I
Ủy ban nhân dân Cách mạng bàn lo sơ tán khối dân chúng trong vùng có chiến sự ác liệt. Ở Quảng Trị, ngoài việc dùng phi pháo tập trung đánh vào các trọng điểm quân sự, địch còn đánh vào các làng đông dân, dồn người chạy về phía
Nhân dân Vĩnh Linh, Quảng Bình sẵn sàng đón tiếp các gia đình Quảng Trị ruột thịt. Chị Chất đưa dân vượt sông Bến Hải. Thôn nào giữ nguyên đơn vị hành chính. Mỗi xã chỉ giữ lại lực lượng chiến đấu, số cán bộ ở lại củng cố chính quyền cách mạng, lo các chuyện làm ăn cho các vụ sau. Mỗi nhà để lại một người, phần lớn đều là du kích.
Chị Chất sang thôn Quất, gặp Thảo. Chị rà lại danh sách, chị thấy thiếu mụ Sức, vợ tên trưởng ban an ninh ngụy. Hồi tên Sức còn đang lộng hành, chính hắn đã bắn chết bố chồng chị. Chị nén giận lại để làm nhiệm vụ. Ở vùng địch nếu cứ chỉ vì thù riêng có khi đứt dây động rừng, hỏng việc lớn. Bất chợt chị gặp thằng con đầu mụ Sức. Cằm bạnh, mắt ti hí, gò má sát tận xương, sao mà nó hệt khuôn mặt cha nó thế. Chị Chất gan ruột cồn cào. Người nóng bừng, mặt nóng bừng, chị nén mãi mới dẹp được cơn thù cơn giận từ đâu bốc lên ngùn ngụt. chị lặng lẽ hỏi Thảo:
- Gia đình mụ Sức ra sao?
- Mụ không ưng đi!
- Sao không ưng? Thôi để tao vô gặp mụ!
Chị bước vô.
- Chào mụ
Chị Chất vô trong nhà. Mụ Sức đang ngồi thừ bên đôi quang gánh, giường chiếu lỉnh kỉnh. Quần áo rũ vứt lộn xộn. Cái gập đống lại. Chị Chất nói rời rạc:
- Đi thôi mụ Sức!
Ngẩng lên, mụ Sức chột dạ. Mụ vội đon đả:
- Chị Chất! Tôi cũng đang…
- Nhanh tay, nhanh chân lên. Cần sắp xếp gì tôi giúp một tay!
- Ruột gan tui rối như cánh hẹ.
- Chi mà rối! Theo dân làng mà mần. Bà con cô bác mần chi ta mần nớ! Thế nào, đống quần áo xếp gọn, nhét vô tay nải chứ?
- Vâng, chị nhét vô cho tôi! Thú thật với chị giá chị không đến!
- Tôi không đến thì chị tính sao?
- Chị không đến tôi không đi!
- Sao không đi?
- Thân phân tôi nó chẳng ra chi! Ở làng đã lấn cấn rồi, chừ ra ngoài nớ càng mắc hơn.
- Nói vậy mà lọt tai à! Tự mụ hành hạ mụ đó! Chính sách hòa hợp này không như tụi Mỹ ngụy đâu! Thiệt bụng là thiệt bụng. Cách mạng không biết giả dối! Ai một lòng theo cách mạng thì cách mạng cũng hết lòng với người đó!
- Tôi cũng hiểu, những vẫn cứ băn khoăn.
- Ra ngoài đó, mụ sẽ thấy lời tôi nói đúng!
Mụ Sức im lặng.
Cha con ông Tư Đương được xã cử ra phối hợp với quân y tổ chức trạm phẫu thuật trung tuyến đặt ngay trong làng.
Gia đình ông xé ra làm ba. Vợ và mấy đứa nhỏ sơ tán ra Vĩnh Linh. Thằng Toàn đi theo bộ đội. Ông ở làng với hai đứa con gái đầu.
Sách thuốc, dao cầu, thuyền tán, ông cho cả vào chiếc thùng phuy, chon ở góc vườn. Sau này yên lành rồi sẽ hay. Ông Tư đem theo ít thuốc hoàn tán những vị thuốc quý để giữ nhà. Ông thôi bốc thuốc, dân làng cũng đi sạch, còn ai mà thuốc men!
Ông sốt ruột về thằng Toàn quá. Ông cũng không biết nó đang ở đâu. Dạo đầu tháng tư dương lịch, khi bộ đội tấn công tới tấp vào Đông Hà, ông đón anh em cán bộ quân y về làng thì được du kích báo cho ông biết, thằng Toàn đã bám theo một chiếc xe tăng theo đường Chín để lên mé Tân Vĩnh. Ông mong đỏ mắt mấy ngày sau, không thấy nó về. Phải nửa tháng sau, có người rẽ ngang vào nhắn. Nó theo bộ đội vào thành Quảng Trị, hẹn khi nào hòa bình sẽ trở về làng. Con nhà đến thế thì thôi.
Ông Tư Đương vẫn tích cực tham gia công tác mặt trận. Ông săn sóc thương binh. Có buồng chuối chín nào các ông lại chặt về đem biếu trạm phẫu. Chuối vườn vùng này thiếu cha gì. Lấy mang cho bộ đội nhà nào cũng thuận. Lúc đi sơ tán bà con giao cho lão tuốt luốt mảnh vườn. Mấy ông lão còn đi lại coi sóc nhà cửa cho những người đi vắng, phòng những kẻ tham lén đến hôi của. Ông Tư bận tíu tít; lăng xăng đi lại sốt ngày. Khi ông vào Viện săn sóc thương binh, khi ông rong rẻo khắp làng để mắt tới mọi xó xỉnh. Nhiều đêm ông cũng nhớ vợ, nhớ con. Công việc cuốn hút, có đêm ông ở lì trong Viện không về. Lúc rảnh, ông tranh thủ cuốc mảnh vườn, ném xuống ít cây ngô ngắn ngày, lấy cái ăn trong những ngày tháng tới.
Minh đen vài ba hôm lại về làng, ngủ tại nhà ông. Việc làng từ ngày Huệ và chị Chất đi, anh giao phó cả cho ông.
Bữa nay, ông Tư Đương chém được con cá chẫu ở cửa lạch. Có chất tươi ông mong anh Minh về đánh chén. Ông nấn ná đợi Minh chưa ăn vội. Vừa ở trạm phẫu, cô con gái thứ hai đã mách ngay:
- Cha ơi, anh Minh về dắt theo một con bò mộng!
- Bò đâu rồi! đem về càng hay, mang cho trạm phẫu.
- Cha ra vườn mà coi!
Ông Tư Đương đi thẳng ra vườn sau. Con bò được buộc ở gốc ổi. Nó đang bứt mấy lá duối sậm sựt, sậm sựt. Tiếng ông Tư ráo rắc, trầm trồ khen ở ngoài vườn:
- Chà con bò đẹp hè! Mô rứa, anh Minh?
- À, con bò!
Minh đen đang ngồi ở mô đất, rít cho trọn điếu thuốc, nuốt một nửa, tuôn ra một nửa khói, Minh mới trả lời trọn câu:
- Bò lạc từ Đông Hà đó! Tôi đánh về thôn ta, bắt nó cày mấy mảnh ruộng phục hóa của du kích!
Ông Tư đến tận nơi, ghé mắt vào cái u:
- Bò sữa, long vai mượt thế này thì cày bừa chi!
- Phải vực mới cày được. Cơm xong ông giúp tôi một tay!
- Được rồi!
Ông Tư đi vòng quanh con bò để nhận dạng. Ông xòa bàn tay đập đánh bét vào cái mông núng nính thịt của nó:
- Bò thằng trung tá ở thôn Nghĩa gần Đông Hà! Cái thằng ăn cướp cơm của lính để mở trại nuôi lợn, khai man lính chết rồi để chặn lương tậu bò đó! Ác giả ác báo! Của thiên lại trả địa, anh Minh hè!
- Nhà có bộ cày, bừa nào không, ông Tư?
- Nhà ni, trước có một bộ cày, bừa, mụ nó vẫn mần. Hồi về ấp tân sinh, ruộng đất không còn, đem bò đi bán rẻ bán đắt cho Hội đồng Trứ! Bộ cày bừa cũng bỏ quẳng bỏ vãi, sau cho người ta nốt rồi. Nhưng các nhà quanh đây thiếu cha gì!
Đêm đó Minh cầm cày, ông Tư dắt bò, đám du kích cầm cuốc hò hét, cuốc đất phía sau. Con bò sáu tuổi mới vực, đi băng băng. Minh cũng nhanh theo riết mới kịp nó. Thi thoảng nó trườn ra ngoài đường cày, ông Tư phải cầm trạc sát mũi, kéo thật lực nó mới chịu đi đúng đường. Hết hai luống to, nó cày một mình được. Ông Tư ngồi chồm hỗm giữa ruộng ngắm đám người cuốc bãi ban đâm. Khi đứng dậy, ông nói:
- Buổi cày này thiệt lịch sử đó!
Họ cày cho đến khi trăng lặn mới về.
II.
Hội dân công hỏa tuyến do Huệ phụ trách đang chuyển dành từ bến đò Gia Độ đi Nhan Biều. Hàng ngày họ chở gạo nước từ các làng ven sông, xuống các thuyền gắn máy. Thuyền do bộ đội công binh phụ trách lái. Dân công đi theo áp tải hàng. Khi về, nhận thương binh. Nhận hàng, cử người vào thành cổ. Địch đánh suốt đêm.
Sông Vĩnh Định ánh lên màu xanh. Những hố B52 ở Mai Xá, ở Bồ Bản vọt lửa ánh lên đỏ rực từng khúc sông, ánh lửa pha trộn với dòng nước, biến ảo thành nhiều màu kỳ lạ. Đèn dù nở bung xa, gần. Nhiều mảng trời sáng chen với khoảng tối dày đặc. Thuyền hàng lặng lẽ đi. Nước vỗ ộp oạp bên mạn. Qua khúc sông sóng trào lên mạnh mẽ. Sóng nước của các trận bom ở thượng nguồn đang dồn xuống. Có lúc sóng chồm vào mũi thuyền. Khúc sông phía thành cổ, pháo bắn dồn dập. Chuyển hàng trong đêm. Luôn tiếp giáp với những vùng trọng điểm. Lúc qua ngã ba sông, thủy thủ nhìn trước, nhìn sau, rồi tăng tốc độ, lướt thuyền vượt cho nhanh.
Mỗi thuyền đi ba người. Một người lái, một phụ máy, một đứng mũi. Dân công hỏa tuyến cử hai người để áp tải hàng.
Ba thuyền một tốp, men sông lặng lẽ đi. Nước thủy triều đang rút. Đến chỗ sông cạn, họ phải nhảy xuống, gò mình đẩy thuyền ra đúng luồng nước. Qua chợ Sãi, nơi địch phục kích thuyền bè, đoàn vận tải phải lướt sang ngang, men theo bờ bên kia, tránh xa luồng đạn của địch, được chừng nào hay chừng ấy.
Chị em đi đã quen. Họ đến thôn Một được vài lần. Khúc sông từ Nhan Biều đến Thành Cổ do bộ đội vận tải của trung đoàn phụ trách. Con gái không được vào thành, nguy hiểm! Huệ ước ao được vô một chuyến! Chị em trong đại đội người nào cũng ưng vô, nhưng cấp trên không cho.
Giao hàng xong Huệ dẫn tiểu đội vào lán công binh, chờ thương binh trong thành ra để chuyển đi. Chưa ngồi xuống ấm chỗ, Huệ nghe tiếng đại đội trưởng vận chuyển trung đoàn gọi:
- Cô Huệ đâu rồi?
- Thủ trưởng ơi có gì vậy?
- Có “công văn hỏa tốc” đây!
- Nói rỡn. Nơi đánh nhau này làm gì có công văn!
- Không có công văn giấy thì có công văn mồm chứ sao!
Đại đội trưởng đáp rồi nhảy vào hầm:
- Cần hai cô vô Thành Cổ. Ai đi đây?
- Em !
- Em !
- Em !
Chờ chị em bớt xôn xao, Huệ bảo:
- Hay chưa! Hãy chọn chứ!
Tất cả đều im. Đại đội trưởng vận tải bảo Huệ:
- Cô chọn đi!
- Khó quá! Nhờ thủ trưởng chọn giúp!
Huệ cũng ưng vào Thành Cổ như chị em! Chẳng lẽ mình lại chỉ định mình. Đại đội trưởng đang vội, anh chỉ vào Huệ và một cô khác.
- Thôi, tôi quyết định: Hai cô này.
Những tiếng ứ hứ, những tiếng reo, tiếng cười, tiếng phản đối cùng phát ra một lúc. Nhưng đại đội trưởng đã nhảy ra khỏi hầm. Huệ và cô gái cùng đi, bám sát anh.
III
Tài lùn trở về hầm chốt, mang theo một chú thiếu niên chừng mười hai tuổi. Đội mũ tai bèo vận chiếc sơ mi đen, đánh chiếc quần lính thủy đánh bộ xén bớt ống coi bộ cũng chững chạc. Mặt trái xoan, mũi dọc dừa, đặc biết chú có đôi mắt rất đen. Tài lùn đẩy chú vào hầm:
- Mò mẫm làm chi vào cổ thành?
Chú bé bướng bỉnh không trả lời
Huân hỏi:
- Tóm được “thằng nhóc này” ở đâu thế?
- À à, nóng quá, mình tranh thủ chạy ra sông tắm, vớ ngay được cu cậu ở bến sông. Hình như hắn theo chân mấy chiến sĩ thông tin sang nối dây, lớ ngớ đến bờ sống bên này thì bị lạc.
Tài lùn ghé tai Huân nói nhỏ:
- Dám vượt sông vào cổ thành thì cũng là loại cóc tía đấy chứ.
Anh nói tiếp:
- Từ bờ sông đến đây, hỏi ngọt hắn trả lời, hỏi xẵng, hắn cứ ì ra.
Huân đẩy ghế mời chú, giọng thân mật:
- Ngồi tạm xuống đây! Mò vào thành có dụng ý gì thế?
- À cháu muốn vô được tham gia chiến đấu!
Giọng cu cậu cố làm ra vẻ người lớn. Tài lùn suýt thì cười, xong vẫn làm bộ nạt nộ:
- Thấy pháo nổ cháu lại chẳng đòi về với mẹ à?
- Nếu sợ chết, cháu lỉnh về từ lâu rồi !
Chú bé nghe và nhìn rồi trở vào. Tài lùn lại gắt gỏng hỏi:
- Này, cháu ở đâu, khai cho thật.
- Nhà ở Cam Lộ!
- Thôn gì? Xã gì?
- Thôn X, xã Y.
- Nói đích danh!
Chú bé nói tên thật làng xóm. Tài lại gặng:
- Con cái nhà ai?
Chú bé xem phần đã tự ái, nghiêm sắc mặt nói:
- Cháu có phải là Việt gian đâu, sao mà chú lục vấn mãi.
- Không là Việt gian thì giấy tờ đâu?
- Trẻ con làm chi ra giấy tờ!
Huân bảo Tài lùn thôi không hò hét nữa. Huân nhẹ nhàng gợi:
- Thôi kể qua cho bọn tớ nghe sơ sơ quê chú làm ăn ra sao mà phét lác quá xá!
Chú bé bị khích, kể tường tận những việc xảy ra ở làng chú khi chiến dịch Quảng Trị bắt đầu, những chuyện chú tham gia phá ấp cùng đội du kích thì chú dấu không kể.
Chú nói thêm:
- Cháu biết một anh tên là Cảnh hiện đang chiến đấu trong Thành Cổ, trước là phái viên của huyện về phụ trách vùng này. Giờ chú đã chuyển sang làm cán bộ ở tỉnh đội. Cháu tới đây tìm đến chỗ chú.
Lính ta cười. Thấy tin được, họ cho chú bé ăn. Tài lùn chỉ vào căn hầm và bảo:
- Đó, chén xong cháu nằm đó mà ngủ
Chú bé gật đầu.
Báo cáo lên chủ nhiệm trinh sát về tình hình địch và sự việc “chú bé vào Thành Cổ” xong, Tài lùn trở về hầm. Không tháy chú bé đâu cả! Tài giật thột, soi đèn, tìm đủ các xó xỉnh, các căn hầm, các khu quang vẫn chẳng thấy. Pháo địch đang cấp tập. Chết cha! Thằng bé mà là tay chân của địch thì mất đầu chứ chẳng chơi!
Đến mỗi góc hầm, xó nhà, Tài lùn khẽ gọi:
- Chú bé ơi! ở đâu thì ra nhé!
Tài lùn chưa hỏi tên chú! Gọi đến chục câu vẫn không có tiếng đáp. Chỉ thấy tiếng bom đạn ì ầm và tiếng rơi lả tả của bụi vôi!
Nghe tiếng gạch rơi, gỗ lạo xạo, chú bé biết có người ở sau mình. Chú vẫn nằm im. Tài lùn tiến lên, lấy bàn tay vuông bức nắm lấy bả vai chú:
- Mạo hiểm nhưng như thế là vô kỷ luật đấy!
Chú bé suỵt một tiếng, Tài quát:
- Thôi đi ông tướng! Mời ông xuống! Nay mai thỏa sức quan sát.
Chú bé đành lui ra rồi bò theo Tài.
- Mỗi lần pháo bắn sáng rực, cháu lại thấy cái nhà thờ cụt tháp chuông. Cái nhà thờ ở ngay cái làng có con đường lớn, rạch xóm ra làm đôi! Làm chi chú hè?
Đang bực mình, Tài lùn gắt:
Làng Tri Bưu đấy, ông tướng ạ!...
Rồi nó lại tìm cách lần ra đến đầu làng Tri Bưu, định đến một làng, thì bị cánh quân đóng ở rìa làng phát hiện, chúng săn và định bắt sống. Thằng bé không hay biết vẫn nhởn nhơ. Nó vọt qua tường vào một ngôi nhà bên trong. Nó lần tìm. Chẳng có cái gì chén được cả. Nó chợt thấy mấy quả ổi chín thơm lừng, nó vừa nhô đầu lên định lấy hai quả ổi chín đó thì chợt thấy ra ở đầu tường, hai tên thám báo, vận đồ rằn ri đang quay lưng về phía nó và đón ở cổng. Nó sợ, vội tụt xuống. Nó nghĩ rất nhanh, nó treo áo lại một cành cây, nhẹ nhàng, khéo léo như một chú thằng lằn, nó vượt sang tường nhà bên cạnh. Rồi lại vượt sang một nhà bên nữa. Vừa lúc ấy nó nghe thấy tiếng của hai thằng lính ngụy: “Thằng ôn con vừa ở đây mà! Nó biến đâu tài thế!”
Hai tên lính bỏ đi tìm. Lại một tiếng:
- Áo nó đây!
Một lát sau, nó nghe thấy những loạt đạn bắn vu vơ tìm tòi ở nơi nó vừa thoát ra. Nó tin mình đã thoát. Không tiếc cái áo. Nó chỉ tiếc hai quả ổi chín. Nó cố đi ngoắt ngoéo giữa các vườn đổ nát, và lần đường tìm về tổ trinh sát. Gặp bãi rau non, nghĩ đến mấy chú ở nhà ăn kham khó, nó ngồi xuống hái. Tài lùn đưa ống nhòm lên và thu cái hình nhỏ nhắn lúc mất, lúc chạy vào ống kính.
