Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 19/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Một góc nhìn Đức - Tài của nhà văn và thị hiếu phức hợp của công chúng

I. Đạo đức của nhà văn - một bộ phận của đạo đức công dân là chuẩn mực điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với cộng đồng, với thiên nhiên, với con người theo chuẩn giá trị: Thiện - Ác, Tốt - Xấu, là nghĩa vụ phải làm và điều không được làm. Đạo đức thường gắn với nhân cách văn hóa. F. Engels coi “đạo đức thật sự có tính nhân đạo, khi nó vượt lên trên giai cấp và quên đi mọi hồi ức về sự đối lập giai cấp”(1). Một kiến giải rộng, mở sẽ là: Văn hóa đạo đức vượt qua mọi thời đại, đến gần với Con người - bản chất tính người, Con người mang tính người (K. Marx).

Trong triết học Á Đông, các bậc tiền nhân nước ta khi nói đến quan hệ giữa Đức Tài đã tổng kết thành châm ngôn: lập Đức, lập Công, lập Ngôn. Nhưng văn không khi nào bị coi là ngọn. Văn chương là gốc lớn để lập thân. Văn chương không chỉ là nghệ thuật ngôn từ mà còn liên quan tới phạm trù đạo đức - thẩm mỹ: Văn, Đạo, Tâm, Chí, Mỹ là những nội dung triết học nhập thế của bậc tu nho.

Từ ý niệm giản lược đó, chúng tôi nói đến tài năng, phần vừa cộng hưởng vừa đối lập của đạo đức nhà văn. Cộng hưởng là khi anh viết về cái Tôi cá nhân trùng khít với cái Ta cộng đồng; còn đối lập là động cơ tà đạo, tà tâm trước cuộc sống và con người. Tài năng có nhiều thứ hạng: Thiên tài, tài năng, năng khiếu, xu hướng đam mê, v.v… Từ thời cổ đại cho đến ngày nay, những hiện tượng siêu nhiên, thăng hoa là động lực, can thiệp vào tài năng của chủ thể sáng tạo. Tiếng nói huyền diệu của Nàng thơ, hiện tượng “xuất thần”, “thần nhập” cho đến những hiện tượng sinh lý thiên bẩm, gien di truyền, những giấc mơ, tầm bay của trí tưởng tượng đều được học giới nghệ thuật thừa nhận. Mối quan hệ giữa Đức và Tài của nhà văn, nghệ sĩ thường là trùng khít; Đức được đo bằng tài năng, bằng tác phẩm, còn những yếu tố khác đều lặn chìm trong tài năng, chứ không ràng buộc bởi cá tính hay cách ứng xử cá nhân.

Thời nào cũng vậy, nước nào cũng vậy, những nhà thơ tài năng là do ánh sáng lý tưởng xã hội soi sáng cho đường thơ. A. Puskin đề cao vai trò lý tưởng và trí tuệ trong thơ: “Lịch sử thơ ca thuộc về nhà thơ” và chính ông được các chính khách đương thời của nước Nga sùng ái gọi là “Prômêthê” mới. Biểu tượng Prométhé mới bắt nguồn từ Prométhé trong thời thoại Hy Lạp. Đến năm 1843, khi tờ Sông Ranh bị cấm, báo chí Đức đăng một biểu tượng mới: “Marx Prométhé” - tức là Marx bị xiềng, đại bàng moi gan, phía dưới là nhân loại vươn tới. Theo thần thoại trên mỗi lần bị đại bàng mổ cắn, thân thể Marx bị liền lại y nguyên. Là “mặt trời thi ca Nga”, bởi toàn bộ thơ trữ tình, trường ca, tiểu thuyết văn xuôi của ông là sự cộng hưởng giữa cái riêng và cái chung, giữa tự do thi ca và lý tưởng cách mạng tháng Chạp (1825) mà ông là thành viên và là bạn trung thành của lãnh tụ Pesten - một trong những trí tuệ độc đáo nhất nước Nga đầu thế kỷ XIX. Phẩm chất chính trị siêu đẳng của nhà văn hóa là tác phẩm hay phản ánh lý tưởng xã hội tiên tiến.

Bên cạnh lý tưởng, Nhà văn trước hết là một công dân tử tế: Puskin đề cao nguyên lý công dân trong thơ, văn. Tính công dân cũng thường gặp ở hầu hết các nhà văn hóa thế giới. Trong văn chương tài năng gắn liền với cái Thiện, cái Đức của nhà văn. Mọi thứ tưởng tượng rối loạn, ngôn từ bệnh hoạn (Motmalade), cách diễn tả rối rắm, gượng gạo, thì trước sau sẽ bị lật tẩy, xa lạ với tính dân tộc - hiện đại và bị bạn đọc xa lánh.

Văn hóa là một yếu tố quan trọng. Phông văn hóa rộng (culture generale) chính là môi trường văn hóa và lực đẩy của tư duy và cảm hứng sáng tạo, tầm nhìn đa chiều đời sống của văn nghệ sĩ. Các văn gia đại bút thường dạy: “Bản chất của văn chương vốn từ học vấn mà ra, học vấn uyên bác thì văn mới hay…”. Câu này của Lê Quý Đôn (1726 -1784) trong Vân đài loại ngũ. Những ý niệm tương tự trong văn chương thời trung cận đại: Phan Huy Chú (1782 - 1840) nói đại ý: Để có thể vừa là tước tác, vừa là nhà thơ thì phải đủ cái uyên bác, lại có nguồn cảm hứng bay bổng… Nhữ Bá Sĩ (1788 - 1867) coi “đức hạnh và học thức là cái gốc của văn chương”. Ở thời đại chúng ta, nhà văn hóa Phạm Văn Đồng là người nâng đỡ nhiều tài năng. Mỗi lần đến với văn nghệ sĩ, ông thường có đề tài nóng: “… Phải công phu trong việc trau dồi hình thức, cần coi trọng chất văn, làm văn nghệ phải có khiếu, có tài… Thậm chí phải trau dồi ngoại ngữ, v.v…”(2). Nhà văn không chỉ có kiến thức và khoa học xã hội, mà không quên khoa học tự nhiên, triết thuyết tiền Marx, chủ nghĩa Marx, các Kinh Vệ đà của Phật giáo, Tân ước, Cựu ước của cơ đốc giáo, thơ và âm nhạc, thơ và vật lý, thơ và hội họa đều là láng giềng của nhau. Trục tam giác loại hình: triết học, nghệ thuật, tôn giáo thường hiện diện trong nhiều tác phẩm cổ điển. Nếu nói Thơ là một loại tôn giáo cũng không quá lời, và ở đó có Niềm tin, Cái đẹpý nghĩa triết lý.

II. Thị hiếu văn nghệ là năng lực hiểu biết và đánh giá cái giá trị thẩm mỹ của tác phẩm, là thuộc tính tương đối bền vững của cá nhân. Thị hiếu mỗi người lúc đầu biểu hiện ở cách đánh giá cảm tính (thích hay không thích), dần dần được trang bị tối thiểu về đặc trưng và ngôn ngữ nghệ thuật, chúng hiểu tại sao lại thích, từ đó mà nhận biết được cuốn sách này hay hay dở, bức tranh kia đẹp hay xấu. Những yếu tố chủ quan (tri thức đánh giá) và nhân tố khách quan (tác phẩm được đánh giá) thường có độ vênh do thị hiếu cá nhân, trình độ dân trí của người đánh giá lịch sử ra đời của tác phẩm; hiệu quả xã hội, hiệu quả thẩm mỹ của tác phẩm, v.v… quy định. Thị hiếu không phải bất biến. Thời đại nào cũng vậy, dân tộc nào cũng vậy, tác phẩm vốn có đa đồng, đa nghĩa, việc đánh giá tác phẩm nghệ thuật khác nhau là chuyện không lạ, thậm chí cả khi tác phẩm được vinh danh vẫn có ý kiến thẩm định ngược lại. Người ta gọi đó là thị hiếu phức hợp. Vì vậy khi bàn về thị hiếu nghệ thuật phức hợp cần chú ý đến tính khả biến:

-   Cảm thụ nghệ thuật là môtíp tâm lý chủ quan của cá nhân. Nó gây phấn chấn không khác mấy so với uống rượu sâm banh, thưởng thức ly cà phê, nghe nhạc giao hưởng, v.v… Cần tôn trọng vai trò của tình cảm, sở thích, trải nghiệm sinh hoạt của cá nhân. Song lại phải chú ý đến chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ của xã hội, chứ không hoàn toàn như sở thích về trang phục, về một kiểu tóc thời trang hay một “mác” xe hơi hiện đại. Ở đây, thị hiếu nghệ thuật có mẫu số chung của cộng đồng, nên mới có thị hiếu xã hội. Trước đây, Đài Tiếng nói Việt Nam, có tiết mục ngâm thơ, trong đó có những trích đoạn về Truyện Kiều được nhiều người nghe ngưỡng mộ. Nhưng, bây giờ, nếu ta cứ ngâm nga Kiều trên đài Tiếng nói quốc gia là việc quảng bá không hợp với thị hiếu số đông, nhất là lớp trẻ, khó chấp nhận với nhịp điệu cuộc sống đương đại.

-   Thị hiếu thay đổi theo giai đoạn lịch sử, bộc lộ quan điểm nghệ thuật của người đọc, người nghe. Từ khi Đổi mới đến nay, một bộ phận văn học - nghệ thuật hải ngoại của hơn bốn triệu đồng bào, đã được hình thành và phát triển, có những đóng góp quan trọng ở các lĩnh vực văn học, điện ảnh, mỹ thuật, sân khấu nước nhà. Bên cạnh nhiều tác phẩm hữu ích, vẫn tồn tại một số tác phẩm, bài viết chưa thật sự khách quan, có hại cho sự nghiệp đại đoàn kết. Phản ánh quan điểm lỗi thời của một bộ phận rất ít những người lưu vong do thiếu thông tin, nhất là thông tin về học thuật, không tiếp xúc với không khí đổi mới của đất nước.

-   Thơ trẻ và thị hiếu bạn đọc đương đại. Phông văn hóa tổng quát rộng, ý thức về cái đẹp, cao, độ chênh giữa cái Tôi nhà thơ và cái Ta cộng đồng càng thu hẹp… sẽ là hiệu ứng của thơ hay, thơ có ích khi nhà thơ hóa thân vào những cảnh đời của đồng loại. Ai đó nói rằng, thơ hay thường thiên về nỗi buồn. Tôi không phản đối, nhưng chưa đủ. M. Gorki thường khuyên các nhà văn trẻ hãy sáng tác sao cho cái mình “xé thịt đẻ ra” có hiệu ứng xã hội, được người đời đón đợi. Ông phân biệt nhà thơ người thợ thơ. Người thứ nhất quan tâm đến “tâm lý sự kiện”, tính đa nghĩa của tứ thơ, sự tìm tòi ngôn từ. Người thứ hai thường bắt chước, háo hức muốn cách tân nhưng “dục tốc bất đạt”, thích làm sáng, cường điệu, tâm lý ăn non, khi quả chưa chín. Tệ hơn, là do lý thuyết sai, định đề thẩm mỹ lầm lẫn dẫn đến sáng tác chệch hướng, mất lòng bạn đọc, khi họ không hiểu, thì làm sao biết thơ hay hay dở. Thơ là phi lý tính, có khi là siêu thực, là nhận thức và cảm thức, trí tuệ và bản năng. Trong thơ không có chuyện đúng - sai v.v…nhưng nhờ tài năng, hình tượng thơ mới ra đời, tình cảm của nhà thơ mới được thăng hoa, dồn nén một năng lượng tinh, khí, thần, ngôn ngữ thơ đa sắc, có khi chỉ một chữ một câu làm sáng cả bài thơ để đời. Lê Đạt là nhà thơ sớm có ý thức đổi mới cách làm thơ. Trong bài Thơ và vật lý(3) ông phê phán sự cứng nhắc, bảo thủ của thơ đã ngự trị trên thi đàn, rồi đưa ra định nghĩa: “Thơ là hành vi phát nghĩa, coi cấu trúc gián đoạn là nền tảng của thơ hiện đại, phá vỡ cấu trúc liên tục (thơ cũ), nhưng khi vận dụng lý thuyết này vào bài Hoa mười giờ thì thật vất vả người đọc tìm ra được nghĩa của câu thơ: Hoa em đền hoa má / Thơm má hoa mười giờ / Mưa rửa đền hoa tuổi trăng lau quên”. Các nhà thơ trẻ cần giữ vững bản lĩnh khi tìm cái mới, cái lạ. Nhạc sĩ F.Schubert có lần khuyên lớp trẻ: “Các tác phẩm của anh có nhiều cái hay, cái mới. Tuy nhiên cái hay thì không mới, còn cái mới thì không hay”. Cái trước là bắt chước, còn cái sau là sự bất lực của tài năng. Mà trò đời, đã bắt chước mà giống như người ta là sự ngu ngốc. Một họa sĩ Đức ví von rằng, vẽ một con chó mà giống hệt như nó, thì anh có hai con chó, chứ không có nghệ thuật. Thơ trẻ tự nhận rằng, vào mươi, mười lăm năm nay, dù có những ý tưởng thành thật trong thơ, dù có sốt ruột trong tìm kiếm tứ thơ, vẫn không lấp được khoảng cách giữa thơ trẻ và bạn đọc. Đỗ Doãn Phương, nhiều năm trước, có sự đánh giá thẳng thắn: “Trong mười năm trở lại đây, đời sống thơ ca hiện đại ồn ả, loạn xạ và đôi khi cũng ngầu bụi vì những dòng thơ phô bày những thú vui xác thịt và bất xứng với những dòng thơ thanh cao; nhiều khi lại được tôn vinh như những kỳ tích đã vén cả tấm chăn cá nhân lên cho thiên hạ cười”. Thật vậy, trong thơ hiện nay không có vùng cấm. Anh, chị có thể viết nhiều đề tài bằng nhiều thi pháp khác lạ, nhưng muốn cho thơ phả được hơi thở cuộc sống muôn màu của cây đời, tạp chất của bụi đời vào những vần thơ của mình, v.v… đòi hỏi chỗ đứng, cách nhìn, tính công dân của nhà thơ hiện đại. Ở lĩnh vực này có sự tự do và tinh thần trách nhiệm của người viết. Lòng tự tin và sự lựa chọn thông minh của người đọc.

Tôi tin thơ trẻ sẽ nở rộ vòng tay cách tân, sáng tạo đúng hướng, đúng độ của tầm thức văn hóa, của tâm hồn lộng gió, bớt đi những cái kỳ quặc, thô kệch của dòng thơ nhập từ bên ngoài, những suy tư bệnh hoạn, những ngôn từ rối rắm và xoàng xỉnh, cách diễn đạt thô thiển, gượng gạo, mô phỏng vờ vĩnh về mọi đề tài. Nhất định thơ trẻ là nơi gặp gỡ giữa thơ với đời, giữa cái Tôi và cái Ta. Hãy đập vào trái tim mình, nơi đó chính là tài năng thơ trẻ.

H.S.V

 

 

 

 

________________

(1) Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, 4 tập, Nxb Từ điển bách khoa Việt Nam, 1995, tập I, tr.738.

(2) Dẫn theo: Về văn hóa - văn nghệ, Nxb Văn hóa, 1972, tr. 370 - 375.

(3) Báo Văn nghệ số 25 đặc san thơ, 2005.

 

HỒ SĨ VỊNH
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 242

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

20/04

25° - 27°

Mưa

21/04

24° - 26°

Mưa

22/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground