|
C |
ó thể còn có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan khác nữa để tờ Tạp chí văn nghệ địa phương phát triển ổn định, bền vững và có những đóng góp xứng đáng vào đời sống văn hoá văn nghệ chung của cả nước mà 6 tờ tạp chí Bắc miền trung chúng ta từng luân phiên tổ chức. Song bằng vào kinh nghiệm nhiều năm làm ở Tạp chí Cửa Việt (TCCV), tôi chỉ đề cập đến 3 vấn đề, nói khác đi là 3 nhân tố cần và đủ; Đó là: 1- Truyền thống lịch sử, văn hoá vùng đất nơi tờ tạp chí đứng chân 2- Cộng tác viên và chất lượng đội ngũ cầm bút 3- Bộ máy tinh và gọn của tờ tạp chí cùng với cơ chế chính sách kèm theo.
1- Truyền thống lịch sử, văn hoá vùng đất: Trải qua những thăng trầm thế cuộc đã để lại cho mảnh đất Quảng Trị những dấu ấn lịch sử văn hoá đặc sắc. Kể từ khi Lý Thường Kiệt cưỡi ngựa tới Cửa Việt- Cồn Tiên, bắc con sông Hiếu, bắc cầu Đông Hà bây giờ để vẽ địa đồ tổ quốc, định cương vực trong “Nam quốc sơn hà”, bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta vào năm 1075 thì trước đó sông núi, con người Quảng Trị đã tồn tại từ ngàn năm trên bản đồ nước Văn Lang của các vua Hùng, mang trong mình dòng máu con Rồng cháu Tiên. Như vậy, từ thuở bình minh của lịch sử, mảnh đất và con người Quảng Trị là một khối thống nhất trong cộng đồng người Việt cổ trong cái nôi văn minh sông Hồng.Gần 300 năm sau, khi xảy ra đám cưới công chúa Huyền Trân mới có các cuộc di dân lớn bắt đầu từ năm 1307. Và 200 năm sau nữa, chuá Tiên Nguyễn Hoàng mới vào Ái Tử-Quảng Trị, từ đây bắt đầu công cuộc mở mang bờ cõi về phương Nam. Cái gốc, tính cách của người Quảng Trị vẫn là Thanh Nghệ Tĩnh; gia phả nhiều ngôi làng, nhiều dòng họ ghi rõ điều đó. Song vị trí địa lý vùng đất Quảng Trị là cái cửa ngõ giao lưu với nhiều luồng văn hoá, trước hết nó nằm trên đường thiên di của luồng văn hoá từ Bắc xuống Nam; từ Đông sang Tây bởi các quốc gia trên hành lang kinh tế Đông tây như Lào, Thái Lan, Myanmar...(các quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Phật giáo Ấn Độ); và nhiều tầng văn hoá bản địa đa dạng khác như Chăm, Vân Kiều, Pako... Chưa kể chín đời Chúa, cảng Cửa Việt là nơi giao thương với thương gia các nước như Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Trung Hoa...Ngay cả trong binh đao khói lửa, mất mát đau thương, huỷ diệt, ly tán trong 2 cuộc chiến tranh vệ quốc, mảnh đất này cũng là nơi đại diện cho ý chí kiên cường bất khuất, lòng yêu nước nồng nàn và sự xã thân vì độc lập tự do của cả dân tộc. Bây giờ nhắc đến Quảng Trị, bạn bè khắp nơi không thể không nhớ đến địa danh Bến Hải- Hiền Lương, từ trong chia cắt hun đúc mãnh liệt thêm khát vọng thống nhất non sông ba miền. Bây giờ ở Quảng Trị, không ai đến địa đạo Vịnh Mốc mà không có những giây phút lặng thinh cúi đầu suy tư về lẽ sống/cái chết và thế nào là chính nghĩa/ phi nghĩa của chiến tranh đang lăn tròn trên trái đất. Và còn đó chiến thắng đường Chín- Khe Sanh, di tích Thành cổ, nghĩa trang Quốc gia đường Chín, nghĩa trang quốc gia Trường Sơn v.v...rất nhiều những địa chỉ, những di tích lịch sử hào hùng và tang tóc đau thương này cháy lên những thông điệp mãnh liệt về sự đoàn kết keo sơn, đồng cam cộng khổ và sự xã thân để giành chiến thắng, tất cả cho khát vọng thanh bình. Đó là những nét văn hoá truyền thống của dân tộc, của cha ông đã được tô đậm hơn lên ở mảnh đất và con người Quảng Trị. Vì thế, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khái quát: “Một mảnh đất từng đánh bạn, giao hoà và tiếp nhận nhiều vốn sống của con người như thế, hiển nhiên rất xa lạ với một lối sống tinh thần khép kín, nông cạn và tự thủ. Những lối sống trải qua sàng lọc, tinh chọn của con người, sẽ còn lại những giá trị bền vững, sáng lạn và khôn ngoan, tạo thành ý thức văn hoá của một cộng đồng. Người Quảng Trị trước hết là những con người mang ý thức văn hoá mạnh mẽ”. Có thể nói gọn lại, người Quảng Trị hướng sự sống của mình sao cho hợp lẽ phải, hợp đạo làm người, hướng tới điều thiện, hướng tới những giá trị tinh thần cao đẹp, rất bất khuất nhưng vị tha...
Tôi tóm tắt như vậy để chuyển sang mục 2, là đội ngũ cầm bút, nó đóng vai trò quan trọng như thế nào đối với tờ tạp chí văn nghệ đia phương.
2- Còn nhớ khi tách tỉnh Bình Trị Thiên, anh Tường là triệu tập viên khăn gói ra Quảng Trị làm Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật kiêm Tổng biên tập TCCV, kèm theo Nguyễn Quang Lập làm phó. Tôi bấy giờ chân ướt chân ráo ở Buôn Ma Thuột mới về, làm cái anh trợ lý cho BGĐ sở VHTT. Đang ăn yên ở yên, anh Tường từ Thành cổ ra Đông Hà “cù rủ”, than vãn là không có người làm tờ báo văn nghệ địa phương, tôi rủ áo theo. Phiên hội ý đầu tiên, anh Tường đặt ra yêu cầu khá cao, đại ý: Ta ở bên hông tờ Sông Hương, tờ tạp chí không những thua mà còn hơn tờ Văn nghệ của Hội Nhà văn do đổi mới, do có sự đóng góp trí tuệ của văn nghệ sĩ 3 tỉnh BTT và cả nước, một đội ngũ cầm bút rất hùng hậu. Nay chia ra người đi kẻ ở, đội ngũ ta ở Quảng Trị quá mỏng, vì vậy ta phải tìm cách. Phải tập hợp lực lượng, phải tính toán kỹ ngay từ số báo đầu tiên. “Phải hơn Sông Hương”- chữ dùng của anh Tường- còn như ngang bằng và kém cỏi hơn thì coi như thừa, không cần phải ra báo nữa...Chúng tôi bắt đầu khởi động, thiết kế, tìm kiếm, chủ yếu là dựa vào hai nguồn nhân lực là con em Quảng Trị đang cầm bút và đội ngũ văn nghệ sĩ từng chiến đấu, nếm mật nằm gai ở chiến trường Quảng Trị. Thời Văn nghệ Nguồn Hàn, Quảng Trị từng có một đội ngũ nhà văn tên tuổi như nhà thơ Chế Lan Viên, Hồng Chương, Nguyễn Khắc Thứ, Vĩnh Mai, Dương Tường, Lương An...nay còn bác Chế Lan Viên và Lương An sinh sống ở Tp. HCM, tuổi đã cao không cộng tác được gì nhiều. Đành phải “ép” Hoàng Phủ Ngọc Phan vào Ban biên tập và nhà văn Vũ Thị Thường (vợ bác Chế, gọi là con “du” Quảng Trị) thường trực ở Tp.HCM. Ở Hà Nội tìm mãi mới ra nhà văn Ngô Thảo đại diện, đặt và gom bài vở kiêm phát hành. Anh Thảo chỉ làm được vế đầu, còn phát hành thì toàn tặng biếu, đến quý lôi ví ra thanh toán tiền cho CV. Ở Huế anh Tường vào ra như con thoi cùng anh Nguyễn Trọng Tạo (rể Quảng Trị), Lê Quang Thái phụ trách địa bàn. Bấy giờ nhà văn Xuân Đức đã ra quân, song rất bận bịu ở ngành văn hoá chị Lê Thị Mây còn ở Huế chưa chịu về quê, mấy năm sau chị mới ra Đông Hà, làm phó cho anh Xuân Đức làm tờ Văn Hoá... Quảng Trị không thiếu hiền tài, không nghèo danh nhân và nhà văn nhà thơ không đến nỗi đếm trên đầu ngón tay song vì là tỉnh lẻ/nghèo nên nhân tài li tán. Vậy CV. lấy ai để xây dựng cơ đồ? Như đã nói ở trên, mảnh đất Quảng Trị từng đánh bạn, giao hoà và tiếp nhận nhiều vốn sống của con người, rất xa lạ với một lối sống tinh thần khép kín; Quảng Trị từng là chiến trường xưa của văn nghệ sĩ cả nước, vì vậy khi có diễn đàn văn hoá- văn học nghệ thuật chính thức của Quảng Trị là tờ CV. Tổng biên tập Hoàng Phủ Ngọc Tường phát đi thông điệp kêu gọi cộng tác, ngay số đầu đã nhận được sự hưởng ứng nồng nhiệt của VNS cả nước từng tham gia chiến đấu ở Quảng Trị, họ thuỷ chung cho đến tận bây giờ. Năm 2010, kỷ niệm 20 năm thành lập tạp chí, CV. có làm bản “Tổng mục lục 200 số báo”, thì đã từng có một đội ngũ CTV lên tới con số 720, trong đó ngoại tỉnh chiếm đến 3/4. Mấy năm trở lại đây, đội ngũ CTV ngoại tỉnh cạn dần, do tuổi già sức yếu, do thiếu thông tin về Quảng Trị. Ba cuộc thi truyện ngắn, bút ký, thơ gần đây trên CV. hồi ức về chiến tranh cách mạng vẫn còn áp đảo, sâu nặng; nhưng đội ngũ CTV là văn nghệ sĩ tên tuổi trong cả nước cũng đã vơi đi gần 3/4. Đây sẽ là một thiệt thòi to lớn đối với diễn đàn CV. Song để thay thế, ngay từ những ngày đầu, Ban biên tập CV. đã rất chú tâm vào việc phát hiện, bồi dưỡng, chăm sóc, xây dựng lực lượng tại chỗ. Sau hơn 20 năm hội viên tại chỗ từ 7- 10 người, nay đã có 180, trong đó 1/3 là hội viên các chuyên ngành TW. Đội ngũ này đã thay thế dần, có công lao rất to lớn là chung lưng đấu cật, nhận nhuận bút “xôi chùa” của tờ báo văn nghệ địa phương, gắn bó keo sơn với Ban biên tập để tạo ra thương hiệu TCCV. Đội ngũ này hùng hậu, xông xáo trên hầu hết các thể loại như ký, truyện ngắn, thơ và khảo cứu văn hoá. Nhiều cây bút đã trưởng thành từ diễn đàn CV, có tên tuổi trong cả nước đang hàng ngày, hàng giờ đóng góp cho tờ tạp chí văn nghệ địa phương cũng đồng nghĩa với việc đóng góp vào nền văn học nước nhà... 20 năm qua, diễn đàn Cửa Việt đã tạo dựng nên một địa chỉ văn hóa đáng tin cậy phục vụ rộng rãi bạn đọc và bạn viết trong ngoài tỉnh. Nếu nói giao lưu văn hoá là có nhận và cho thì CV. đã đáp ứng đầy đủ cả hai mệnh đề vừa nêu, trong đó cái sự cho như là mạch nước ngầm tuy khó nhận biết nhưng nó thiết thân chẳng khác gì không gian phát triển sinh tồn của mỗi vùng đất.
Nhân tạp chí Sông Hương xuất bản hợp tuyển, BBT CV. chúng tôi rất lấy làm tiếc là trong dịp kỷ niệm 200 số báo, không làm được cái việc là tuyển chọn những tác phẩm tinh tuý để xuất bản thành một hợp tuyển. Nếu thực hiện kế hoạch này thì CV. sẽ có một hợp tuyển chí ít là 4 tập: Văn xuôi, Thơ, Văn hoá thời đại, Người và đất quê hương của 200 số đầy đặn, hấp dẫn, độ dày khiêm tốn cũng không dưới bốn, năm nghìn trang sách. Nói như vậy để thấy, đó là cả một gia tài văn hoá đồ sộ mà các tờ tạp chí văn nghệ địa phương chúng ta đóng góp vào dòng chảy văn hoá, văn học của cả nước...Khi đã có 1 đội ngũ CTV vững vàng như đã nói, thì BBT còn mỗi việc tổ chức bài vở cho từng số báo thật hấp dẫn. Vấn đề còn lại chỉ là cơ chế chính sách thật thoả đáng đối với những tờ văn nghệ địa phương nữa mà thôi.
3- Sáu tờ tạp chí Bắc miền trung chúng ta đã tổ chức nhiều hội thảo, đã có nhiều trao đổi kinh nghiệm bổ ích đúc kết từ thực tiễn và những khó khăn cần có giải pháp khắc phục. Ở hội thảo này, tôi có một kiến nghị với UB toàn quốc liên hiệp các hội VHNT Việt Nam về đề án “Nâng cao chất lượng các tạp chí văn nghệ địa phương”. Dự án do Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam dự thảo, trình Chính phủ từ tháng 12/2010, nay đã là tháng 6/2013 vẫn chưa ban hành được đã là một sự chậm trễ, thiệt thòi cho các tờ tạp chí văn nghệ địa phương. Vấn đề cần trao đổi là cái nội dung cốt lõi của đề án chưa ban hành nói trên đã quá lạc hậu so với đòi hỏi thực tế. Theo tờ Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, Tạp chí của Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam (số tháng 3/2013, bài viết của PGS. TS nguyễn Ngọc Thiện) thì Uỷ ban Liên hiệp thống nhất đề nghị với nhà nước xem xét hàng năm đầu tư trực tiếp cho cơ quan báo chí của mỗi hội VHNT tỉnh, thành phố trung bình tối thiểu 700 triệu/năm, với bộ máy chuyên trách ít nhất là có 7 người; với các hội chuyên ngành là 900 triệu/9 người. Riêng Hà Nội và Tp. HCM là 2 thành phố lớn, các con số tương ứng là 1.400 triệu/ 12 người... Chỉ nhìn qua đã thấy chính sách lạc hậu, cũ kỹ như thế nào rồi!.. Tỉnh chúng tôi đầu tư cho tạp chí bình quân 1.500 triệu/ 12 người/ năm, mà khó khăn vẫn hoàn khó khăn, nói chi các Tp. lớn. Mà theo tôi, tờ tạp chí văn nghệ đứng chân trên một địa bàn khó khăn, thì phải có chế độ đầu tư ưu tiên như ưu tiên cho miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn mới là tỉ lệ đầu tư thuận, khác đi là đảo ngược chính sách rồi!
Tuy có những thuận lợi và khó khăn khác nhau, song mỗi tờ tạp chí chúng ta đều phải đáp ứng những đòi hỏi, yêu cầu cấp bách của cuộc sống, của bạn đọc trong tỉnh cũng như cả nước. Họ đòi hỏi ở chúng ta nhiều tác phẩm xứng đáng hơn, điển hình hơn; mỗi tờ tạp chí phải phản ánh cho được thực tiễn, công cuộc đổi mới của quê hương đất nước, tiếp tục đăng tải nhiều tác phẩm có giá tư tưởng và nghệ thuật cao nhằm quảng bá toàn diện sâu sắc hơn tiềm năng, lợi thế của mỗi vùng đất,động viên cổ vũ khát vọng vươn lên làm giàu, xây dựng quê hương giàu đẹp. Tiếp tục phát huy vai trò thẩm định, hướng dẫn dư luận xã hội, đăng tải nhiều tác phẩm thấm đẫm tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng giáo dục sâu sắc con người và xã hội, xứng đáng với thiên chức của báo chí và văn học nghệ thuật là công cụ nhạy bén và sâu sắc nhất trên mặt trận tư tưởng.
Y.T