- Nó kia rồi! Thằng quỷ. Nghịch quá trời quá đất. Mà sao lại thế kia! Nó cởi truồng à? Có lẽ trúng bom tơi tả hết quần áo chăng?
Quên hết cả cơn giận, Tài lùn tụt xuống và đi đón. Anh đoán được hướng nó sẽ tiến vào, Tài bước lên và nấp vào một bờ tường cụt. Quả nhiên, chú bé bước đến đó thì dừng lại. Nó định đặt rau xuống, lấy quần mặc vào. Tài lên tiếng:
- Đi đâu bây giờ mới mò về?
Thằng bé giật nẩy mình. Ngẩng mặt lên thấy mặt Tài nghiêm quá, bỏ rơi cả quần lẫn rau xuống đất.
Tài phì cười:
- Vô tổ chức đến thế! Thôi, nhặt rau lên!
Chú bé ngượng ngịu định bỏ rau xuống, mặc quần. Tài lùn gạt đi:
- Mặc vào ngứa ngáy chết. Có ai đâu mà ngượng. cứ về, anh đưa cho cái quần của anh mà mặc!
***
Chú bé tán tỉnh suốt đêm để xin được nhập vào đơn vị. Nó nằn nì hoài. Nó bảo giao việc chi cho nó cũng được. Huân phải hội ý với tổ. Họ đành cho chú đi theo. Được đi, chú thích lắm! Huân dạy chú cách nhận đường và tránh phi pháo địch. Huân nói:
Đừng tưởng có chuyến đi hôm nọ mà coi thường đâu. Hướng này khác hướng đó. Chủ quan là đi đời luôn! Bám sát lấy lưng ai chớ rời đó! Khom lưng xuống. Không bao giờ đi thẳng người. Khi viên pháo gần nhất nổ xong, phải tranh thủ bứt lên phía trước.
Đi mấy chặng, chú đã tỏ ra chủ động? vậy là ta lọt vào phía trong công sự của địch rồi đó. Giờ chú nằm đây, theo dõi động tác của tớ rồi bò theo. Tớ sang trước! Nghe chưa.
Chú bé gật đầu. Trước khi đi Huân còn dạy cho chú cách theo dõi hoạt động của địch trong khu trú quân. Huân sang trước. Mười lăm phút sau, chú bé đã đến ngồi chung với anh trong hầm chống pháo địch vừa bỏ. Huân thì thào hỏi chú:
- Cháu có muốn lên trinh sát không?
- Dạ, có ạ!
- Coi chừng! Tụi địch không ở trong công sự lổm ngổm kia đâu! Chúng lợi dụng hầm của dân mà ở. Hầm dân thì nhiều, cái nào tốt chúng vào ở, cái nào hỏng, chúng bỏ.
Muốn biết hầm có địch hay không làm thế nào?
- Cháu nhìn bằng mắt:
- Chưa đủ! Trong hầm tối mò mò làm sao thấy!
- Cháu áp tai xuống đất mà nghe!
- Pháo địch câu ầm ầm, rền rĩ, liên tục, nghe sao được.
Chú bé nghĩ ngợi một lát rồi trả lời:
- Cháu bò sát đến tận nơi, dùng mũi ngửi! Bọn lính ngụy khét mùi ấy làm gì chẳng biết. Hầm nào có mùi nước hoa và mùi thuốc lá thơm thì là hầm sĩ quan!
- Tàm tạm, còn mẹo chi nữa, kể xem!
Chú bé ngồi im. Huân lại hỏi:
- Hết rồi chứ?
- Hết!
- Chưa đủ đâu, nhóc ạ! Phải dùng cái này này!
Huân cầm lấy cổ tay, giơ bàn tay chú bé lên trong hầm tối rồi giảng giải:
- Giờ đã khuya, thằng nào thằng nấy mệt mỏi, ngủ lăn trong hầm, giao phó tính mạng cho những đứa ngoài các công sự tiền duyên. Cậu lỏn tới hầm, thò tay vào cửa. Hầm nào giá lạnh thì không có người. Hầm có hơi người sẽ nóng hơn. Nóng nhiều, nhiều người, nóng ít, ít người. Tớ đã làm như thế khi đi trinh sát địch ở Nại Cửu đấy. Nhờ biết rõ từng căn hầm vậy mà tiểu đoàn dù ở nơi đó xơi no đòn của pháo binh ta!
Chú bé ôm lấy lưng huân, tỏ ra phục tài chú lắm.
IV
Chui vào cửa tò vò, Huệ ngồi thẳng người. Vào tới vòm thứ hai mồ hôi mũi lấm tấm đỏ. Hai o bưng miệng cười: Bộ đội la liệt nằm ngủ trong cơn nóng và cơn bão đạn ấy. Anh nào cũng chỉ vận quần áo lót. Vào sâu những vòm trong. Mồ hôi ở trán, ở lưng, ở tay các o đỏ ra nhớp nhúa. Chiếc mùi xoa tháo ở cổ tay ra lau đã ướt. Hai o dân công giúp bộ đội vận tải, chuyển đạn và lương khô, các bì gạo vào trong kho rồi họ sang bên trạm phẫu lo cáng thương binh xuống thuyền đưa về trung tuyến.
Thương binh nằm chật hai vòm cung thứ hai và thứ ba. Hơi thuốc, mùi loét của vết thương, mùi khét của bom đạn xông lên. Huệ đến bên một ca nặng, người hộ lý đang tranh thủ bón thêm sữa cho thương binh.
- Đồng chí gắng ăn vài thìa sữa để lên đường ngay đấy! Từ sáng đến giờ chưa có hột nào vào bụng đấy.
Không thấy tiếng trả lời, người nằm bên cạnh mách:
- Cậu ấy hy sinh từ chập tối rồi, sống đâu nữa mà bón sữa!
Huệ ứa nước mắt. Người y sĩ vừa đến, chiếu đèn pin lên xem lần chót. Thấy Huệ sụt sịt anh gắt:
- Khóc à, mó tay vào! Khóc cái gì! Khiêng nhanh thương binh ra thuyền, đến giờ nó kích không rời bến nổi đâu!
Huệ lấy tay quệt ngang mắt, lẳng lặng nắm lấy đầu cáng, khiêng thương binh đi.
Huệ quay lại chờ, chưa biết được giao công tác gì. Ban chỉ huy trung đoàn họp. Họ đang lo đánh cho bọn lính thủy đánh bộ mấy trận đã đời khi chúng chân ướt chân ráo vào thay thế quân dù.
Huệ liền giúp việc các đồng chí quân y. Nửa đêm. Những trận bom và pháo kích mới. Trạm phẫu được báo chuẩn bị đón thương binh. Người bác sĩ vừa tựa lưng vào thành tường chợp mắt được một tý thì đã bị đánh thức dậy. Anh nói trong thói quen nghề nghiệp và công việc hàng ngày:
- Chuẩn bị phẫu!
Một vài người y tá đứng dậy. Huệ nói với y sĩ trực ban:
- Eng ơi! Có việc chi tụi em làm cho!
- Hai cô trông nom thương binh vậy. Có đồng chi nào gọi uống nước, thì giúp họ.
Huệ hói với cô bạn cùng đi:
- Mi một vòm, tao một vòm! Chọn vòm nào thì chọn!
Một tiếng sau, người y tá trực vòm trở về, giục hai cô đi ngủ. Anh chỉ một cái giường để hai chị em nằm chung. Mấy anh thương binh trẻ không ngủ được, thấy hai cô họ nhớ hậu phương, chộn rộn thế nào ấy. Có tiếng hỏi nhau của hai người choàng thức:
- Hình như có tiếng con gái ở đây?
- Hai cô “ba sẵn sàng”!
- Lâu lắm mới thấy bóng phụ nữ trong Thành Cổ!
- Sáng ra, bảo những cô ấy hát cho nghe vài bài
Người y tá trực vòm nhắc:
Một giờ đêm rồi, đề nghị các đồng chí ngủ để lấy sức.
Huệ nằm nghe. Vòm cung tò vò có tiếng ngáy đều, tiếng thở nhẹ, tiếng hắng giọng, khó thở, tiếng nhịn rên không nổi, phải bật ra. Có tiếng nói mơ la hét xung phong.
***
Trên bàn làm việc đặt mấy phong lương khô, một ca nước chè, mấy cái cốc thủy tinh xinh xinh. Góc bàn, một chồng ba chục cái đĩa tráng men để đấy hàng tháng mà chẳng có gì bày biện cả. Mọi thứ ấy đều do anh chàng Lự tiếc của tha về chi cho tổ thêm chật và vướng víu.
Phó chính ủy chuẩn bị tiếp khách.
Tứ tọp đi nhiều, sau khi đánh cho quân thì một trận không ngóc đầu dậy nổi, rút về Huế. Đại đội hỏa lực lại bắn được chiếc máy bay trực thăng có tên sư phó sư dù đi thị sát các mặt trận ngoài thành. Trò treo cờ lén, nhằm vớt vát danh dự, vào được Thành Cổ của bọn lính dù cũng bị thất bại. Trung đội ngụy lén vào thành để treo lá cờ ba que, đã bị đánh bật ra. Tên treo cờ hám hai triệu đồng tiền thưởng thì bị bắn chết nằm còng queo ở chân cột cờ cùng hai tên nữa. Sư dù thò ngón gì ra bị chặt hết ngón ấy, tiu nghỉu, rã đám, rút sạch, trước những lời mỉa mai của đám phóng viên phương tây. Hãng UPI xưa nay vốn quen tâng bốc cái bọn tình nguyện “thay màu da cho xác chết” cũng phải thốt lên lời chỉ trích đám lính đồ ăn hại. Lá cờ ba que ấy bộ đội ta nhặt được, chỉ huy sở tiền phương đưa về tuyến sau, dùng làm hiện vật cho cuộc triển lãm chiến thắng lịch sử sắp tới.
Đêm qua, mãi khuya mới mò về, Văn loạng choạng dùng lá cờ ba que ấy làm giẻ lau bàn. Khi Tứ tìm giao cho người liên lạc chuyển đến chính ủy, cờ nát nhàu như một cái giẻ lau thực sự.
Tứ cho người mời hai o du kích tới. Hai chị em Huệ đến. Một người đeo máy ảnh ngồi đối diện với Phó chính ủy. Hai cô bẽn lẽn ngồi vào ghế. Tứ vừa rót nước mời khách vừa bảo:
- Mấy cô tự giới thiệu với nhà báo đi!
- Em là Huệ, du kích xã M. Cam Lộ
- Em là Cúc.
Tứ giới thiệu người phóng viên nhiếp ảnh với các o rồi cười:
- Tên hai cô đều là tên các loại hoa. Hẳn rằng điều đó làm tươi thêm bài viết của phóng viên Báo Quân đội.
Người phóng viên mỉm cười. Anh mới vượt sông vào Thành Cổ. Pháo bắn văng cả mũ, anh đánh trôi cả chiếc ba lô mang theo. Bằng mọi giá, anh bảo vệ được chiếc máy ảnh. Bước vào cung tò vò, ướt như chuột lột, phải mượn đồ của người trong thành mà thay. Anh muốn chụp một kiểu ảnh phản ánh sinh hoạt, chiến đâu ở Thành Cổ để kịp gửi về đăng báo. Từ bắc Hướng Hóa, anh đi ròng rã suốt một ngày tới đây và xộc vào thành ngay.
Tứ nhường lời cho nhà báo trao đổi với mấy o du kích. Phóng viên vui lắm. Anh đang nghĩ cách chụp sao cho thật ưng ý những kiểu anh về hai cô du kích này.
N.V.P





