Hiền Lương bảy nhịp. Hiền Lương 21 năm là nhát chém cắt ngang thân mình Tổ quốc, là nỗi đau của mỗi người Việt Nam, của mỗi người dân Vĩnh Linh – Quảng Trị. Một nỗi đau đã biến thành nhạc, biến thành thơ, biến thành những tình cảm xót xa nhất mà cũng thăng hoa nhất.
Tân Linh là nhà thơ quê Vĩnh Linh, Quảng Trị. Quê của bảy nhịp Hiền Lương. Quê của nỗi đau chia cắt. Đó là những tiền đề cho thơ ca khởi phát. Có lẽ vì sinh ở miền quê quá đỗi đặc biệt ấy, mà Tân Linh, vốn là một nhà báo, đã mê mải với thơ, mê mải làm thơ. Và “Hiền Lương bảy nhịp” là bản trường ca, có thể là đầu tiên của anh, viết dài hơi về cầu Hiền Lương, về nỗi đau 21 năm cắt chia đất nước.
Tôi đã có cái may mắn tình cờ, khi đi qua cầu Hiền Lương vào đúng ngày 20 – 7 – 1975. Có một đoạn trong quyển sách “Lang thang qua chiến tranh” tôi viết về kỷ niệm này:
“Đúng ngày 20 – 7 – 1975, tôi qua cầu Hiền Lương. Cùng nhà văn Nguyễn Khắc Phục. Mãi sau này mới nhớ ra, đó là ngày 20 - 7, chứ lúc xe đò cà rịch cà tang chạy qua cầu Hiền Lương, tôi với Phục đều không để ý đó là ngày nào. Chúng tôi xuất phát từ Huế. Sở dĩ hai thằng có chuyến đi chung trở ra Bắc là do tôi... không có tiền. Không có một xu nào. Đi lang thang gần như khắp miền
Mỗi người Việt khi nhắc tới tên Hiền Lương, đều cảm thấy cái tên này đã quen với mình từ lâu lắm. Nhất là người quê ở miền Bắc. Chính một thời âm nhạc và văn học “Đấu tranh Thống nhất” từ một nửa đất nước đã nổi lên những ca khúc của Hoàng Hiệp: “Câu hò trên bến Hiền Lương” (lời Đằng Giao), của Phan Huỳnh Điểu “Tình trong lá thiếp”, của Vĩnh Cát “Tâm tình sông Bến Hải”, của Trần Viết Bính “Dòng sông”, và hợp xướng của Doãn Nho “Sóng Cửa Tùng”...Có nhiều bài thơ về cầu Hiền Lương và sông Bến Hải của Tế Hanh, Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông, Trinh Đường… rồi bút ký của Nguyễn Tuân cũng được viết ra trong thời kỳ ấy, tất cả đã là những tác phẩm nổi tiếng, những tác phẩm “đi cùng năm tháng” từ hơn nửa thế kỷ trước.
Năm nay, kỷ niệm 60 năm cầu Hiền Lương, sông Bến Hải trở thành vĩ tuyến tạm thời chia cắt nước Việt Nam, một cuộc chia cắt “tạm thời” kéo dài tới 21 năm, mà nếu không có ngày 30 - 4 - 1975, thì chưa biết sẽ “tạm thời” tới bao giờ?
Bây giờ, có thêm trường ca Hiền Lương bảy nhịp của Tân Linh.
“Sông chia hai nửa
Sông chỉ một bờ
Con cá con tôm nào có chia lìa
Dòng nước hiền hòa bỗng dưng thành lưỡi dao oan nghiệt
Cắt đôi khúc ruột”
Bản trường ca cứ dẫn dắt người đọc đi từ nỗi đau này tới niềm yêu khác, từ mất mát tới khát khao, từ chia lìa tới đoàn tụ… 21 năm đâu phải là khoảng thời gian ngắn ngủi. Biết bao cuộc đời đã kết thúc ở hai bên cầu Hiền Lương, hai bên bờ Hiền Lương. Những mái đầu trắng khăn tang và những mái đầu bạc vì đợi chờ khắc khoải.
“Ngỡ đò ngang
Ai ngờ sông chảy dọc
Thuyền xuôi
Tôi oán dòng sông
Tôi ghét hàng cọc gỗ
Cắm xuống sông Hiền chia đôi dòng nước
Ngăn đôi con sông
Tôi thương những cánh buồm nâu đơn chiếc
Lặng lẽ nương theo dòng”
Người ta nói, sao ở Việt
Cái được lớn nhất của trường ca này, là tác giả được thanh thỏa với lòng mình. Chúng ta yêu đất nước, nhiều khi đến vò xé tâm can, nhưng đâu phải lúc nào cũng có thể nói ra. Nhất là nói ra một cách dễ dãi, nhẹ hều. Với Hiền Lương, thì sức nặng của ký ức có khi là quá lớn với một người đã từng sinh ra và lớn lên, dù chỉ ở khoảng đầu đời, ở đó.
“Có lẽ không đâu trên quả đất này
Nỗi chờ đợi dài hơn quãng đời hạnh phúc
Cuộc chờ đợi nhau 21 năm
Có người vợ ngóng chồng qua hai hàng nước mắt
Chờ lúc tóc xanh thành đầu bạc
Em chờ anh không nghĩ đến thời gian
Không sợ hoa tàn
Bao nhiêu mùa trái chín
Không người ươm cây
Bao mùa màng khát bỏng
Mong mưa gieo ruộng cày
Hai mươi mốt năm sông vẫn thế
Chỉ tội lòng người không thể…”
Nghẹn ngào là những đoạn thơ như vậy trong trường ca. Một trường ca đầy cảm xúc, nó không cho ta sự bình thản khi đọc, nếu ta là người Việt
T.T









