Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 18/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Chiếc thuyền ngoài xa - Từ góc nhìn phân tâm học

Có những tác phẩm đọc xong, gấp sách lại là ta quên ngay, cho đến khi bắt gặp lại nó ở đâu đó, ta mới chợt nhận ra là mình đã đọc rồi. Nhưng cũng có những khi, có những tác phẩm đi qua cuộc đời ta, để lại một lớp phù sa, để lại những khắc chạm trong tâm khảm. Chiếc thuyền ngoài xa (1983) của Nguyễn Minh Châu là một trong những truyện ngắn thuộc loại thứ hai này, bởi những gì được thể hiện trong tác phẩm khiến cho người đọc không khỏi những trăn trở, băn khoăn về giá trị nghệ thuật, về cuộc sống và tâm hồn con người.

Nguyễn Minh Châu thuộc thế hệ những nhà văn Việt Nam trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sau khi nước nhà giành được độc lập, con người ấy lại sớm bắt vào nhịp sống mới của dân tộc, trở thành cây bút tiên phong, nhà văn lớn, “người đã đi được xa nhất” trong cao trào đổi mới văn học. Một trong những tác phẩm tiêu biểu, mang dấu ấn rõ nhất phong cách Nguyễn Minh Châu ở thể loại truyện ngắn chính là Chiếc thuyền ngoài xa.

Với Chiếc thuyền ngoài xa, nhiều hướng tiếp cận đã và đang được đặt ra: tiếp cận tác phẩm từ góc độ nội dung tư tưởng, chủ nghĩa cấu trúc, cảm quan hậu hiện đại, xã hội học, văn bản học... Từ những góc độ tiếp cận đó, các bình diện khác nhau của giá trị tác phẩm đã lần lượt được khẳng định. Trong số những hướng tiếp cận tác phẩm này, tiếp cận dưới góc độ phân tâm học có thể xem là một trong những hướng tiếp nhận khả quan bởi nó giúp mở ra lớp màn sâu kín nhất của tác phẩm, cho ta một cái nhìn mới về một tác phẩm mà giá trị đã được định hình trong tâm khảm nhiều người đọc chúng ta.

Có thể nói, lý thuyết phân tâm học là một trong những lý thuyết không quá xa lạ trên thế giới từ cuối thế kỉ XIX, nhưng phải đến sau 1986 nó mới được chấp nhận ở nước ta. Từ lý thuyết phân tâm học, soi chiếu vào Chiếc thuyền ngoài xa chúng ta sẽ có một cái nhìn, một cách lí giải mới đối với tác phẩm này.

Tác phẩm mở ra từ việc Phùng, phóng viên ảnh đi “săn” một tấm hình chụp cảnh bình minh trên biển. Tấm hình kia phải là một tác phẩm nghệ thuật, dĩ nhiên, như anh nhận thức, cần tránh lặp lại, nhàm chán và quen thuộc. Phùng rời Hà Nội, đi gần sáu trăm cây số, “phục” ở một bờ biển, nơi vẫn còn lưu dấu cuộc chiến tranh: đó là bãi chiến trường. Anh quen được Phác, một cậu bé thông minh ở vùng biển đó. Sau gần tuần lễ, anh vẫn chưa có được kiệt tác mà anh hằng mong muốn. Và rồi anh cũng có một cảnh trời cho: “Trước mắt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu trời sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng do ánh mặt trời chiếu vào... Toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”. Nhưng câu chuyện đột ngột chuyển sang một hướng khác, sau khoảnh khắc trời cho ấy, Phùng rơi vào một khoảnh khắc, một tình huống “hiện thực cuộc sống” ban cho. Chính từ lúc này, Phùng vấp phải một thách đố khác, có lẽ còn nghiệt ngã hơn cả sự sáng tạo nghệ thuật – thách đố lí giải, nhận thức hiện thực.

Trước cảnh tượng liền kề với khoảnh khắc nghệ thuật, Phùng kinh ngạc đến mức “trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn”. Thế rồi, trước lúc Phùng kịp “nhào tới” nơi người đàn ông mà “tấm lưng rộng và cong như lưng một chiếc thuyền, hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ” đang dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào người đàn bà “cao lớn với những đường nét thô kệch”, anh đã bị ngăn lại bởi “bóng một đứa con nít”, đó là Phác, con trai của cặp vợ chồng kia. Phác giằng được chiếc thắt lưng từ tay người đàn ông, “liền dướn thẳng người vung chiếc khóa sắt quật vào khuôn ngực vạm vỡ cháy nắng có những đám lông đen như hắc ín, loăn xoăn từ rốn mọc ngược lên”. Người đàn ông cố giằng lại chiếc thắt lưng, nhưng chẳng được, liền giang tay tát thằng nhỏ hai cái rồi bỏ đi. Và sau đó, “bãi cát lại trở về với vẻ mênh mông và hoang sơ”.

Có lẽ, đó là một hiện thực “quái đản”, một hiện thực hiển nhiên mà không thể lí giải. Người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng sự hành hạ của chồng, người chồng đánh đập vợ tàn nhẫn như một thói quen, vô cảm và bản năng. Những đứa con phải chứng kiến cảnh bạo lực diễn ra giữa chính cha mẹ chúng. Tất cả diễn ra một cách im lặng và triền miên, ngay sau vẻ giản dị mà toàn bích của thiên nhiên. Cảnh tượng ấy Phùng còn có dịp chứng kiến thêm một lần nữa, và lần này, nếu không có đứa con gái kịp chạy theo ôm lấy thằng Phác và lôi từ cạp quần đùi của nó ra một con dao găm thì không biết chuyện gì đã xảy ra. Lần ấy anh đánh quật gã đàn ông vũ phu ấy, kết quả là anh phải vào bệnh viện. Đáng ngạc nhiên là khi được gọi lên ủy ban huyện và được khuyên hãy bỏ người đàn ông vũ phu đó thì vợ anh ta liền nói: “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó...” dù rằng “ bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh”.

Quả thực, có rất nhiều những điều khó lí giải trong tác phẩm này nếu chỉ nhìn bằng con mắt phân tích bình thường, nhất là nếu ta mổ xẻ nó theo lối phân tích như trong nhà trường phổ thông. Ví như, phải lí giải sao trước thái độ trái ngược của Phác đối với mẹ và cha? Lí giải sao cho hiện tượng người đàn ông trong tác phẩm từ một người “cục tính nhưng hiền lắm” – theo lời kể của người vợ - lại trở thành kẻ đánh đập vợ như một thói quen, vô cảm và bản năng? Tuy nhiên, nếu thử soi rọi tác phẩm này dưới ánh sáng của phân tâm học thì những thắc mắc trên sẽ trở nên dễ lí giải hơn nhiều.

