Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 18/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Văn học cổ điển Việt Nam nguồn năng lượng vô tận của việc giáo dục nhân cách con người mới

Lênin có nói rằng: Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản sau khi đã làm giàu cho mình toàn bộ vốn văn hóa của nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam là tiêu biểu cho văn hóa dân tộc. Ngay từ những ngày còn hoạt động bí mật, Đảng đã soạn thảo Đề cương văn hóa, tập hợp lực lượng văn hóa, tổ chức truyền bá quốc ngữ mà sau Cách mạng tháng Tám, tổ chức Bình dân học vụ diệt giặc dốt để khai sáng cho nhân dân, giáo dục lại nhân dân như lời Hồ Chủ tịch nói. Hồ Chủ tịch là một nhà nho mác-xít. Người kế thừa truyền thống của phương Đông, của dân tộc một cách sâu xa. Từ những năm 20, trong những luận văn của mình, nhận thấy các đồng chí châu Âu không hiểu phương Đông, Người đã giới thiệu những đặc sắc của văn minh phương Đông như Học thuyết đại đồng của Khổng Tử thời cổ đại với mong muốn trên mảnh đất truyền thống ấy, chủ nghĩa Mác sẽ đơm hoa kết quả. Trong rất nhiều những lãnh tụ của cách mạng thế giới, Hồ Chí Minh gần như là người duy nhất tiếp nhận được tinh hoa của cả văn minh phương Đông và phương Tây. Không những thế Người còn là một tác gia lớn của sự kết hợp hai nền văn hóa ấy. Chúng ta có thể nói rằng, Hồ Chí Minh là hiện thân của con người mới trên nền của văn hóa truyền thống.

Nhìn lại mấy chục năm qua, trong cách mạng và kháng chiến, trong vô vàn gian khổ và hi sinh, chế độ chúng ta đã làm được biết bao nhiêu việc trong kế thừa và phát huy văn hóa cổ điển dân tộc. Với ý thức sâu sắc rằng 40 thế kỷ cùng ra trận với chúng ta, chiến thắng của chúng ta là chiến thắng của văn minh chống bạo tàn, của văn hóa dân tộc, văn hóa thời đại Hồ Chí Minh chống lại sự man rợ của đế quốc, chúng ta đã học tập, giáo dục, phát huy với một tình yêu vô tận văn học cổ điển của ông cha. Gần như toàn bộ các tác phẩm từ văn hóa dân gian, văn hóa bác học của hơn hai mươi thế kỷ dựng nước và giữ nước đều được chúng ta khai thác, dịch thuật và công bố. Khác với ngày xưa trong trường trung học bảo hộ hầu như chỉ có một vài cuốn sách của Dương Quảng Hàm, của Trần Trung Viên thì ngày nay chúng ta có hàng trăm tuyển tập, tổng tập dịch thuật và nghiên cứu về vốn văn hóa cổ điển quý báu đó. Và càng ngày chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị của truyền thống. Dân tộc ta khi xưa là một dân tộc bị nô lệ hàng ngàn năm, sau đó đã giành độc lập, xây dựng đất nước, xây dựng văn hóa. Thế nhưng trong thời trung cổ đó, chúng ta đã tiến bước rất nhanh trong việc phục hưng văn hóa dân tộc, chúng ta đã có một nền văn học toàn diện, đầy đủ với những tác phẩm lớn, đặc biệt quan trọng là đã xuất hiện những con người khổng lồ, những thiên tài - mẹ, những con người không dễ có ở các dân tộc khác ở cùng thời đại. Chẳng hạn như thế kỷ XIII, chúng ta tìm đâu ra được ở các nền văn hóa khác một người như Trần Nhân Tông, một người đứng đầu nguồn của nền văn hóa dân tộc lúc bấy giờ, thông cả tam giáo cửu lưu và viết nên những tác phẩm khai sáng cho thời đại. Ông lại là người đã chỉ huy, đã đứng đầu hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược, người đứng đầu trường phái thiền Trúc Lâm với những đặc sắc của thời đại và dân tộc, kết hợp giữa Bồ Tát và trượng phu như ông nói trong Cư trần lạc đạo phú. Cuối đời, ông nhường ngôi cho con và đi vào Champa nối kết tình thân hai nước bằng việc gả Huyền Trân cho Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô, Lý, bước mở đầu cho cuộc Nam tiến vĩ đại. Trọn một cuộc đời ngắn ngủi 55 năm, ông đã làm biết bao việc lớn cho dân tộc, cho văn hóa. Một con người như thế là tấm gương cho biết bao thế hệ về sau. Nhờ có sự mở đầu nền văn học bằng chữ Nôm của ông mà chúng ta có Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và nền văn học quốc ngữ sau này. Bằng sử, bằng văn, bằng những chi tiết sống động trong cuộc đời con người vĩ đại đó, bằng những tác phẩm văn học của ông sâu sắc mà hấp dẫn, chúng ta sẽ giáo dục cho các thế hệ trẻ bây giờ, tự hào hiến dâng. Bằng nhà trường, bằng các phương tiện truyền thông đại chúng, bằng các sinh hoạt đoàn thể... chúng ta phải làm sao làm sống lại những nhân cách như vậy trong lịch sử, tác động sâu sắc và mãnh liệt vào tâm hồn của lớp người mới. Đó chẳng phải là giáo dục nhân cách bằng văn hóa cổ điển là gì.

Trong vòng 30 năm từ khi lập nước năm 1945 đến năm 1975 giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, trong vòng 30 năm ngắn ngủi, đất nước chiến tranh chống ngoại xâm thế mà chúng ta đã làm được việc kế thừa và phát huy vốn văn hóa cổ điển của dân tộc, đưa nó vào nhà trường, đưa nó vào văn nghệ, vào dân chúng. Tuy không tránh khỏi một vài ấu trĩ, khiếm khuyết, nóng vội nhưng trên đại thể là chúng ta rất coi trọng ông cha, coi trọng lịch sử, coi trọng quá khứ. Nhưng vì bận những việc lớn của chiến tranh, của chiến đấu, và cũng vì một phần nôn nóng giản đơn, thoát ly thực tiễn, thực tại, ảnh hưởng bên ngoài, nên đôi khi cái khẩu hiệu “hậu kim bạc cổ” cũng ảnh hưởng đến ta nhiều. Vẫn biết câu thơ Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ/ Hơn nghìn trang sách luận văn chương là đề cao chống Mỹ mà phê Mao tuyển nhưng cũng dễ diễn dịch sang ý coi thường văn chương văn hóa do câu thơ ám chỉ khó hiểu. Dẫu sao như Chế Lan Viên đã khái quát cùng với sự trở về Tổ quốc của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh Điệu lục bát và màu nâu nơi ruộng rẫy, Bức tranh làng Hồ và cô tố nữ dáng quê hương sống dậy, tức là văn hoá dân tộc sống dậy.

Nhưng từ sau năm 1975 do hoàn cảnh lịch sử mới quá khó khăn, chúng ta phải đối phó với những chấn động lịch sử lớn không còn đủ thời gian và sức lực để suy nghĩ và lo cho văn hóa dân tộc. Những diễn biến phức tạp ở trong văn hóa, sự hoang mang dao động về đường lối chính trị và văn hóa, những thế lực xấu dùng văn hóa làm chính trị để chống phá nguy hiểm, dai dẳng, tinh vi... đã tạo thành một xu hướng ngược dòng có sức công phá không thể xem thường. Trong tình hình đó, Đảng ra Nghị quyết V (khóa 8) xác định phát triển văn hóa theo hướng tiên tiến và giữ gìn bản sắc dân tộc là một kết luận có ý nghĩa chiến lược sâu sắc. Tuy nhiên, tình hình diễn biến của văn hóa, xã hội, đạo đức trong vài chục năm gần đây cho ta thấy nguy cơ của văn hóa đang hiển hiện ngày một rõ. Điều này không cần thiết phải diễn giải và chứng minh. Chúng ta chỉ cần nhẩm lại trong vài chục năm gần đây văn hóa chúng ta có những thành tựu gì, giáo dục, khoa học, nhất là khoa học Xã hội nhân văn có những thành tựu gì, chất lượng con người, chất lượng giáo dục của chúng ta đang ở đâu (khi một người Việt Nam năng suất chỉ bằng 1/5 người Thái Lan...). Những rối loạn trong hệ giá trị, trong phẩm chất đạo đức đang bày ra trước mắt, khi mà tham nhũng, bất bình đẳng về thu nhập, bất công trong xử lý đất đai hầu như chưa có biện pháp khắc phục. Kinh tế tuy có phát triển (so với hồi mới đổi mới) là phát triển gấp 70 lần về GDP nhưng dẫu sao chúng ta cũng vừa mới thoát nghèo và bước vào những nước có thu nhập trung bình (2.000 USD) và đang có nguy cơ rơi vào bẫy trung bình nếu không đổi mới hơn nữa về mọi mặt. Thế mà dường như văn hóa vốn đang tụt hậu sâu hơn kinh tế lại đang ngổn ngang trăm mối và chưa tìm thấy lối ra, chưa tìm thấy điểm tựa để phát triển. Con người không chỉ sống bằng bánh mì, con người sở dĩ là con người đúng nghĩa cần một cuộc sống tinh thần - văn hóa phong phú và điều đó chỉ có thể có được khi có một nền văn minh - văn hóa phát triển. Trong nền văn hóa phát triển đó, văn hóa quá khứ là cái gốc, là cội nguồn cho toàn bộ sự phát triển tinh thần. Ấy thế mà hiện nay chúng ta đang sống chỉ với một nền văn hóa văn minh chỉ có vài ba thế kỷ, còn thì đứng ngoài, lãng quên, bỏ qua nền văn hóa quá khứ mấy chục thế kỷ. Ngay trong nhà trường, việc học văn học cổ điển còn rất yếu và Nguyễn Du, Nguyễn Trãi chẳng bao giờ được lọt vào các kỳ thi. Các sách về Nguyễn Du, Nguyễn Trãi và các tác gia cổ điển có được xuất bản đấy nhưng được đọc rất ít. Vấn đề là toàn xã hội phải được tiếp nhận, hiểu biết nền văn hóa đó chứ không phải là liếc qua, biết vậy rồi bỏ đi... Cần phải nói rằng, nền văn hóa cổ điển đó của dân tộc, cả của phương Đông đều có thể đem lại một tác dụng nhân cách không thể tưởng tượng nổi. Nhân cách của Trần Nhân Tông, của Trần Hưng Đạo, của Chu An, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Ngô Thì Nhậm, Lê Quý Đôn, Cao Bá Quát, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh... được hình thành và nuôi dưỡng chẳng phải là từ trong môi trường văn hóa ấy sao? Họ đã vĩ đại đến mức càng nhìn càng thấy cao, còn ở thời chúng ta lẽ ra phải có những nhân vật văn hóa lớn lao hơn thế. Vì hoàn cảnh bây giờ là rất thuận lợi, thế thì tại sao lại có ít nhân vật đứng đầu nguồn văn hóa như thế. Phải chăng là chúng ta đã phiến diện, phần nào đã tự đánh mất mình, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc trong từng mỗi con người hôm nay.

   Vấn đề này đã được đề cập đến nhiều nơi nhưng chưa bao giờ có một cuộc thảo luận, bàn bạc thực chất.

Thực chất, theo ý chúng tôi là, phải đặt lại vấn đề từ gốc. Phải tư duy lại, phải đổi mới tư duy, phải thừa nhận sai lầm và quyết tâm sửa chữa thì mới mong giải quyết rốt ráo vấn đề. Còn như cứ nói chung chung, nói mà không có biện pháp đi kèm, nói lý thuyết mà không hành động trực tiếp, không chịu nhìn vào sự thật, không chịu học hỏi nhân loại... thì nói hàng ngàn lời cũng nước chảy trôi xuôi.

Một cách chiến lược và hiệu quả, chúng ta phải tìm lại những tinh hoa của mấy nghìn năm văn hóa dân tộc, tồn tại trong văn hóa dân gian và văn hóa bác học. Phải học lại chữ Hán, chữ Hán Việt, một trong những thành tựu cơ bản của việc Việt hóa, tiếp biến văn hóa Trung Hoa cổ xưa. Học chữ Hán không phải để đọc bia, đọc câu đối, thậm chí cũng không phải để hiểu tiếng Việt vì trong tiếng Việt có đến 70, 80 thậm chí đến 90% từ gốc Hán. Những cái đó đều cần nhưng quan trọng hơn là kế thừa toàn bộ nền văn minh, văn hóa phương Đông ở những mặt tinh hoa của nó, trước hết là trong đạo đức, trong quan hệ giữa người và người, giữa người với thiên nhiên, trong chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và hiện thực. Phải tìm hiểu tại sao Hồ Chí Minh đi năm châu bốn biển, thể nghiệm tất cả các nền văn minh lớn của nhân loại, cuối cùng quay về với nền văn minh dân tộc và phương Đông, suy nghĩ, hành xử, diễn đạt như là một người Việt phương Đông cực kỳ giản dị, hiền minh. Hồ Chí Minh chính là tấm gương, là chuẩn mực mà con người và văn hóa Việt Nam hướng tới. Học tập Hồ Chí Minh là phải học từ gốc. Hồ Chí Minh ca ngợi đạo đức Khổng giáo, yêu mến Lão - Khổng Tử, Người nói rằng chúng ta phải đọc Lênin và đọc Khổng Tử. Năm 1923, Người khẳng định triết lý đại đồng, tức triết lý nhân văn, nhân nghĩa của Khổng Tử và năm 1925 sau Vũ Tứ ở Trung Hoa, người ta đốn hạ Khổng Tử, xem ông ta là tội nhân cản trở lịch sử tiến lên thì Người viết bài bênh vực Khổng Tử. Người nói, triết học Khổng Tử hay nhất là tu thân, tức là tu dưỡng đạo đức cá nhân mà đó cũng là điều mà Hồ Chí Minh sở đắc. Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân đó là câu hay nhất trong Luận ngữ mà Hồ Chí Minh phát hiện, nó đi từ cái tôi đến cái ta, lấy ta để hiểu người. Đó chẳng phải là một câu châm ngôn mà ta cần thuộc lòng từ nhỏ đó sao.

Vì vậy, cần học chữ Hán, chữ Hán Việt, chữ Hán cổ, chữ Nho trong trường trung học, ít nhất học trò cũng phải học khoảng hai nghìn chữ như người Nhật, người Triều Tiên. Rất dễ dàng và thuận lợi nếu chúng ta có quyết tâm. Chương trình trung học Hoàng Xuân Hãn trước Cách mạng tháng Tám đề ra sau bậc Thành chung biết tiếng Pháp, tiếng Anh thì tiến lên học sinh học tiếng Hán một tuần 4 giờ và học thêm tiếng Đức, tiếng Anh. Tất nhiên, đây là những trang bị bước đầu quan trọng trong vốn văn hóa của một người mới bước vào đời. Nhưng ta hãy hình dung nó sẽ đơm hoa kết trái như thế nào trong suốt cuộc đời của họ. Họ sẽ là người ngang tầm văn hóa Tây phương mà không mất gốc, mà khiêm nhường, giản dị, xả thân thành nhân, yêu nước và nhân ái. Không tốn bao nhiêu công sức để khơi lại cái kho tàng ngọc quý đã bị chôn vùi hàng trăm năm, để mở ra những đại lộ thênh thang cho con người và văn hóa. Điều đó lại chẳng đáng làm sao? Điều đó lại chẳng đáng bỏ công suy nghĩ và bàn bạc sao? Có biết bao nhiêu trí thức lớn trước khi mất trăn trở điều này như Cao Xuân Huy, Đặng Thai Mai, Nam Trân và như một nhà giáo lão thành sống hơn trăm tuổi, nguyên Hiệu trưởng trường Lê Khiết, tên là Nguyễn Vỹ trước khi mất nói: Tôi chỉ trối lại một điều là hãy cho con em chúng ta học tiếng Hán.

Bây giờ, trong bầu không khí của chủ nghĩa bá quyền, chúng ta có những cái không thuận lắm khi đặt vấn đề này. Nhưng như khi xưa, Nguyễn Trãi đã dùng văn hóa Nho giáo mà chống lại quân xâm lược và hàng ngàn năm cha ông vẫn thế rồi dùng tiếng Pháp, văn hóa Pháp để chống thực dân đế quốc Pháp. Đâu có phải học chữ, học văn hóa Pháp của họ rồi bị đồng hóa? Và hãy nghĩ đến Hồ Chí Minh, đến đất nước và văn hóa lâu đời của chúng ta để mà hành động. Hãy nghĩ dài, đừng nghĩ ngắn, hãy nghĩ cao, đừng nghĩ thực dụng, ăn liền. Tôi mong rằng điều tôi nói đây của một người đã thể nghiệm văn hóa cổ truyền. Bây giờ thì chưa có ai nghe, chưa ai làm vì họ ngại và rất nhiều cái khó khăn nhưng những diễn biến của thực tiễn xã hội, văn hóa đạo đức buộc ta phải tìm giải pháp. Giải pháp đó đối với tôi là hết sức sáng tỏ. Tôi đề nghị trước hết hãy làm một thử nghiệm trong nhà trường, rồi lấy kết quả của nó nhân rộng ra. Đã quá muộn rồi, nhưng càng để muộn thì càng khó và chẳng biết bao giờ chúng ta có thể có những con người kế tục Hồ Chí Minh theo đúng nghĩa văn hóa của nó.

 

M.Q.L

 

MAI QUỐC LIÊN
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 256

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

19/04

25° - 27°

Mưa

20/04

24° - 26°

Mưa

21/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground