|
C |
ó người nghĩ rằng, thơ là của nhân loại chung chung, họ lao tâm khổ tứ đi tìm những đề tài xa xôi, những cách phô diễn khác lạ, chí ít để gây một ấn tượng cho người đọc, nhưng đa phần những bài thơ như thế khó đi được vào lòng người. Có người lại nghĩ rằng, thơ là nghệ thuật vị nghệ thuật. Khi cuộc sống bộn bề những lo toan, họ vui với ngôn từ và rượu. Khi những người xung quanh gồng mình chống lại thiên tai để lao động dựng xây, họ vui với hoa, với gió với trăng. Ở miền Trung nắng gió, họ nhìn thấy tuyết. Khi phố phường còn có kẻ xin ăn, họ mê say với cái tình vô định.
Nguyễn Văn Dùng lại khác. Từ trước tới nay, thơ anh dù công bố trên các báo chí hay trong sổ tay của riêng mình vẫn gắn bó với cuộc sống cần lao, với con người và quê hương Quảng Trị, với cuộc sống dựng xây mà Đảng khởi xướng và lãnh đạo. “Gió cuối miền”, được nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành vào đầu năm 2014 này là một minh chứng.
Với quê hương Quảng Trị, thơ anh là niềm vui. Vui với Đông Hà từ một đống gạch vụn trong chiến tranh nay là thành phố trẻ, dồi dào sức lớn dậy:
Thành phố mình trẻ quá phải không em?
Trẻ như thể tuổi em thời con gái
Trẻ như buổi cầm tay nhau bối rối
Và trẻ như khát vọng ước mơ đầu
Và anh dự cảm về tương lai của thành phố trẻ quê hương với một tình yêu rất thật:
Thành phố mình rồi sẽ lớn nhanh
Tuổi đang thì hít thở làn gió mới
Ban mai dậy ngày lên phơi phới
Gió Hiếu Giang rười rượi phố phường
Cũng ở Gio Linh và các vùng đất đỏ ba zan Quảng Trị, thời nô lệ, người dân chỉ là cu ly, cao su thuộc các đồn điền của ngoại bang, của bọn địa chủ và tư sản giàu có. Bây giờ cao su là của các gia đình lao động, là nguồn thu nhập để làm giàu, để hạnh phúc. Đứng giữa rừng cao su Cồn Tiên, Nguyễn Văn Dùng như đang reo ca, đang mê say:
Em hát véo von trong rừng cao su
Anh đi tìm hoài chẳng thấy
Tiếng hát lay rừng chiều thức dậy
Rừng ngút ngàn tìm em nơi đâu?
Rồi cô thôn nữ cạo mủ hát véo von xuất hiện bất ngờ, vội lẫn vào rừng cao su bạt ngàn làm nhà thơ giật mình.
Bỗng giật mình thấp thoáng áo nâu
Em hiện ra từ trong cổ tích
Thoáng nhìn, miệng cười tinh nghịch
Rồi khẽ chào, gánh mủ lẫn vào xanh…
Đi trên con đường xuyên Á, anh cảm được vẻ đẹp của đại lộ giữa ngút ngàn đồi núi, giữa màu xanh bất tận của nương rẫy và núi rừng, cảm được những gì của “hôm nay và ký ức”, đọng lại là giá trị to lớn của con đường nhiều triển vọng:
Là nhịp cầu tình nghĩa láng giềng
Vắt qua vùng dân ca cổ tích
Khơi mạch nguồn chiều sâu cổ tích
Thăng hoa tiểu vùng sông Mê Công
Nhịp cầu xuyên Á nối những tấm lòng
Đưa ta qua những miền đất hứa
Gieo mầm xanh dịu vùng nắng lửa
Hạnh phúc đang về trong mái nhà chung.
Có những lúc tưởng như anh muốn ôm hết nhịp sống rộn ràng vào thơ, muốn ôm hết không khí cuộc sống sôi động xung quanh mình vào thơ. “Nắng Đông Hà” là một bài thơ như thế:
Người thợ trên cao như đứa trẻ
Tay thước tay bay nhịp nhàng lặng lẽ
… Chị công nhân mồ hôi nhễ nhại
Tiếng chổi tre vẫn giòn mê mãi
… Em gái làng hoa miệt mài vun xới
… Con trẻ đến trường vội đạp xe nhanh
… Hoa An Lạc nở mặc gió Lào nắng lửa.
Kết thúc bài thơ là một lời mời bất ngờ và thú vị: Em có về nơi nắng gió với anh không? Người ta mời bạn gái về hóng mát ở biển, ở những khu du lịch, Nguyễn Văn Dùng mời bạn gái của mình về “ nơi nắng gió”. Vì sao vậy? Nắng của Quảng Trị một thời là nắng lửa. Gió của Quảng Trị khủng khiếp là gió Lào. Thời xa ấy, Chế Lan Viên viết như khóc, như đau: “Gió Lào ơi! Người đừng thổi nữa/ Những ruộng đói mùa, những đồi đói cỏ/ Những đồi sim không đủ quả nuôi người". Bây giờ nắng và gió đã dịu đi nhiều lắm, bởi phía Tây đồi trọc mênh mông xưa đã ngút ngàn xanh những rừng cao su, bạch đàn, keo, hồ tiêu, rừng phòng hộ. Đã mát lành hàng chục hồ nước thủy điện và thủy nông. Người Quảng Trị, bằng những nỗ lực của chính mình, đã thay đổi cuộc đời, đổi thay nắng và gió. Lời mời chân thật và có lý biết bao nhiêu. Em về “nơi nắng và gió” để cảm cái thành quả đổi mới quê hương anh, để được tự hào.
Thơ Nguyễn Văn Dùng không chỉ giàu nhạc điệu mà còn rất giàu hình tượng. Viết cho người con gái vùng cao Hướng Hóa mà ngỡ anh đang vẽ bức tranh thủy mặc:
… Gió hát lời tình yêu
Quanh co con đường phố núi
Bồng bềnh mây trắng nổi
Trăng non treo lưng chừng
Làm thơ về đất nước, con người và cuộc sống lao động, nếu không có nghề, không chắc tay sẽ biến thơ thành những bài văn có vần hoặc những câu tự sự xuống dòng liên tục, là những bài tổng kết, báo cáo vô hồn. Nguyễn Văn Dùng đã thoát lên trên những cái đó. Viết về Cửa Tùng, anh không sa bút vào “bãi tắm nữ hoàng” mà hàng trăm người đã viết, không nhắc đến những khu vườn trù mật phía Tây, những bãi cát thoải dài vàng mịn, và làn nước mát trong xanh lặng sóng. Cửa Tùng với anh thơ mộng một cách riêng: “Cửa Tùng/ Chiều với tôi/ Biển vẫn thế/ Bao nhiêu đôi lứa/ Mỏm đá/ Nhô vú tròn/ Thắp lửa/ Hai mảnh vai tròn/ Thiếu nữ trêu ngươi.” Viết về Hiếu Giang, anh không nhắc đến những chiến công oai hùng đánh đắm tàu giặc lịch sử trên sông Hiếu. Cảm xúc của anh với Hiếu Giang rất mới lạ. Hiếu Giang là tên một con sông mà cứ ngỡ như tên một bạn tình nào đó rất thực cũng là rất mơ.
Bởi tên em rất đổi yêu kiều
Phố thì xưa em thì luôn mới
Trời Hiếu Giang mây giăng bối rối
Gió ngàn phương về dạo phố thẩn thờ
Bởi tên em đẹp đến bất ngờ
Nắng lung linh dòng sông lấp lóa
Xôn xao con đường thì thầm ngọn cỏ
Bởi Hiếu Giang, anh ở lại với chiều
98 bài thơ trong “Gió cuối miền” không chỉ viết về Quảng Trị. Nguyễn Văn Dùng viết về nhiều miền quê khác trong mọi miền đất nước: Hà Nội, Quy Nhơn, Huế, Ninh Bình, Đà Nẵng, Mũi Né, Mỹ Sơn, về nước bạn Thái, Lào, Đức… nhưng viết về con người và mảnh đất quê hương Quảng Trị vẫn là chủ đề lớn, nổi bật.
Nguyễn văn Dùng làm thơ với nhiều ưu thế. Là thi sĩ, anh có tay nghề lâu năm, một trong những nhà thơ gạo cội trong Hội Văn học nghệ thuật Quảng Trị, là cán bộ lãnh đạo cấp sở nhiều năm lăn lộn với phong trào, gần gũi cuộc sống lao động của nhân dân, anh hiểu được tính kiên cường của người Quảng Trị, hiểu cái giá của từng giọt mồ hôi đổ xuống đất này. Viết về sự kiện, sự việc, thơ anh không xơ cứng. Viết về tình yêu đôi lứa, yêu thiên nhiên kỳ thú, thơ anh không lãng mạn, “Để tâm hồn treo ngược ở cành cây” (Sóng Hồng). “Gió cuối miền” đã khá nhuần nhuyễn giữa hiện thực và lãng mạn của một người sống kỹ và viết có trách nhiệm.
“Gió cuối miền” là tập thơ thứ 6 Nguyễn Văn Dùng cho ra mắt bạn đọc gần xa. Mạch nguồn chủ đạo xuyên suốt vẫn là quê hương, đất nước, tình yêu đôi lứa nồng nàn và đầy duyên nợ. Tin rằng, anh sẽ còn dồi dào sáng tạo và đam mê với Nàng Thơ không bao giờ vơi cạn.
L.V.T
_________
* Gió cuối miền - Thơ - Nguyễn Văn Dùng - NXB Nhà xuất bản Hội nhà văn - năm 2014









