“Đêm huyền thoại” là tập thơ thứ ba của Đức Tiên. Hai tập thơ trước của anh đã được nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường và nhà thơ Ngô Minh đề tựa. Phần lớn thơ trong “??m huy?n tho?iĐêm huyền thoại” là những bài thơ viết về quê hương Quảng Trị với những tình cảm chân thành, nồng thắm. Sau bao “cuộc bể dâu”, bây giờ là lúc tác giả có thể bình tâm nhớ lại những ký ức tuổi thơ, suy ngẫm về chặng đường đời đã qua, những đổi thay của quê hương, đất nước. Mảnh đất Quảng Trị không những là nơi anh sinh ra và lớn lên mà còn là nguồn cảm hứng bất tận, chắp cánh cho hồn thơ Đức Tiên bay cao, bay xa.
Trong “??m huy?n tho?iĐêm huyền thoại” có một bài thơ khá độc đáo. Đó là bài Cánh cò bay lả bay la: Nuôi con mặn ngọt cuộc đời/ Đói no tựa cả vào đôi gánh nghèo/ Ngày cheo leo, đêm cheo leo/ Trật trầy bờ bãi chống chèo gió mưa/ Tỏng teo chân sậy bám bờ/ Tép tôm theo nước vật vờ nơi đâu… Đây là đoạn thơ tác giả diễn tả cuộc đời tảo tần của những người mẹ ở những vùng quê “nước mặn, đồng chua”. Hình ảnh người mẹ và hình ảnh “thân cò” hòa nhập vào nhau gợi nhớ về những bài ca dao xưa cũ. Độc đáo là cái vần “eo”! Cái vần lắt léo này từng được các tác giả Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến sử dụng với tần suất tối đa ở thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Bây giờ đến lượt Đức Tiên cũng sử dụng nhiều nhưng ở thể lục bát. Vần “eo” vừa gợi thanh vừa gợi hình. Tất cả tập trung làm nổi bật cuộc sống bấp bênh, trôi nổi, vất vả của mẹ. Mỗi lần nhớ và nghĩ về quá khứ, anh không sao quên được hình bóng người mẹ nghèo lam lũ: Nồm chiều ngọn gió hây hây/ Mẹ già ơi tháng năm gầy còn đâu… Tìm về với mẹ ngày xưa/ Áo nâu vá đụp nắng mưa vai sờn/ Thân gầy nặng gánh đường trơn/ Gánh bao nhiêu nỗi vui buồn, mẹ ơi! (Làng tôi); Mẹ có còn xóm nhỏ làng quê?/ Nồi cơm nếp bếp nghèo còn đỏ lửa (Nỗi nhớ làng quê)… Đức Tiên có những cách nói lạ, gây ấn tượng, rất đáng trân trọng, chẳng hạn như: “tháng năm gầy”, “áo nâu vá đụp”, “gánh bao nhiêu nỗi vui buồn”… Đọc những vần thơ viết về mẹ của Đức Tiên làm tôi cứ nhớ về người mẹ nghèo xấu số của tôi: Bến xưa đò mẹ cắm sào/ Cành sung soi bóng ngày nào cũng mong/ Và con đò vẫn chờ trông/ Mái chèo nhắc mẹ trên dòng thời gian (Bờ sông nhớ mẹ - MVH).
Đức Tiên có những câu thơ viết về làng quê hết sức chân thành và cảm động. Cái hương vị làng quê mộc mạc, chân chất, đơn sơ nhưng lại khiến anh không bao giờ quên. Mặc dù đã từng đi khắp đó đây, đã từng nếm bao “sơn hào, hải vị”, nhưng anh vẫn thèm đến “quay quắt”: Chén cơm chan nước mắm cá rô đồng (Nhớ làng). Chỉ là “cá rô đồng” thôi, chỉ là “chén cơm chan nước nắm” thôi nhưng với anh là cả trời kỉ niệm. “Chén” chứ không phải là bát. Bát thì to tát quá, chỉ cần một chén nho nhỏ cũng đủ giúp anh đỡ thèm rồi. Cái hương vị làng quê mộc mạc, chân chất, đơn sơ đã lặn sâu vào tiềm thức, ngấm vào máu thịt: Mùi rơm rạ đã tan vào huyết quản (Nhớ làng); Củ khoai nướng đã chín mùi đồng nội (Đời hư ảo)… Đó là lí do mà bao người sống xa quê như anh nhớ đến “quay quắt” cái hương vị đồng quê. Điều nghịch lí là sự giàu có thường dễ khiến người ta xa nhau, còn cái sự nghèo lại thường kéo người ta xích lại gần nhau hơn: Đói lòng rau má rau mưng/ Khoai thiu sắn hẩm đã từng có nhau/ Làng tôi vấn vít hàng cau/ Rối răm ngọn bí ngọn bầu xưa nay (Làng tôi). Tình làng, nghĩa xóm vốn là truyền thống lâu đời ở các vùng quê trên đất nước Việt Nam. Hình ảnh “vấn vít hàng cau” và “rối răm ngọn bí, ngọn bầu” đã phần nào thể hiện được cái tình làng, nghĩa xóm thân thương ấy. Không chỉ có tình làng, nghĩa xóm mà bên bờ mương, bến nước; dưới mái đình, cây đa… còn lưu dấu tình bạn, tình yêu thuở thiếu thời của bao chàng trai, cô gái. Tôi rất thích những câu thơ sau đây của anh: Tao với mi còn nhớ ngã ba này/ Đánh đáo, đánh khăng những ngày nghỉ học/ Mày với tao hai thằng quần cộc/ Khoai sắn lận lưng no đói chia phần (Thăm mảnh làng xưa). Tôi cũng từng “quần cộc” như thế, tôi cũng từng “đánh đáo, đánh khăng” như thế, tôi cũng từng “khoai sắn lận lưng” như thế… nên hết sức đồng cảm với nhà thơ. Mà chắc không chỉ có tôi, các bạn ở thôn quê cùng thời với tôi đều rất đồng cảm với những câu thơ bình dị này. Từ “lận lưng” rất địa phương mà cũng rất hóm hỉnh, trẻ con. Những rung động đầu đời của những chàng trai mới lớn cũng được tác giả diễn tả hết sức tinh tế: Về Gio An thăm lại nương đồi/ Thăm em gái tuổi học trò vụng dại/ Trang giấy trắng vết mực còn xanh mãi/ Em bây giờ thành cổ tích hoang liêu (Quê nội ta về)... nghe có vẻ đơn giản nhưng lại chứa nhiều tầng nghĩa. “Trang giấy trắng” ở đây không chỉ đơn thuần là trang giấy màu trắng mà còn có hàm ý: tâm hồn ngây thơ, trong trắng của tuổi học trò. “Vết mực” cũng không chỉ đơn thuần là vết mực màu xanh mà còn có hàm ý: những kỉ niệm, những tình cảm đẹp đẽ của đôi bạn trẻ vẫn còn lưu dấu mãi với thời gian. Rải rác trong “??m huy?n tho?iĐêm huyền thoại”, ta bắt gặp một số câu thơ tình chứa đầy tâm trạng: Vẫn còn một chút đắm say/ Vẫn còn một chút nồng cay môi người/ Biển ru con sóng luân hồi/ Em nghiêng ngửa giữa biển trời mênh mông… (Biển và em); Có nỗi buồn đã mọc thành gai/ Những chiều hẹn nhau Đồng Soi ngóng đợi/ Chiếc ghế trống... Bây giờ xa vời vợi/ Chạm vào lòng lạnh... Gió bấc về (Nhâm nhi nỗi buồn); Có còn đâu giọt mưa ngâu/ Bóng trăng và một nhịp cầu ái ân (Lời ru); Tháng Giêng nắng nung như lửa/ Bầu trời không gợn màu mây/ Biết ai có còn mong đợi/ Tháng Giêng nỗi nhớ vơi đầy… (Tháng Giêng)… Không đa sầu, đa cảm; tâm hồn không lãng mạn, bay bổng không thể viết được những câu thơ chứa đầy tâm trạng như thế.
Quảng Trị - là vùng đất lửa, từng chứng kiến bao nhiêu mất mát đau thương trong cuộc chiến tranh giành độc lập tự do, thống nhất đất nước. Đức Tiên từng có mặt dưới chân cầu Hiền Lương vào đúng cái đêm ba mươi tháng tư lịch sử. Anh gọi đó là “??m huy?n tho?iĐêm huyền thoại”: Hai mươi năm biết mấy thương đau/ Mẹ vẫn kiên gan ngồi khâu nỗi nhớ… Ta lại bắt gặp hình ảnh người mẹ, nhưng không phải người mẹ “thân gầy gánh nặng” mà là người mẹ đã phải trải qua hàng chục năm mất mát, thương đau. Làng xóm nhà cửa bị cày nát, các con lần lượt hy sinh ở chiến trường… Thế mà mẹ vẫn “kiên gan ngồi khâu nỗi nhớ”. Từ động tác khâu quần áo bình thường qua trường liên tưởng của nhà thơ trở thành “khâu nỗi nhớ”. Bao nhiêu nỗi nhớ chất chồng, mẹ khâu lúc nào cho hết? Trong “đêm ba mươi tháng tư đất nước nở hoa”, anh ngậm ngùi tưởng nhớ những anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống trên mảnh đất kiên cường, gan góc này: Hãy lặng yên nghe con sóng vỗ về/ Trong thác nước tiếng hồn thiêng lay gọi/ Đường Chín Trường Sơn tiếng bao đồng đội/ Đêm nay có kịp về chăng? Một câu hỏi xoáy vào tâm can mọi người. Giọng thơ trầm hùng, thống thiết, có sức lay động mạnh mẽ. “??m huy?n tho?iĐêm huyền thoại” tuy chỉ là một bài thơ ngắn nhưng đậm chất sử thi. Có lẽ đó là lý do mà Đức Tiên chọn cái tên “??m huy?n tho?iĐêm huyền thoại” làm tiêu đề cho cả tập thơ. Cũng viết cho ngày ba mươi tháng tư còn có bài Mùa hạ: Mùa hạ ấy Cổ Thành bom dội/ Tung lên trời cả xương thịt bạn tôi/ Ôi màu đỏ loang bầm tâm tưởng/ Thạch Hãn sóng chìm con nước réo sôi… Những ai từng đến Thành Cổ Quảng Trị, từng nghe kể về 81 ngày đêm bão lửa, sẽ thấu hiểu thế nào là “màu đỏ loang bầm tâm tưởng”. Màu đỏ của máu không những thấm từng tấc đất Thành Cổ mà còn ám ảnh vào trong “tâm tưởng” của triệu triệu người con đất Việt. Hàng triệu sinh linh đã ngã xuống cho chúng ta có ngày thống nhất đất nước: Mùa hạ ấy bạn ra đi mãi mãi/ Lỡ hẹn người yêu chưa nói nên lời/ Trong ngực áo bức thư nóng hổi/ Nét chữ không mờ năm tháng xa xôi (Mùa hạ). Những câu thơ này tuy ý tứ không có gì mới nhưng đọc trong ngày ba mươi tháng tư đã khiến bao nhiêu con tim nghẹn ngào, thổn thức.
Thơ Đức Tiên thật thà mà không dễ dãi. Thỉnh thoảng trong “??m huy?n tho?iĐêm huyền thoại” ta bắt gặp một vài cách nói mới lạ. Tiếc là những cách nói mới lạ chưa thật nhiều. Anh chú trọng tình hơn là tứ; anh nghiêng về truyền thống hơn là cách tân; anh thích sự giản dị hơn là sự cầu kỳ, rối rắm. Theo tôi, sự lựa chọn như thế không chỉ phù hợp với bản tính của anh mà còn phù hợp với nội dung và chủ đề của tập thơ.
Xin chúc anh có thêm những thành công mới!
M.V.H
____________________
* Đêm huyền thoại – Thơ – Nhà xuất bản Thuận Hóa, tháng ... năm 2016.









