|
S |
ự phát triển của đời sống xã hội đã kéo theo những thay đổi sâu sắc về mọi lĩnh vực mang tính thời đại bao gồm cả những thiết chế bền vững được hình thành từ rất sớm trong tiến trình lịch sử. Vấn đề không chỉ diễn ra ở một khu vực, một quốc gia nào mà nó đã trở thành hiện tượng mang tính toàn cầu. Xã hội truyền thống các dân tộc thiểu số Việt Nam cũng không nằm ngoài sự tác động mang tính quy luật đó. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để những giá trị của văn hóa truyền thống không bị phủ định bởi sự phát triển của văn minh và ngược lại, nó không trở thành lực cản cho sự phát triển ấy; chúng phải trở thành điểm tựa và thúc đẩy lẫn nhau trên con đường phát triển của xã hội. Vấn đề là quá lớn; nội dung “câu chuyện” không mấy giản đơn. Trong phạm vi sự hiểu biết rất có hạn, chúng tôi xin mạnh dạn trao đổi vài ý kiến sau đây:
1. Khái quát một vài đặc điểm cơ bản về các dân tộc thiểu số Việt Nam
Từ các kết quả nghiên cứu gần đây về sự hình thành các dân tộc Việt Nam trong sự hình thành các dân tộc khác trong khu vực thì có thể nói, các dân tộc ở Việt Nam đều có chung một nguồn gốc, đó là chủng Cổ Mã Lai. Các nhà khoa học cũng chỉ ra rằng, quá trình thiên di và giao tiếp giữa các tộc người thuộc các đại chủng khác nhau trong khu vực đã tạo nên hai dòng chính là Nam Đảo (Austroasiatic) và Nam Á (Austro-asiatique). Thời kỳ sau đó, dòng Nam Á được chia thành một loạt các dân tộc mà các cổ thư Việt Nam và Trung Hoa gọi là Bách Việt. Ban đầu, họ nói một số thứ tiếng như: Môn-Khmer, Việt-Mường, Tày-Thái, Mèo-Dao,...Về sau, quá trình chia tách này tiếp tục để hình thành nên các dân tộc và các ngôn ngữ như ngày nay. Trong khi đó, phía nam Việt Nam, dọc theo dải Trường Sơn là địa bàn cư trú của chủng (hoặc dòng) Nam Đảo. Đây là tổ tiên của các dân tộc thuộc nhóm Chàm. Và như vậy, mặc dù được chia thành nhiều tộc người khác nhau nhưng về cơ bản đều được hình thành từ các đại chủng, điều đó dẫn đến một hệ quả là nhiều dân tộc có cùng những đặc điểm về điều kiện sống, tạo nên xu hướng về phân bố vùng cư trú theo nhu cầu khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên để sinh sống. Trên cơ sở những đặc điểm cơ bản về nhận diện sự tồn tại của một dân tộc, các nhà khoa học đã xác định sự hiện diện của 54 dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Trong khuôn khổ của nội dung bài viết, chúng tôi chỉ xin đề cập đến một vài đặc điểm cơ bản của các dân tộc thiểu số.
1.1. Đặc điểm về địa bàn cư trú
Ngoài người Kinh, là dân tộc chiếm đa số sống trên khắp các vùng lãnh thổ nhưng chủ yếu ở vùng đồng bằng, gần các con sông và tại các khu đô thị còn hầu hết các nhóm dân tộc thiểu số sống tại các vùng trung du và miền núi (trừ người Hoa, người Khmer, người Chăm có tiến trình lịch sử riêng). Người Mường sống chủ yếu trên các vùng đồi núi phía tây đồng bằng sông Hồng, tập trung ở Hòa Bình và Thanh Hóa. Người Thái định cư ở bờ phải sông Hồng (Sơn La, Lai Châu). Người Tày sống ở bờ trái sông Hồng (Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên), người Nùng sống ở Lạng Sơn, Cao Bằng. Các nhóm dân tộc thiểu số khác ở phía bắc không có các lãnh thổ riêng biệt; nhiều nhóm sống hòa trộn với nhau. Một số nhóm dân tộc này đã di cư tới miền Bắc và Bắc Trung bộ Việt Nam trong các thời gian khác nhau: người Thái đến Việt Nam trong khoảng từ thế kỉ 7 đến thế kỉ 13; người Hà Nhì, Lô Lô đến vào khoảng thế kỉ thứ 10; người Dao vào khoảng thế kỷ 11; các dân tộc Hmông, Cao Lan, Sán Chỉ, Giáy di cư đến Việt Nam cách đây khoảng trên 300 năm. Các nhóm dân tộc thiểu số ở trung du và miền núi phía nam chủ yếu là các dân tộc bản địa và thường sống tại các lãnh thổ riêng. Các dân tộc thuộc ngôn ngữ dòng (họ) Môn-Khmer, trong đó có Bahnar, Bru và Vân Kiều, sống ở phía bắc Trường Sơn. Người M’nông, Stiêng và Mạ, sống ở phía nam của dãy Trường Sơn. Các dân tộc thuộc họ Nam Đảo gồm Êđê, Jrai, Churu, Raglai, Chăm đến Việt Nam vào khoảng thế kỷ thứ 2 trước công nguyên. Trong các dân tộc này, người Chăm sinh sống ở đồng bằng ven biển Nam và Trung Trung bộ. Người Ơ Đu chỉ có địa bàn cư trú duy nhất ở huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; người Thổ (hay còn gọi là Nhà Làng, Kon Kha) cũng vậy, cư dân của dân tộc này sinh sống chủ yếu trên địa bàn miền Tây Nghệ An và một ít ở Thanh Hóa. Các dân tộc khác sống rải rác dọc theo dãy Trường Sơn. Tuy nhiên, ngày nay, đặc biệt là từ sau 1975, nhiều dân tộc ở phía bắc, bằng các con đường có tổ chức hoặc tự do đã di cư vào các tỉnh phía nam, chủ yếu là Tây Nguyên, làm thay đổi cơ cấu thành phần tộc người ở các khu vực. Nếu như đầu thế kỷ 20, Tây Nguyên là địa bàn cư trú chủ yếu của 11 dân tộc được coi là người bản địa thì hiện nay trên địa bàn này đã có 44 dân tộc cùng sinh sống. Như vậy, sự phân bố lãnh thổ của đồng bào các dân tộc thiểu số đã có những thay đổi lớn. Điều này đã tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Mặc dù vậy, địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam chủ yếu là vùng rừng núi cao và trung du, và đây chính là điều kiện thuận lợi để họ tiếp tục phát huy những kinh nghiệm trong việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo đời sống và duy dưỡng những giá trị văn hóa được hình thành và lưu giữ bao đời.
1.2. Đặc điểm về dân cư
Theo số liệu tổng điều tra dân số, tính đến 0 giờ ngày 01/4/2009, dân số của Việt Nam là 85.789.573 người, trong đó người Kinh là 85,7274%, các dân tộc thiểu số và người nước ngoài 14,2726% (người nước ngoài có 2134 người, 0,0025%). Các dân tộc thiểu số có số dân đông, chiếm tỷ lệ trên 1%, bao gồm: Tày 1.626392 người (1,8945%); Thái 1.550423 người (1,806%); Mường 1.269963 người (1,4782%); Khmer 1.260640 người (1,4685%); Hmông 1.068189 người (1,2443%); Nùng 968800 người (1,1285%); tiếp theo là các dân tộc Dao, Jrai, Êđê, Bahnar, Sedang, Sán Chay, K’ho, Chăm, Sán Dìu, H’rê, Raglai, M’nông, Stiêng, Bru-Vân Kiều, Thổ, Khmú, Ktu, Giáy, Jẻ triêng, Tà Ôi, Mạ, Ko, Chơro, Xinh Mun, Hà Nhì, Churu, Lào, Kháng, La Chỉ, Phù Lá, La Hủ, La Ha, Pà Thẻn, Chứt, Lự, Lô Lô, Mảng, Cơ Lao, Bố Y, Cống, Ngái. Sau cùng là các dân tộc có số dân dưới 1000 người như: Si La, Pu Péo, Rơmăm, Brâu, Ơ Đu. Riêng hai dân tộc ở Kon Tum là Rơmăm 436 người, Brâu 397 người, thực chất mỗi dân tộc chỉ có chưa đầy 10 người là còn nguyên chủng, phần lớn là bị lai tạp với các tộc người khác sống gần đó. (Chúng tôi đã trực tiếp điền dã tại các địa bàn này). Nếu như từ nửa đầu thế kỷ 20 trở về trước, dân cư các tộc người thiểu số cư trú tập trung theo địa bàn riêng thì ngày nay tình trạng xen cư đã trở nên phổ biến. Hiện tượng này không chỉ diễn ra giữa người Kinh và người dân tộc bản địa mà ngay cả giữa các dân tộc thiểu số với nhau. Vì vậy, cùng với việc thay đổi về địa bàn cư trú thì cơ cấu các thành phần dân tộc, tỷ lệ dân số trên từng địa bàn cũng đã có nhiều biến đổi. Đây cũng là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến sự biến đổi văn hóa của các tộc người thiểu số.
1.3. Đặc điểm về ngôn ngữ
Lịch sử ngôn ngữ là một trong những vấn đề đã và hiện còn nhiều ý kiến khác nhau. Tuy vậy, cho đến nay đa số các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học so sánh - lịch sử đều cho thấy, ở vùng Đông Nam Á có một ngữ hệ chung - Ngữ hệ Đông Nam Á. Từ một ngữ hệ Đông Nam Á, trên cơ sở xác lập các tiêu chí nhận diện, có thể xác định một số họ ngôn ngữ mà trong các họ ngôn ngữ này ít nhiều đều có các cá thể ngôn ngữ có mặt trên lãnh thổ Việt Nam.
Thứ nhất, họ ngôn ngữ Nam Á. Đây là họ ngôn ngữ của cư dân dòng Nam Á mà nhiều nhà nghiên cứu coi là cư dân bản địa vùng Đông Nam Á, được phân bố trên một địa bàn khá rộng bao gồm toàn thể vùng Đông Nam Á lục địa, một phần của Đông Nam Á hải đảo, của Ấn Độ và Trung Hoa. Người ta chia họ ngôn ngữ này thành 4 nhánh ngôn ngữ, trong đó có nhánh Môn-Khmer, nhánh được coi là quan trọng nhất của họ ngôn ngữ này. Nhánh này lại được chia thành 9 nhóm, trong đó 4 nhóm có liên quan trực tiếp đến ngôn ngữ của các dân tộc ở Việt Nam, đó là: nhóm Bahnar, bao gồm ngôn ngữ của các dân tộc Bahnar, Chơ Ro, Ko, K’ho, Jẻ triêng, H’rê, Khmer, Mạ, M’nông, Brâu, Sedang, Stiêng; nhóm Katu, bao gồm ngôn ngữ của các dân tộc Bru-Vân Kiều, K’tu, Tà Ôi; nhóm Khmú, bao gồm ngôn ngữ của các dân tộc Khmú, Kháng, Mảng, Ơ Đu, Xinh Mun; nhóm Việt-Mường, bao gồm ngôn ngữ của các dân tộc Việt, Mường.
Thứ hai, họ ngôn ngữ Nam Đảo (còn có tên gọi khác là Mã Lai-Đa Đảo). Đây là họ ngôn ngữ của các cư dân mà địa bàn chủ yếu nằm ở phía đông, phía bắc và phía tây quần đảo Indonesia. Họ ngôn ngữ này được nhiều nhà ngôn ngữ học chia thành hai nhánh phía tây và phía đông. Nhánh phía đông bao gồm ngôn ngữ của các tộc người vùng đại dương; nhánh phía tây được chia làm hai nhóm: nhóm 1, bao gồm ngôn ngữ của các dân tộc thuộc các quốc gia Đông Nam Á Hải đảo (Nam Đảo); nhóm 2, là ngôn ngữ của các dân tộc thuộc họ ngôn ngữ Nam Đảo nhưng cư trú tại vùng Đông Nam Á lục địa, nhiều người gọi là nhóm Chàm. Nhóm này ở Việt Nam có các ngôn ngữ của các dân tộc Chăm, Êđê, Jrai, Churu, Raglai.
Thứ ba, họ ngôn ngữ Thái - Kadai, gồm các ngôn ngữ có mặt hầu hết trên lãnh thổ các nước vùng Đông Nam Á lục địa và một phần của Ấn Độ, Trung Hoa. Các nhà nghiên cứu chia họ ngôn ngữ này làm hai nhánh là Thái-Duy và Kadai. Nhánh Kadai phát triển thành một nhóm riêng là nhóm Kadai. Nhóm này ở Việt Nam ngày nay là ngôn ngữ các dân tộc Cơ Lao, La Chỉ, La Ha, Pu Péo. Nhánh Thái-Duy là nhánh chính của họ ngôn ngữ này được chia thành ba nhóm, trong đó ở Việt Nam có nhóm Tày-Thái. Đây là nhóm ngôn ngữ của các dân tộc Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái.
Thứ tư, họ ngôn ngữ Mèo - Dao (hay Hmông - Dao). Hiện nay các nhà nghiên cứu còn có những ý kiến khác nhau về họ ngôn ngữ này. Chúng tôi cho rằng, họ ngôn ngữ Mèo-Dao phát triển thành hai nhánh, nhánh Mèo (hay Hmông) và nhánh Dao. Nhánh Mèo phát triển thành nhóm Mèo, gồm ngôn ngữ của các dân tộc Hmông và Pà Thẻn; nhánh Dao phát triển thành một nhóm riêng, nhóm này chỉ duy nhất có ngôn ngữ của dân tộc Dao.
Thứ năm, họ ngôn ngữ Hán-Tạng. Đây là một họ ngôn ngữ có số lượng người sử dụng lớn nhất ở khu vực. Nó không chỉ phân bố ở vùng Đông Nam Á mà còn cả ở vùng Đông Á. Họ này có hai nhánh lớn là nhánh Hán và nhánh Tạng-Karen. Nhánh Hán hay cũng là nhóm Hán gồm ngôn ngữ của người Hoa, Sán Dìu, Ngái, Sán Chỉ. Nhánh Tạng-Karen lại chia thành các nhóm khác mhau trong đó có nhóm Miến-Lô Lô. Nhóm này ở Việt Nam có các dân tộc như Hà Nhì, Phù Lá, La Hủ, Lô Lô, Cống, Si La.
Tuy nhiên, có nhà nghiên cứu lại chia các dân tộc sống trên đất Việt Nam thành 8 nhóm theo ngôn ngữ, đó là: nhóm Việt-Mường, nhóm Tày-Thái, nhóm Môn-Khmer, nhóm Nam Đảo, nhóm Mèo-Dao, nhóm Kadai, nhóm Hán, nhóm Tạng. Theo chúng tôi, những trường hợp như Nam Đảo hay Môn-Khmer là những họ hay là những dòng lớn không thể xếp ngang hàng với các trường hợp khác, được gọi là nhóm. Ví dụ, nhóm Việt-Mường thực chất là một nhóm thuộc Môn-Khmer. Nam Đảo thực chất là một họ lớn trong đó có nhóm Chàm chứ không thể là đồng cấp. Đây là vấn đề thuộc chuyên ngành ngôn ngữ học so sánh-lịch sử mà chúng tôi không muốn và cũng không có điều kiện để bàn sâu ở đây. Điều chúng ta rút ra được từ việc phân chia tộc người qua ngôn ngữ để thấy được nét tương đồng và đặc trưng về phương diện ngôn ngữ trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đó là việc xác định các tộc người xét theo nhóm ngôn ngữ đã từng có một ngôn ngữ gốc, ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Đông Nam Á, có những nét đặc trưng chung, là ngôn ngữ đơn lập, có phương thức phụ tố, có cấu trúc cú pháp với vị trí xác định của các từ (từ không biến đổi hình thái khi được sử dụng trong phát ngôn như các ngôn ngữ biến hình). Trong nhiều trường hợp, từ vựng của nhóm này được sử dụng trong một số nhóm khác. Đây là hệ quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp. Các nhóm cư trú dịch xuống phía Nam có xu hướng phát triển phụ tố và ngược lại. Như vậy, xét về ngôn ngữ, các dân tộc thiểu số Việt Nam tuy có một vài điểm khác nhau về phụ âm kép, về phương thức phụ tố nhưng có nét chung đều là ngôn ngữ đơn lập.
1.4. Đặc điểm về văn hóa - xã hội
Trước cách mạng Tháng Tám, các dân tộc thiểu số Việt Nam có trình độ phát triển lịch sử không đồng đều. Trong khi ở phía bắc, sự chênh lệch về trình độ phát triển không thể hiện một cách rõ ràng thì ở phía nam, sự phân hóa lại được thể hiện rất đậm nét. Trong khi các dân tộc dọc Trường Sơn - Tây Nguyên mới bắt đầu vươn tới ngưỡng cửa của xã hội có giai cấp, ít nhiều còn dấu vết của một tổ chức công xã thị tộc - ở đây, hầu như không thấy sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa thì ngược lại, văn hóa Ấn Độ đã in những nét sâu đậm trong đời sống các dân tộc Chăm và Khmer. Các dân tộc này đã trải qua một chặng đường dài của một xã hội có giai cấp với trình độ phát triển khá cao. Tuy có sự khác nhau về xuất phát điểm và trình độ phát triển, song do sự phân bố tự nhiên và phần nào là tâm lý tộc người, các dân tộc thiểu số Việt Nam thường chọn địa bàn cư trú ở vùng núi và trung du, quy tụ trong một không gian bản làng mà suốt trong một thời gian dài của lịch sử, nó vừa là không gian cư trú vừa là đơn vị hành chính duy nhất (trừ người Hoa, Chăm và Khmer). Điều này đã tạo nên nét đặc trưng chung về văn hóa tộc người của các dân tộc thiểu số Việt Nam, đó là văn hóa bản làng, văn hóa rừng núi, văn hóa nông nghiệp gắn với nương rẫy. Quá trình vận động và phát triển văn hóa - xã hội của các dân tộc thiểu số Việt Nam đều trên cơ sở nét đặc trưng này.
Cùng với sự phát triển của xã hội Việt Nam, cuộc sống và văn hóa hiện đại trong thời gian gần đây đang lan tỏa đến những vùng đất xa xôi của tổ quốc, nơi phần lớn đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống bao đời. Cũng chính vì những tác động ấy, văn hóa truyền thống của các dân tộc, đặc biệt là với các dân tộc thiểu số đã có những sự biến đổi theo những chiều hướng khác nhau.
2. Một số biểu hiện về khuynh hướng biến đổi văn hóa các dân tộc thiểu số hiện nay
Mặc dù trong một thời gian dài của lịch sử, các vùng miền núi nói chung và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng là những vùng đất ít chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa ngoại bang, song trong thực tế, với mức độ khác nhau, những vùng văn hóa này cũng đã ít nhiều có mối quan hệ và chịu sự tác động bởi văn hóa người Việt, đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn cả nước cùng chung sức xây dựng xã hội mới theo con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong bối cảnh đó, văn hóa tộc người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói chung và đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng biến đổi nhanh theo những khuynh hướng khác nhau. Nhiều nhà nghiên cứu gần đây đều có sự nhìn nhận khá thống nhất về các khuynh hướng biến đổi văn hóa hiện nay của các dân tộc thiểu số, đó là khuynh hướng giao lưu và tiếp xúc văn hóa; khuynh hướng đồng hóa tự nhiên và khuynh hướng phục hồi văn hóa truyền thống.
2.1. Khuynh hướng giao lưu và tiếp xúc văn hóa
Chúng ta đều hiểu rằng, giao lưu và tiếp xúc văn hóa là một trong những khuynh hướng chung và là tác nhân quan trọng đối với sự biến đổi văn hóa của các tộc người. Ở nước ta nói chung và ở khu vực đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng cũng không tránh khỏi khuynh hướng này. Sự giao lưu, ảnh hưởng đã và đang diễn ra giữa các tộc người trong vùng; giữa người Kinh và các tộc người thiểu số trong cả nước và cả những tác động mang tính quốc tế. Sự giao lưu ảnh hưởng văn hoá giữa các tộc người ở từng khu vực và với bên ngoài đã góp phần đẩy nhanh quá trình biến đổi văn hóa truyền thống các dân tộc, khiến cho nhiều giá trị văn hóa mới thâm nhập và phát huy ảnh hưởng qua lại lẫn nhau trong đời sống xã hội như ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật… Mặt tích cực là đã góp phần tạo nên sự đa dạng về văn hóa trong khu vực. Bên cạnh đó, nó cũng có thể gây nên những tác động tiêu cực, đó là sự xô bồ, lai căng, thậm chí chủ nhân văn hóa còn quay lưng lại với văn hóa truyền thống nếu chủ thể tiếp nhận chưa có được sự chuẩn bị đầy đủ khả năng lựa chọn.
2.2. Khuynh hướng đồng hóa tự nhiên
Khuynh hướng đồng hóa tự nhiên gần đây được các nhà nghiên cứu xác định là một trong những khuynh hướng biến đổi văn hóa truyền thống đáng lưu ý. Nhiều người cho rằng, khuynh hướng này ở khu vực miền núi hiện nay đang diễn ra hai quá trình, đó là: quá trình đồng hóa trong nội bộ các dân tộc thiểu số trên địa bàn và đồng hóa giữa văn hóa cộng đồng các dân tộc thiểu số với văn hóa người Việt (người Kinh).
Quá trình đồng hóa tự nhiên giữa các dân tộc thiểu số trên địa bàn diễn ra giữa các dân tộc có số dân cư đông và các tộc người có số lượng dân cư ít ỏi sống cạnh nhau diễn ra một cách nhẹ nhàng, chậm chạp, khó nhận thấy một cách rõ ràng vì quá trình phát triển giữa họ không tạo ra sự chênh lệch đáng kể.
Quá trình tạo ra những thay đổi lớn về diện mạo văn hóa miền núi, vùng định cư tập trung của các dân tộc thiểu số là quá trình đồng hóa tự nhiên giữa văn hóa người Việt và các cư dân bản địa. Quá trình này được quan niệm đồng nhất với xu hướng hiện đại hóa văn hóa của nhiều tộc người thiểu số. Quá trình đồng hóa tự nhiên theo khuynh hướng này diễn ra khá mạnh mẽ và trên nhiều lĩnh vực. Khuynh hướng biến đổi này không hề có một sự tác động mang tính áp đặt, cưỡng bức mà sự đồng hóa diễn ra hoàn toàn tự nhiên. Tuy vậy, đây cũng là một khuynh hướng không thực sự tích cực, bởi sự tiếp nhận văn hóa từ các nền văn hóa khác không được dựa trên cơ sở truyền thống của mình mà có tính tiếp biến, vay mượn.
2.3. Khuynh hướng phục hồi văn hóa truyền thống
Phục hồi văn hóa truyền thống cũng là một trong những khuynh hướng thể hiện nhiều yếu tố tích cực, đặc biệt từ khi có Nghị quyết hội nghị Trung ương 5 Khóa VIII và hàng loạt các cuộc vận động, các dự án ra đời. Khuynh hướng này trong thời gian qua cũng bộc lộ một số vấn đề cần phải đầu tư nghiên cứu kỹ lưỡng. Sự thái quá trong thực hiện chính sách và thiếu sát thực trong một số chủ trương; sự thiếu hiểu biết trong một bộ phận cán bộ và nhân dân đã dẫn đến việc thực hiện mang tính áp đặt, thiếu ý thức tự giác. Điều đó đã dẫn đến một thực tế là mạnh ai nấy làm, và hệ lụy của nó là thiếu tính khả thi, gây lãng phí thời gian và tiền bạc của Nhà nước. Những thành tựu nổi bật và những tồn tại đã được thể hiện cụ thể trong Báo cáo Hội nghị Tổng kết 15 năm Nghị quyết Trung ương 5 Khóa VIII, ngày 15 - 01- 2014 do Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức.
(Còn tiếp kỳ sau)
T.V.D