Trước hết, thái độ của thằng Phác đối với cha và mẹ nó gợi cho ta suy nghĩ gì? Đọc tác phẩm ta dễ dàng nhận ra tình yêu thương mà nó dành cho mẹ, cũng  như sự căm ghét dành cho cha. Dường như càng thương mẹ bao nhiêu thì nó càng ghét cha bấy nhiêu. Nó đã từng tuyên bố với các bác ở xưởng đóng thuyền rằng nó còn có mặt ở dưới biển thì mẹ nó không bị đánh. Và có lẽ trước đây, trước khi Phùng hai lần được chứng kiến cảnh tượng “quái đản” ấy thì Phác đã từng có những hành động “phản kháng” đối với cha nó rồi. Bởi thế thì mới có việc mẹ nó phải gửi nó cho ông ngoại “vì sợ thằng bé có thể làm điều gì dại dột với bố nó”. Ám ảnh trong tôi là hình ảnh thằng Phác với “sự giận dữ căng thẳng” lao qua trước mặt Phùng “như một viên đạn trên đường lao tới đích đã nhắm”, “nhảy xổ vào người đàn ông”, “giằng được chiếc thắt lưng”, “dướn người vung khóa sắt quật vào giữa khuôn ngực” của cha nó là ánh mắt “hết sức thù ghét” và giọng hét the thé đầy giận dữ: “Hãy cút đi! Cút đi” mà nó giành cho Phùng sau khi anh chứng kiến cảnh tượng “quái đản” lần thứ nhất. Tại sao vậy? Có phải vì cha nó đánh mẹ nó nên nó mới ghét cha đến như thế? Có phải vì Phùng đã nhìn thấy điều đáng ra không nên thấy? Hay còn vì lí do nào khác được ẩn giấu dưới những lí do nhìn thấy được như thế? Ta chỉ có thể vỡ lẽ điều thắc mắc này khi soi chiếu nó bằng phân tâm học. Theo phân tâm học thì đây chính là mặc cảm Oedipe. Vì mang trong mình mặc cảm này mà Phác mới có thái độ thái quá như vậy với cha nó. Nó căm ghét cha vì nó ghen tức với cha – người nhận được tình yêu từ mẹ nó. Từ sự căm ghét có sẵn trong vô thức, cộng thêm sự bất bình trước hành động mà cha đã làm với mẹ khiến nó trở nên như một con thú hoang, một con hổ sẵn sàng lao vào vồ xé cha mình, và mang trong lòng ý định giết cha để bảo vệ mẹ (thể hiện ở việc cất con dao găm trong cạp quần và chạy đến nơi cha đang hành hạ mẹ nó). Mặc cảm này có sự chuyển vị đối tượng, nên sau khi cha nó bỏ đi và người đàn ông đầu tiên nó nhìn thấy lại là Phùng nên bao nhiêu bực tức trong nó, thái độ của nó đối với cha dường như cũng chuyển sang Phùng. Vì thế, thái độ của nó đối với Phùng - theo ý tôi -  cũng không hẳn là vì anh đã vô tình chứng kiến cảnh tượng không nên xem mà còn vì một nguyên nhân khác, đó chính là “mặc cảm Oedipe” trong vô thức của Phác. Cũng chính vì mặc cảm này mà ta có cái nhìn mới hơn trước hành động : “nó lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ lên khuôn mặt người mẹ như muốn lau đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗ chằng chịt”. Đó không hẳn là tình thương, tình cảm mẹ -  con như giữa mẹ và con gái, mà dường như có cái gì đó như là tình yêu và sự che chở. Nó yêu mẹ nó biết nhường nào! Thái độ của thằng bé như vậy phần nào cũng là do nó biết rằng trong đám con cái đông đúc đang sống dưới thuyền, mẹ nó không yêu một đứa nào bằng nó – “cái thằng con từ tính nết đến mặt mũi giống như lột ra từ cái lão đàn ông đã từng hành hạ mụ”. Thế nên, nó yêu mẹ vì mẹ nó yêu nó nhất trong đám con; nó ghét cha vì cha nó không những dành được tình yêu, sự cam chịu của mẹ nó mà còn vì nó quá giống cha nó chăng?

Một vấn đề nữa cần được giải đáp của tác phẩm mà chỉ có thể được làm sáng rõ bằng phân tâm học đó là hành động đánh vợ của người đàn ông – cha Phác. Để lí giải được điều này chúng ta không thể không xét đến hoàn cảnh sống của gia đình thuyền chài kia. Thử tưởng tượng, trên một con thuyền nhỏ, suốt tháng này sang tháng khác, năm này sang năm khác chỉ lênh đênh trên biển, có lổn nhổn những con người trong một gia đình sinh sống. Vì thế, đừng nói đến việc ở đó không có chỗ riêng tư của vợ chồng mà ngay đến cả chỗ ngủ chung cho cả gia đình ấy cũng còn chật chội, vất vả nữa là. Và rồi, biết bao nhiêu sóng gió, hiểm nguy, vất vả trong cuộc mưu sinh trên biển, rồi những đứa trẻ nối tiếp nhau chào đời lại càng làm cho cuộc sống ngày một thêm khốn khó. Bao nhiêu vất vả, nhọc nhằn, không lối thoát cứ dồn nén lại mà không được giải tỏa. Ngay cả chuyện “vợ chồng” – một hình thức giải tỏa - cũng ngày một thưa dần vì mệt nhọc, bận bịu con cái, rồi sự chật hẹp của con thuyền cản trở. Bực bội, căng thẳng, bế tắc bị dồn nén. Năng lượng tính dục cũng bị dồn nén trở thành những ẩn ức. Con người ta có thể sẽ trở nên phát điên nếu không được giải tỏa khỏi những ẩn ức, dồn nén đó. Và vì không thể thực hiện được quan hệ “vợ chồng” trong hoàn cảnh ấy và trước mặt con cái, người chồng đã chuyển xung năng tính dục ấy sang một hành động khác – đánh vợ. Đánh nhiều lần thành quen tay. Đánh nhiều lần thành chai sạn. Người đàn ông ấy đã dần dần coi đó như một điều tất yếu, một thói quen, một bản năng và vì thế mà trở nên vô cảm trước nỗi đau mà người vợ phải gánh chịu. Còn người vợ, hẳn cũng không phải chỉ vì cuộc sống mưu sinh trên biển cần lắm một người đàn ông “đứng mũi chịu sào”, chèo chống cho cả gia đình mà không thể bỏ chồng, để rồi cứ mãi cam chịu bị hành hạ như thế. Có lẽ, cũng như chúng ta, và hơn cả chúng ta, chị hiểu hơn ai hết lí do nào khiến một người “cục tính nhưng rất hiền”, “không bao giờ đánh đập” chị dù chị đã có con với người đàn ông khác trước khi lấy anh lại trở thành một con người vô cảm, dửng dưng đến thế. Hơn ai hết, người vợ ấy hiểu rằng, đó là lối thoát duy nhất cho chồng chị và cho cả gia đình chị, dù cho chị phải chịu hi sinh chăng nữa. Chỉ có để cho chồng được giải tỏa những ẩn ức bị dồn nén trong một thời gian dài lênh đênh trên biển thì cuộc sống của gia đình chị mới có thể tiếp tục. Một câu hỏi đặt ra là: không có con đường nào khác để giải tỏa ngoài bạo lực ư? Cũng có đấy, ấy là rượu, như những người đàn ông ở các thuyền khác. Nhưng anh lại không uống rượu. Câu nói nghẹn ngào như một lời than thở, một tiếng thở dài của chị cho ta thấy rõ hơn điều này: “Giá mà lão uống rượu... thì tôi còn đỡ khổ...” Từ đây, có thể thấy, anh là một con người hiền lành, lương thiện, không ham mê rượu, chè, cờ, bạc... Nhưng có lẽ cũng vì thế mà anh khổ -  khổ vì không tìm được cái gì để giải tỏa ẩn ức - và vợ anh cũng khổ theo - khổ vì thương anh.

Tuy nhiên, trong hành động đánh vợ của người chồng ấy, dưới góc độ của phân tâm học, ta có thể thấy thêm một vấn đề nữa đó là bản năng sống trong anh ta đang mất dần, nhường chỗ cho bản năng chết trỗi dậy, nhất là bản năng gây hấn. Ở một lát cắt của cuộc sống trong tác phẩm này, găm lại trong tâm trí ta không hề có một dấu vết nào của sự lạc quan, yêu đời, hay nụ cười của người đàn ông đó, mà chỉ có ấn tượng về một tiếng quát: “...Động đậy tao giết cả mày bây giờ” về một hình hài: “Tấm lưng rộng và cong như một chiếc thuyền. Mái tóc tổ quạ. Lão đi chân chữ bát, bước từng bước chắc chắn, hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ” về thái độ “hùng hổ, mặt đỏ gay” về hành động: “chẳng nói chẳng rằng... trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!” về hai cái tát lão dành cho thằng Phác. Tất cả những chi tiết ấy, cùng với chi tiết “bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh” đã cho thấy bản năng chết mạnh mẽ ở con người này. Người đàn ông ấy mang cái dáng vẻ thù hằn, bực bội có lẽ là với chính cuộc đời này chứ không phải với vợ con dù ông ta có nghiến răng chửi rủa đi nữa. Ông ta cứ lặp đi lặp lại việc đánh vợ thành thói quen, bản năng. Và hơn nữa, ông ta còn chĩa bản năng gây hấn vào vợ và con trai mình. Như thế, trong những lúc bị dồn nén, ẩn ức, bản năng chết của ông ta trỗi dậy mãnh liệt, lấn át, chi phối tất cả suy nghĩ và hành động của con người này, biến ông ta thành một người chồng vũ phu, tàn bạo.

Lý giải những điều này từ lý thuyết phân tâm học, không hề có ý định biện minh hay ủng hộ cho hành động đáng trách của người đàn ông ấy. Nhưng, qua đó, ta thấy được nguyên nhân nào biến một con người từ hiền lành, không hề đánh vợ thành một người đánh vợ như một thói quen, dửng dưng, vô cảm, để rồi có cái nhìn đúng đắn, nhân ái, độ lượng hơn với nhân vật này nói riêng và nhiều nữa những con người khác trong xã hội nói chung.

Phải nói rằng, với lý thuyết phân tâm học, khi soi chiếu vào Chiếc thuyền ngoài xa, ta có thể có một cái nhìn mới hơn, khác hơn về một tác phẩm đã có quá nhiều hướng nghiên cứu này. Với dung lượng hạn hẹp của bài viết, hẳn nhiên, người viết sẽ khó có thể nói hết, cũng không dám chắc đã chạm đúng dụng ý của nhà văn, song, những gì thể hiện trong bài viết cũng có thể xem như là một bước thử nghiệm hướng nghiên cứu còn khá mới mẻ và nhiều suy ngẫm trong văn học nước ta hiện nay – phê bình phân tâm học.

Nguyễn Minh Châu trước sau vẫn là nhà văn suốt đời không hề mệt mỏi trong cuộc hành hương vô tận đi “tìm cái hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn con người”. Vì thế, đọc tác phẩm của ông không nên và không thể chỉ nhìn nhận con người ở bề mặt ngôn ngữ mà nên có cái nhìn sâu hơn vào tâm hồn họ để khám phá con người bên trong, tìm kiếm hạt ngọc ẩn trong tâm hồn người đó. Chiếc thuyền ngoài xa cũng không nằm ngoài quy luật này, và phân tâm học chính là một trong những phương thức thích hợp để khám phá thế giới tâm lý phức tạp của nhân vật trong tác phẩm.

L.T.M.H

 



 

____________

Tài liệu tham khảo:

1. Đỗ Lai Thuý (2009), Bút pháp của ham muốn, NXB Tri thức.

2. Nguyễn Minh Châu (2006), Tuyển tập truyện ngắn, NXB Văn học, tr328 - tr 347.

3. Sigmund Freud (Nguyễn Xuân Hiến dịch) (2002), Phân tâm học nhập môn, NXB ĐHQG Hà Nội.

4. Mai Anh Tuấn, Chiếc thuyền ngoài xa - Vùng tối tâm hồn hay bi kịch “bất khả tri” của nghệ thuật, vietvan.vn.

 

 

LÊ THỊ MINH HUYỀN
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 251

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

19/04

25° - 27°

Mưa

20/04

24° - 26°

Mưa

21/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground