắn. Lý luận ấy cho ta thấy định hướng của Trung ương xem việc phát triển năng lực và phẩm chất cho người học là chủ đạo rất hợp lý và khoa học.
Mặt khác, nhìn từ thực tiễn vấn đề càng rõ hơn. Trong dân gian có những cách ví gần gũi như “Nước đổ đầu vịt”, “Nước xuống lá môn”... là muốn nói: Sẽ không có kết quả khi không có sự “cộng hưởng”, tương tác của chủ thể. Trong nhà trường, chúng ta đã thấy không ít chuyện thầy “hứng” mà trò không “thú”, thầy “phát” mà trò không “động” nên hiệu quả rất thấp. Còn nhìn rộng ra ngoài xã hội, chúng ta đã biết có bao tấm gương thành công từ ý chí tự học, tự vươn lên đầy thuyết phục. Tiêu biểu nhất đó là Bác Hồ. Bác là tiêu biểu của “Minh” (minh triết) và cũng là tiêu biểu của “Chí” (ý chí thép) vì việc tự học, tự rèn để hoàn thiện mình. Từ một học sinh với vốn liếng tri thức ít ỏi để đi tới một “trí tuệ uyên thâm, lịch lãm, tầm mắt đại dương” là cả một quá trình khổ học. Có thể nói: Bác đã đến với Chủ nghĩa cộng sản bằng con đường tự học. Vì, năm 1935, khi đi dự Hội nghị quốc tế Cộng sản VII, trả lời phiếu hỏi về trình độ (Tiểu học? Trung học? Đại học?) Người viết: “Tự học” nhưng đến câu: “Ngoại ngữ” thì Người đã ghi: Pháp, Anh, Trung, Nga, Ý, Đức. Chúng ta biết: từ khi lên tàu xuất dương trong công việc của một người đầu bếp: “Dù 9 giờ tối công việc mới xong. Anh Ba mệt lả nhưng trong khi mọi người ngủ hoặc đánh bài thì anh Ba đọc và viết đến 11 giờ đêm hoặc nửa đêm. Sang đến Paris, nhờ thẻ đọc của nghệ sỹ P.V.Cou Turier, Bác say sưa trong thư viện để tiếp cận với văn hóa Đông Tây và chính tại đây – theo lời tự thuật của Người: Đã gặp luận cương của Lê Nin và nhận ra “Con đường cho dân tộc theo đi” để tự giải phóng đất nước. Vì vậy, Bác tổng kết thật giản dị mà sâu sắc “Lấy tự học làm cốt, thảo luận, chỉ đạo góp thêm vào”, “Việc học phải là việc suốt đời”, “Tôi đã ngoài 71 nhưng ngày nào cũng học”.
Nói về những điều này để đi tới một khẳng định rằng chuyển từ chủ yếu là trang bị kiến thức sang phát triển năng lực và phẩm chất người học là rất cần thiết, rất đúng đắn. Chỉ có như vậy mới có được hiệu quả thực cho việc dạy học hôm nay cũng như sự phát triển lâu dài của học sinh về sau. Hãy nghĩ về lời cảnh tỉnh của giáo sư Văn Như Cương: “Chương trình giáo dục công dân toàn là những vấn đề to tát như chương trình triết ở đại học, đã thế bài học phải học thuộc lòng, thật là quá quắt”. Hay lời lưu ý của Tiến sỹ giáo dục học Nguyễn Thụy Anh: “Trẻ em cần được tham gia hơn là tiếp nhận bị động. Trẻ em cần tự đặt vấn đề hơn là chăm chăm giải những bài toán giống nhau. Trẻ em cần có được cảm xúc và nuôi dưỡng cảm xúc ấy để vào đời”.
Vậy cần phải làm gì để thực hiện yêu cầu đó. Theo tôi:
- Không phải chờ Bộ, chờ Sở, chờ Phòng mà tự thân mỗi giáo viên phải tự nghiệm lại chính mình, tự mình chủ động đổi mới theo định hướng mới. Bản thân tôi, 50 năm trước khi đi dạy đã được công nhận vài danh hiệu nhưng cũng tự thấy mình chưa có một định hướng thật chuẩn và thật dứt khoát. Nếu tự kiểm điểm một cách nghiêm khắc, chắc không ít người cũng có hạn chế đó. Vì vậy, phải đổi mới từ chính mỗi giáo viên.
- Về nội dung dạy: Cùng với sự lựa chọn các nội dung chuyên môn của mỗi bộ môn, trong từng tiết dạy, nhất thiết phải chọn những gì thuộc về năng lực cần hình thành rồi tận dụng các tình huống sư phạm hợp lý để rèn luyện cho học sinh (Năng lực vận dụng, tự học, tự giáo dục, ....).
- Về phương pháp: Dứt khoát phải từ bỏ lối dạy áp đặt, một chiều, thuyết giảng triền miên theo lối nhồi nhét. Phải chú trọng tính tương tác, “cộng hưởng” của người học. Thông qua việc “nêu vấn đề”, tổ chức để người học cùng khám phá, cùng trải nghiệm, cùng vận động để chiếm lĩnh tri thức một cách vững chắc. Đến như công trình thực nghiệm 30 năm của giáo sư Hồ Ngọc Đại mà ông gọi đó “Là thức với con trẻ” và rằng “các em bảo đúng thì thầy làm, bảo sai thì thấy sửa”. Điều này cho thấy quan hệ tương tác của người học quan trọng đến mức nào.
- Phải thực sự coi trọng “cá biệt hóa trong giáo dục”. Nhà văn Nga Lev.Tolstoy đã viết: “Mỗi đứa trẻ là một thế giới riêng biệt và bí ẩn, không đứa trẻ nào giống đứa trẻ nào. Trong chúng đã có sẵn một tố chất nào đó, qua quá trình giáo dục hoặc là tố chất ấy bị vùi dập mà biến mất hoặc là được phát hiện và sẽ thể hiện được mình”. Từ năm 1945, Bác Hồ đã yêu cầu: “Phải làm phát triển năng lực sẵn có của học sinh Việt Nam”. Mỗi đứa trẻ là một phương án phát triển, chỉ chú ý tác động đến cả tập thể mà không chú ý đến cá biệt hóa là không đúng. Việc tôn trọng cá nhân, phát hiện ra tố chất và đặc trưng riêng của cá nhân để có giải pháp sư phạm tương thích cho từng cá nhân là rất cần thiết.
- Hiện nay đã và đang có những đổi mới cụ thể như xây dựng “Trường học thân thiện - Học sinh tích cực”, không cho điểm mà bằng nhận xét ở tiểu học, tổ chức học theo nhóm, tăng cường các hoạt động ngoài giờ học... Đi theo hướng tổ chức các hoạt động sống để học sinh trải nghiệm, mở rộng và củng cố kiến thức, rèn luyện khả năng vận dụng, hình thành các kỹ năng sống, kỹ năng tự học, tự hoàn thiện là rất đúng.
Còn nhiều những vấn đề cần bàn và việc cần làm. Nhưng với định hướng đúng là: Chuyển từ chủ yếu là trang bị kiến thức sang phát triển năng lực và phẩm chất, chắc chắn sẽ tạo ra nhiều sáng tạo và kết quả sẽ ngày một tốt hơn.
Người xưa từng tổng kết: “Thiên hạ chi bản tại quốc. Quốc chi bản tại gia. Gia chi bản tại thân”. Bác Hồ thì nói: “Mỗi người là gốc của làng, của nước. Nếu mỗi người đều tốt thì làng tốt, nước mạnh”. Theo logic đó, sự phát triển đích thực của từng học sinh là nền tảng chất lượng của nền giáo dục. Chất lượng này là tổng hòa của nhiều yếu tố mà trong đó định hướng dạy để phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh là một đóng góp đầy ý nghĩa.
T.S.T









