Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 18/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Hiền Lương bảy nhịp

Hiền Lương bảy nhịp. Hiền Lương 21 năm là nhát chém cắt ngang thân mình Tổ quốc, là nỗi đau của mỗi người Việt Nam, của mỗi người dân Vĩnh Linh – Quảng Trị. Một nỗi đau đã biến thành nhạc, biến thành thơ, biến thành những tình cảm xót xa nhất mà cũng thăng hoa nhất.

Tân Linh là nhà thơ quê Vĩnh Linh, Quảng Trị. Quê của bảy nhịp Hiền Lương. Quê của nỗi đau chia cắt. Đó là những tiền đề cho thơ ca khởi phát. Có lẽ vì sinh ở miền quê quá đỗi đặc biệt ấy, mà Tân Linh, vốn là một nhà báo, đã mê mải với thơ, mê mải làm thơ. Và “Hiền Lương bảy nhịp” là bản trường ca, có thể là đầu tiên của anh, viết dài hơi về cầu Hiền Lương, về nỗi đau 21 năm cắt chia đất nước.  

Tôi đã có cái may mắn tình cờ, khi đi qua cầu Hiền Lương vào đúng ngày 20 – 7 – 1975. Có một đoạn trong quyển sách “Lang thang qua chiến tranh” tôi viết về kỷ niệm này:

“Đúng ngày 20 – 7 – 1975, tôi qua cầu Hiền Lương. Cùng nhà văn Nguyễn Khắc Phục. Mãi sau này mới nhớ ra, đó là ngày 20 - 7, chứ lúc xe đò cà rịch cà tang chạy qua cầu Hiền Lương, tôi với Phục đều không để ý đó là ngày nào. Chúng tôi xuất phát từ Huế. Sở dĩ hai thằng có chuyến đi chung trở ra Bắc là do tôi... không có tiền. Không có một xu nào. Đi lang thang gần như khắp miền Nam sau giải phóng, nhưng túi tôi không tiền. Anh em bạn bè bao cho cả. Điều đặc biệt là tuy túi tôi không có tiền nhưng tôi chả cảm thấy thiếu thốn hay bất tiện. Ai rủ đi đâu tôi cũng đi. Ai cho ăn gì, nhậu gì, tôi đều hớn hở đón nhận. Vì thế, khi Nguyễn Khắc Phục rủ: “Tao với mày ra Hà Nội đi!” là tôi OK liền. Đã tới lúc đứa con lưu lạc phải trở về mái nhà cha mẹ rồi. Tôi biết, Phục sẽ bao tôi chuyến đi này, từ tiền mua vé xe đò tới tiền ăn dọc đường. Thực ra, vé xe đò cũng rẻ, còn ăn chả bao nhiêu, vì dạo đó dọc đường xuyên Việt ra Bắc có gì đâu mà ăn! Tôi cũng không nhớ hai thằng tôi đã ăn gì trong hai ngày ngồi xe đò, vì tâm trạng lúc ấy rất khó tả. Nói vậy, dù lang thang, chúng tôi vẫn còn cha mẹ. Nhất là với tôi, cha mẹ già, con một, tôi lại bỏ đi đã năm năm rồi. Nói không nhớ cha mẹ thì không đúng. Ở rừng, có những lúc thật buồn, tôi đã khóc một mình khi nhớ về thầy má mình. Và tôi biết, ở nơi xa ấy, thầy má tôi cũng đã bao lần khóc trong đêm. “Những giọt nước mắt suốt đời không thấy”. Không ai thấy hết. Suốt chuyến đi, tôi thì bồi hồi, Phục thì sụt sịt. Không phải anh chàng đa cảm khóc than gì, mà vì anh ta cảm, sổ mũi, nhức đầu”.

Mỗi người Việt khi nhắc tới tên Hiền Lương, đều cảm thấy cái tên này đã quen với mình từ lâu lắm. Nhất là người quê ở miền Bắc. Chính một thời âm nhạc và văn học “Đấu tranh Thống nhất” từ một nửa đất nước đã nổi lên những ca khúc của Hoàng Hiệp: “Câu hò trên bến Hiền Lương” (lời Đằng Giao), của Phan Huỳnh Điểu “Tình trong lá thiếp”, của Vĩnh Cát “Tâm tình sông Bến Hải”, của Trần Viết Bính “Dòng sông”, và hợp xướng của Doãn Nho “Sóng Cửa Tùng”...Có nhiều bài thơ về cầu Hiền Lương và sông Bến Hải của Tế Hanh, Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông, Trinh Đường… rồi bút ký của Nguyễn Tuân cũng được viết ra trong thời kỳ ấy, tất cả đã là những tác phẩm nổi tiếng, những tác phẩm “đi cùng năm tháng” từ hơn nửa thế kỷ trước.

Năm nay, kỷ niệm 60 năm cầu Hiền Lương, sông Bến Hải trở thành vĩ tuyến tạm thời chia cắt nước Việt Nam, một cuộc chia cắt “tạm thời” kéo dài tới 21 năm, mà nếu không có ngày 30 - 4 - 1975, thì chưa biết sẽ “tạm thời” tới bao giờ?

Bây giờ, có thêm trường ca Hiền Lương bảy nhịp của Tân Linh.  

“Sông chia hai nửa

Sông chỉ một bờ

Con cá con tôm nào có chia lìa

Dòng nước hiền hòa bỗng dưng thành lưỡi dao oan nghiệt

Cắt đôi khúc ruột”

Bản trường ca cứ dẫn dắt người đọc đi từ nỗi đau này tới niềm yêu khác, từ mất mát tới khát khao, từ chia lìa tới đoàn tụ… 21 năm đâu phải là khoảng thời gian ngắn ngủi. Biết bao cuộc đời đã kết thúc ở hai bên cầu Hiền Lương, hai bên bờ Hiền Lương. Những mái đầu trắng khăn tang và những mái đầu bạc vì đợi chờ khắc khoải.

“Ngỡ đò ngang

Ai ngờ sông chảy dọc

Thuyền xuôi

Tôi oán dòng sông

Tôi ghét hàng cọc gỗ

Cắm xuống sông Hiền chia đôi dòng nước

Ngăn đôi con sông

Tôi thương những cánh buồm nâu đơn chiếc

Lặng lẽ nương theo dòng”

Người ta nói, sao ở Việt Nam nhiều thơ thế? Nhưng khi đã có những Hiền Lương, những chia cắt, bao số phận trở nên bi thảm, bao tuổi trẻ và cả tuổi thơ phải chịu những mất mát, thì bao nhiêu thơ cho đủ để nói lên tất cả những nỗi đau này? Tôi còn nhớ, cảm xúc của tôi, một đứa trẻ mới mười hai, mười ba tuổi khi nghe những ca khúc, những bài thơ “Đấu tranh Thống nhất” được trình diễn trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam. Đó là cái gì cứ cuộn lên, dâng tràn lên trong lòng. Xúc động thật sự. Dù lúc ấy tôi chưa đủ tuổi để cảm nhận hết về nỗi đau chia cắt. Chắc Tân Linh cũng vậy. Quê Quảng Trị, nhưng mãi khi đã qua tuổi 50, anh mới có thể viết được những dòng thơ về Hiền Lương. Những dòng thơ chất chứa bao nỗi niềm của một người con muốn đi ngược lại thân phận của quê hương mình, của gia đình mình, của Tổ quốc mình. Cuộc “đi ngược” này không phải là “hành trình về nguồn” mà bây giờ nhiều bạn trẻ đang thực hiện, mà nó là sự chiêm nghiệm, trải lại, hồi cố. Nó không thể thênh thang hay dềnh dàng. Nó cứ cuộn lên từng khúc, xót xa lên từng nhịp, từ nhịp một tới nhịp bảy của cây cầu chứng nhân, cây cầu bi kịch.

Cái được lớn nhất của trường ca này, là tác giả được thanh thỏa với lòng mình. Chúng ta yêu đất nước, nhiều khi đến vò xé tâm can, nhưng đâu phải lúc nào cũng có thể nói ra. Nhất là nói ra một cách dễ dãi, nhẹ hều. Với Hiền Lương, thì sức nặng của ký ức có khi là quá lớn với một người đã từng sinh ra và lớn lên, dù chỉ ở khoảng đầu đời, ở đó.

“Có lẽ không đâu trên quả đất này

Nỗi chờ đợi dài hơn quãng đời hạnh phúc

Cuộc chờ đợi nhau 21 năm

Có người vợ ngóng chồng qua hai hàng nước mắt

Chờ lúc tóc xanh thành đầu bạc

Em chờ anh không nghĩ đến thời gian

Không sợ hoa tàn

Bao nhiêu mùa trái chín

Không người ươm cây

Bao mùa màng khát bỏng

Mong mưa gieo ruộng cày

Hai mươi mốt năm sông vẫn thế

Chỉ tội lòng người không thể…”

Nghẹn ngào là những đoạn thơ như vậy trong trường ca. Một trường ca đầy cảm xúc, nó không cho ta sự bình thản khi đọc, nếu ta là người Việt Nam. Tôi có thể viết nhiều hơn, nhưng tôi muốn dừng lại ở đây, để người đọc tự tiếp xúc với văn bản. Sáu mươi năm của số phận một cây cầu. Cũng là Sáu mươi năm trong số phận thăng trầm của đất nước chúng ta.

T.T

 

THANH THẢO
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 260

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

19/04

25° - 27°

Mưa

20/04

24° - 26°

Mưa

21/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground