Do nhiều lẽ, đồng chí Lê Duẩn viết không nhiều. Nhưng những bài nói, diễn văn, tiểu luận của đồng chí đều gây ấn tượng mạnh, nhờ triết lý sâu, kiến thức rộng, tính thực tiễn cao, phép biện chứng sắc sảo. Bài viết này chỉ dừng lại ở hai triết luận về con người và văn hóa được Lê Duẩn vừa biện giải vừa phản biện một cách sâu sắc, vừa có lý vừa có tình, tất cả đều mang tính nhân văn và tính thời sự cho đến tận hôm nay, khi Đảng ta mới công bố nhiều Nghị quyết về chủ đề trên, nhất là Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) năm 2014. Đây được coi là bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận về văn hóa của Đảng có ý nghĩa như một cương lĩnh văn hóa trong thời kỳ Đổi mới, mà trọng tâm là xây dựng con người, xây dựng môi trường sống và làm việc có văn hóa, có đạo đức, văn minh, lành mạnh.
Lời mở
Vào nhiều thập kỷ gần đây, nhất là ở thế kỷ XX, trong triết học và nghệ thuật học, ở các nước phương Tây và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, các học giả đã bàn không ít về chủ đề Con người và văn hóa, văn minh. ??ng g?p c?a h? l? ??ng k? v?o khoa h?c x? h?i v? nh?n v?n qu?c t?, nh?ng nh?ng ? ki?n tr?i ng??c v?n c?n ??. C?u h?i v? c?u tr? l?i nh? sau:Đóng góp của họ là đáng kể vào khoa học xã hội và nhân văn quốc tế, nhưng những ý kiến trái ngược vẫn còn đó. Câu hỏi và câu trả lời như sau:
Con người là sinh vật xã hội, kẻ mang trong mình năng lực tổ chức thế giới, người sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần, người sáng tạo ra “thiên nhiên thứ hai” được gọi là văn hóa theo nghĩa rộng.
Như vậy, con người không phải là một thực thể bí ẩn như có nhà văn hóa đã chiêm nghiệm. Con người có trước văn hóa và văn minh. Chính con người đã tưởng tượng ra tín ngưỡng, tôn giáo, Thần, Thánh từ thời tối cổ cho đến các thời đại sau, khi con người đã sáng tạo ra mọi của cải vật chất và của cải tinh thần.v.v...
Sự phát triển con người, ở mỗi thời đại đều có quan niệm khác nhau, nhưng mẫu số chung là sự tôn vinh, lòng ngưỡng mộ của lịch sử đối với con người. Thời cổ đại Hy - La, con người được coi là “châu báu” của vũ trụ, khuôn mẫu của muôn loài. Thời đại Phục hưng sản sinh ra những tài năng bách khoa, những con người khổng lồ về nhiệt tình sáng tạo, về lòng say mê lao động, khổng lồ về tư tưởng và sâu sắc về trí tuệ, coi con người là trung tâm của vũ trụ. Còn K.Marx có câu nói thật ấn tượng: Con người là một sinh học - xã hội, một thực thể tự nhiên có tính chất người, tính loài của con người. Vào đầu thế kỷ XX, đại văn hào M.Gorki trong một bài thơ bằng văn xuôi về con người, đã ca ngợi hết lời về chủ nhân của vũ trụ: Ta muốn mỗi con người phải trở thành CON NGƯỜI viết hoa! Tất cả ở trong con người. Tất cả để cho con người1.
Còn văn hóa? Tại sao nhiều nhà khoa học gọi thế kỷ XX trở đi là thế kỷ của văn hóa? Văn hóa nghệ thuật hiện đại là văn hóa phức điệu, đa diện, đa sắc được gọi là văn hóa được giao lưu. Dù quang cảnh học thuật của thế giới có biến động đến đâu, các quan điểm triết thuyết có thay đổi như thế nào: toàn cầu hóa, hậu hiện đại, hiện thực mới, thực chứng mới, v.v… thì khoa học chân chính vẫn tìm ra được nguồn gốc của văn minh và văn hóa. Ở phương Tây đó là Con người, Trí tuệ và Đất. Còn ở phương Đông, văn hóa và minh triết bắt rễ từ Thiên, Địa, Nhân.
Khái quát sơ lược bức tranh toàn cảnh về những quan niệm: Con người và văn hóa thời đại chúng ta, để có thể thấy những kiến giải triết học của đồng chí Lê Duẩn vào những thập kỷ 60, 70 của thế kỷ XX đã tiếp cận được với những quan điểm tiên tiến của chủ nghĩa Marx - Lenin và những trào lưu triết học tiến bộ khác.
Con người là sản phẩm lịch sử của một xã hội nhất định
Trong bài nói tại Hội nghị Tuyên giáo toàn miền Bắc tháng 4/1962, đồng chí Lê Duẩn khẳng định: “Con người luôn luôn là con người lịch sử, con người xã hội. Nó là sản phẩm lịch sử của một xã hội nhất định”2. Như vậy, con người không phải là siêu nhân đứng bên lề lịch sử, không có cội nguồn lịch sử. Con người cũng không phải là con người trừu tượng, siêu hình, mà tổng hòa các yếu tố biện chứng: có tố chất tích cực và hành vi tiêu cực, cái bất biến và cái khả biến, có cái cá nhân và cái cộng đồng, có lịch đại và đồng đại, v.v… Trong tiến trình dựng nước và giữ nước, sự hình thành con người bị chi phối của cái điều kiện khách quan và chủ quan: lịch sử, địa lý, chế độ chính trị, tâm lý, phong tục tập quán, phương thức sản xuất, v.v… Người Việt Nam thường có tâm lý thích nói những ưu trội, còn những nhược điểm, thói xấu thường khó chấp nhận. Thực trạng đó thật ra thiếu khoa học và khách quan. Nên đồng chí nói tiếp: “Ta là người Việt Nam, nhưng ta hiểu ta không phải dễ, hiện nay chúng ta chưa phải hiểu rõ người Việt Nam lắm đâu. Muốn hiểu rõ thì phải đối chiếu với người khác, nếu không, thì mình không hiểu được mình” (tr. 157). Xin nêu một ví dụ: Tại sao vào những năm 50, xuất phát điểm của Việt Nam không khác mấy so với Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore và vài nước Đông Nam Á, nhưng đến nay, nước ta mới được xếp loại vào hàng trung bình, nhất là về kinh tế!? Tất cả đều do con người. Người Việt Nam thông minh, nhưng mới ở từng cá nhân, chưa đến độ thông minh cộng đồng, tài năng bị ràng buộc bởi cơ chế, chất xám bị chảy ra nước ngoài, hiền tài được đào tạo không muốn làm việc cho cơ quan Nhà nước vì lương thấp, có tiến sĩ được đào tạo bài bản ở nước ngoài phải chờ việc, chạy việc. Cách quản lý thiếu khoa học, quan trọng hàng đầu là quản lý vĩ mô đang ở tình trạng bất cập như nhiều Nghị quyết mới của Đảng đã nói. Quản lý vĩ mô là một khoa học, vừa là một nghệ thuật: Quản lý đất đai, tài nguyên, môi trường, quản lý tiền tệ, tài chính, hành chính là những dây thần kinh hệ trọng và nhạy cảm của nền kinh tế quốc dân. Trong xã hội tin học và nền kinh tế tri thức, quản lý vĩ mô đòi hỏi tri thức tổng quát và tri thức chuyên ngành, là sự phối hợp với nhiều đối tác, điều hành theo dự án, chối bỏ lối quản lý kinh nghiệm chủ nghĩa.
Từ những năm 60, khi nói về con người, Lê Duẩn đã đề xuất một luận điểm thật táo bạo, đầy chất thông tuệ biện chứng đó là quan hệ giữa cái cá thể và cái cộng đồng: “Muốn xây dựng tư tưởng làm chủ tập thể, thì phải phá bỏ làm ăn cá thể, nhưng phá như thế nào, phá cái gì và giữ cái gì? Phá bỏ tư tưởng làm ăn cá thể không có nghĩa là phá tất cả thuộc về cá thể. Chủ nghĩa xã hội không bao giờ chủ trương xóa bỏ quyền lợi cá nhân, mà chỉ làm cho quyền lợi cá nhân và quyền lợi tập thể nhất trí với nhau… Trong kinh tế phần cá thể vẫn là nguồn sống của con người, trong xã hội nguyện vọng chính đáng của cá nhân là một sự thật khách quan, là sự sống tự nhiên của con người” (tr. 152). Tư tưởng lý luận và tính thực tiễn của đoạn văn trên rõ ràng là ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx, một phần là của các trào lưu triết học tiến bộ trên thế giới3. Còn sau đó không lâu, cánh cửa đại hội VI của Đảng đã mở rộng chân trời sáng tạo, trong đó có kinh nghiệm khoán 10 trong nông nghiệp ở Vĩnh Phúc do Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc có sáng kiến về khoán sản phẩm cho từng hộ, chứng minh sự phát kiến vai trò cá thể chính đáng trong đời sống của Lê Duẩn.
Phương pháp luận nghiên cứu con người của Lê Duẩn mang tầm chiến lược đã hé mở cho giới khoa học việc nghiên cứu con người là không đơn giản. Thời đó, những kiến giải về con người của Lê Duẩn mới dừng lại con người xã hội và một phần nào bàn về xác tín, niềm tin tôn giáo của một vài giáo phái ở Nam Bộ với mục tiêu đại đoàn kết dân tộc. Ngày nay, con người được giới khoa học nhìn nhận trong mối quan hệ đa chiều: vừa công khai, vừa bí ẩn, vừa dễ hiểu, vừa phức tạp. Ngoài con người xã hội còn có con người sinh học (chiều cao, trọng lượng, tầm vóc, dục vọng, sinh lý, tình dục); con người tâm lý (tâm trạng, vô thức, hữu thức, v.v…); con người tâm linh (niềm tin, tôn giáo, tín ngưỡng).
Văn hóa xét về bản chất mang tính hòa giải, hòa hiếu, nhân văn
Luận điểm này ta thấy rõ ở Nguyễn Trãi (thay mặt Lê Lợi) là việc nhân nghĩa cốt ở yên dân; ở Quang Trung là minh triết trong các Chiếu khuyến nông, Khoan thư sức dân, Cầu hiền tài; ở Hồ Chí Minh: Cách mạng là sáng tạo. Những năm 1945 - 1946 bàn tay hòa hiếu của Người đã nhiều lần chìa ra cho các nhà hoạch định chính sách ở Paris, ở Washington, nhưng đều bị họ từ chối, mà hậu quả khôn lường cho Việt Nam và thế giới. Còn đối nội là sự trọng dụng, biệt đãi các bậc hiền nhân, chí sĩ, dù từ phương nào đến, miễn là họ có tài, yêu nước, thương dân.
Nói về bản chất hòa hiếu của văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại, Lê Duẩn bằng phép biện chứng sắc sảo đã nêu một chuỗi quan hệ hữu cơ giữa cái chung và cái riêng, lý trí và tình cảm, lý luận và thực tiễn. Trong bài nói: Tạo một chuyển biến mạnh mẽ về công tác tư tưởng4 tại Hội nghị Tuyên giáo toàn miền Bắc tháng 4 - 1962, sau khi phân tích quy luật đặc thù của tư tưởng, của văn hóa, đồng chí nói: “Chủ nghĩa xã hội không bao giờ chủ trương xóa bỏ quyền lợi cá nhân, chỉ làm sao cho quyền lợi cá nhân và quyền lợi tập thể được nhất trí, v.v… Ta khuyến khích mỗi người cố gắng tiến lên để đời sống chung và riêng được khá hơn, v.v…”5. Phương pháp tư duy năng động và cởi mở được thể hiện ở nhiều ý tưởng xanh rờn: “Công tác tư tưởng không chỉ nắm lý luận, phải biết gắn tình cảm với lý luận” “vấn đề nhân sinh quan là vấn đề lý trí, đồng thời là vấn đề tình cảm” “triết học giải quyết lý trí, nghệ thuật xây dựng tình cảm. Cả hai đều phải nhất trí với nhau thì mới giải quyết được vấn đề tư tưởng; để hiểu được một việc gì thì con người dùng lý lẽ, lý trí nhưng khi hành động thì phải có tình cảm”6. Lý trí và tình cảm là hai thuộc tính thiêng liêng của con người. Thông qua chính trị, triết học, đạo đức học, văn học, nghệ thuật, con người xây dựng nhân cách, đạo đức, năng khiếu, sáng tạo. Ở đây cần có học vấn đã đành, nhưng còn cần đến cái cần có tức là giáo dục và tự giáo dục, cần kiến thức và cách giải quyết tri thức trong thực tiễn. Tôi hiểu câu phương thức hành động trong cách mạng tư tưởng và văn hóa của đồng chí Lê Duẩn là: “không dùng bạo lực, hành chính, mà dựa vào tự nguyện” của từng cá nhân là như vậy. Con người khác con vật là ở chỗ: Mỗi con vật chỉ là cái mà nó đang là… Duy chỉ có con người là không có gì tuyệt đối cả. Nó sẽ trở thành cái mà nó phải là… (tức là văn hóa, pháp luật, đạo đức và một phần tín ngưỡng, tôn giáo, v.v…).
Có hai kiến giải về văn hóa của Lê Duẩn vừa có ý nghĩa lâu dài vừa có tính cập nhật đó là: quy luật của nghệ thuật: “Nói đến nghệ thuật tức là nói quy luật riêng của tình cảm, nghệ thuật vận dụng quy luật riêng của tình cảm”7. Tôi coi đây là một phát kiến mới mang tính triết học trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật. Ở nước ta, trong khoa lý luận văn học trước đồng chí Lê Duẩn, có nhà văn coi nghệ thuật là tiếng nói tình cảm. Trong một bài viết, Nguyễn Đình Thi đã dẫn lại ý niệm của Lep Tônxtoi về vai trò của tình cảm, của cảm xúc cá nhân, với câu nói súc tích: “Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm… cảm giác, đời sống cảm xúc, ấy là chiến khu chính của văn nghệ” và nhấn mạnh cái ánh sáng bên trong, sự vận động biện chứng của tâm hồn con người. Nhưng chưa có học giả nào nêu thành quy luật của tình cảm. Khi nói quy luật riêng của tình cảm tức là nói đến tính khách quan, phát triển theo dạng thức đặc thù, độc lập với lý trí, với ý thức. Tình cảm của con người trong nghệ thuật (chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận) thường rộng lớn, thăng hoa, vượt qua nhận thức suy lý. Tác phẩm nghệ thuật đòi hỏi tác giả ngoài nhận thức và phản ánh, còn bước sang trực giác, ẩn chứa trong mình sức mạnh của tri giác, cái mà nhận thức lý tính bất lực. Trong quá trình sáng tạo, nghệ sĩ không chỉ tỉnh mà còn biết say, không chỉ theo con đường mòn lô gích trong khi diễn đạt, mà còn đòi hỏi sức tưởng tượng, liên tưởng, linh cảm, vô thức. Thiên chức của nghệ thuật là giáo dục tình cảm, xây dựng ở người đọc, người nghe, người xem một tình cảm lành mạnh, một khoái cảm thú vị khi đọc một câu thơ hay, một bản nhạc du dương, một bức tranh có hồn, v.v… Người ta nói chỉ có nghệ thuật mới phá bỏ được độc quyền của nhận thức lô gích là vậy.
Cách đây trên dưới 50 năm, Lê Duẩn đã viết những dòng mà thời đó ít người quan tâm. Đó là văn hóa gia đình: “Gia đình là tế bào tự nhiên của xã hội, là một hình thức tồn tại của đời sống con người. Không có gia đình để tái sản xuất ra bản thân con người thì xã hội không thể tồn tại và phát triển được”… “Người cách mạng không coi nhẹ gia đình, không phải là vô gia đình”8 như luận điệu của kẻ xấu. Nói như vậy là rất mới, và vẫn là vấn đề rất nóng hiện nay, khi một bộ phận cha mẹ, do nhiều nguyên nhân chối bỏ vai trò thiêng liêng của gia đình, lơ là việc giáo dục lớp trẻ. Ở một số gia đình vấn đề gia phong, gia lễ bị sức ép của lối sống thực dụng, chữ hiếu không được coi trọng; “già không được nuôi, trẻ không được dạy”. Một bộ phận lớp trẻ xa rời truyền thống dân tộc, vừa sùng ngoại, phục ngoại một cách vô cớ, v.v… Ở đây có hai vấn đề: cái trước là văn hóa hiểu biết, tức là trình độ học vấn; còn cái sau là văn hóa giáo dục tức là trách nhiệm công dân, đạo lý làm người, sự tu thân của một thành viên trong gia đình.
V.I. Lenin có lần nói: “Triết học là văn hóa của tâm hồn”9. Đọc những kiến giải triết học của Lê Duẩn về con người và văn hóa, giúp ta hiểu sâu hơn về vai trò trung tâm của con người, về nền tảng tinh thần và động lực của văn hóa, nguồn lực nội sinh của phát triển, coi vị trí của văn hóa ngang hàng với chính trị, kinh tế, mà có thời điểm lịch sử, văn hóa “đi trước” các loại hình ý thức khác.
Tháng 12 - 2016
H.S.V









