Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 04/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Miền đất xanh

M

ười năm trước, tôi đã đến Khe Sanh trong một chuyến đi dài ngày. Khi ấy, Đường 9 chưa được sửa chữa, nâng cấp. Chiếc xe đò Đông Hà-Lao Bảo ì ạch vượt qua cầu Đầu Mầu, những dốc cao, đèo dài, lô nhô "ổ gà" và gió Lào khô nóng thốc qua cửa xe ngột ngạt ghê người. Thỉnh thoảng lại bắt gặp những chiếc xe gắn máy hiệu Min-xcơ chất đầy hàng hóa, phóng vụt ngược chiều. Từ hai bên Đường 9, thỉnh thoảng lại bắt gặp con đường tiểu mạch mà thấp thoáng trong tán cây là những “cửu vạn” gùi hàng thuê đang chờ đợi...

Bây giờ trở lại, cảnh vật hai bên Đường 9 đã đổi thay rất nhiều. Màu xanh. Ngút ngàn hai bên đường là màu xanh cây lá. Những vườn tiêu trĩu quả ở Tân Lâm, những đồi keo, tràm ở Đầu Mầu suốt gần 90km từ Đông Hà lên Lao Bảo tỏa bóng êm dịu. Qua cầu treo Đakrông, Đường 9 bắt đầu uốn lượn quanh co, mặt đường nhựa bóng loáng, phẳng phiu và dòng sông dù đã cạn nước nhưng rất trữ tình giữa rừng Trường Sơn đang xanh trở lại...

Trở lại Khe Sanh, Lao Bảo, Thiếu tướng Lê Xuân Tấu, Anh hùng LLVT nhân dân, nguyên Tư lệnh Binh chủng Tăng - Thiết giáp và Anh hùng LLVT nhân dân Trần Hữu Bào, "Dũng sĩ diệt Mỹ", đều có nhiều tâm sự. Sự hiểu biết, trải nghiệm và nét rắn rỏi của vị tướng từng là cựu chiến binh chiến đấu ở Khe Sanh đã hấp dẫn chúng tôi từ phút đầu gặp gỡ. Ông nói: “Tôi không thể ngờ được nơi chiến trường xưa, hôm nay đã đổi thay tiến bộ nhiều quá. Ngay bên bờ sông Sê Pôn, từng là đường hành quân tiếp cận tuyến xuất phát xung phong tiến công cao điểm Làng Vây của đơn vị chúng tôi, giờ đây là Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo...”.

Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo có tổng diện tích 15.804ha, trải dọc theo Quốc lộ 9 - tuyến đường xuyên Á với chiều dài 25km. Tôi bước vào Khu Công - Thương mại - Dịch vụ Lao Bảo, chỉ cách Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo chừng 300m. Những gian hàng ngồn ngộn, hàng hóa đủ chủng loại đến từ Lào, Thái Lan và các nước... Tôi nhớ, năm 1999, tôi đang ở đơn vị công binh thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Trị và đã thực hiện nhiệm vụ rà phá bom mìn, giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình ở khu vực này. Những trưa hè nắng chang chang, chúng tôi cẩn trọng tìm kiếm và xử lý từng quả đạn, bom mìn, vật liệu nổ còn sót lại sau chiến tranh. Cho đến khi ấy, chứng tích cuộc chiến tranh trên mảnh đất này vẫn còn hiển hiện rất rõ. Chúng tôi, vai đeo máy dò mìn, tay cầm thuốn và lưng áo đẫm mồ hôi, bỏng rát bởi cái nắng chói chang thiêu đốt... Có lần, chiến sĩ Thành phát hiện quả mìn định hướng do quân đội Mỹ sản xuất nằm sâu dưới mặt đất tới 40cm. Quả mìn còn mới, màu sơn xanh và ngòi nổ thiết kế rất tinh vi, tôi biết chắc chắn rằng nó vẫn còn nguyên tính năng, tác dụng và có thể nổ bất cứ lúc nào nếu mình mất cảnh giác. Thượng úy, Trung đội trưởng Trần Hoài Phương, bạn tôi đã giành lấy việc nguy hiểm là: Tháo gỡ nó. Bạn nói: “Chỉ vài hôm nữa bạn chuyển công tác đi làm phóng viên quân đội, thôi để quả mìn này mình xử lý cho. Mình hiểu loại này lắm, vì làm nhiều rồi”. Chúng tôi tản ra tìm chỗ ẩn nấp an toàn, chỉ còn lại một mình Phương trơ trọi giữa khu rừng, ngổn ngang những thân cây nằm đổ gục. Tôi nhìn rõ mồ hôi chảy ướt đẫm trên gương mặt Phương đầy căng thẳng. Và hai bàn tay của Phương cẩn trọng tháo nắp mìn, tháo ngòi nổ. Chúng tôi ở vị trí ẩn nấp an toàn như nín thở, thót tim theo từng vòng xoay tháo ngòi nổ của Phương. Có lẽ các gien vặn đã bị gỉ nên Phương loay hoay khá lâu... Đến lúc Phương đứng bật dậy, hai tay huơ lên trời: “Xong rồi, xong rồi!”, chúng tôi chạy ào ra quanh Phương, mừng đến chảy nước mắt.

Thiếu tướng Lê Xuân Tấu, năm 1968 là Trung đội trưởng thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn xe tăng 198 - đơn vị xe tăng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam xuất trận tâm sự với tôi: “Trong quá trình hành quân và qua các giai đoạn chuẩn bị, thực hành chiến đấu tiến công cứ điểm Làng Vây, chúng tôi không hề gặp và phải xử lý bất kỳ một quả mìn chống tăng nào của đối phương, chứng tỏ đối phương hoàn toàn bị bất ngờ!”. Theo lời kể của Thiếu tướng Lê Xuân Tấu, ngày 14-10-1967, Tiểu đoàn xe tăng 198 tổ chức lễ xuất quân, từ Xuân Mai, Hòa Bình, vượt hơn 1000km vào khu vực tập kết chiến dịch tại bản Na Bon, Mường Phìn (Lào). 22 chiếc xe tăng PT-76 miệt mài hành quân theo các trụ đường 12A, 12B, 15A, 15B, hệ thống đường mòn chiến lược 559. Ngày nghỉ, đêm đi, hằng ngày xuất phát vào lúc 18 giờ hành quân đến 5 giờ sáng tới vị trí giấu quân. Để bảo đảm yếu tố bí mật, đơn vị sử dụng một loạt các biện pháp ngụy trang xe bằng giàn tre, cây lá gắn trên nắp xe; chiếc xe đi sau cùng đội hình mỗi trung đội kéo theo nhiều thân cây để xóa vết xích. Suốt quá trình hành, trú quân, đơn vị hạn chế sử dụng liên lạc vô tuyến điện, chỉ sử dụng khi thật khẩn thiết và mã hóa thông tin bằng mật ngữ. Đơn vị thực hiện quy định trong suốt quá trình hành quân là phải vượt qua một đến hai km rồi vòng lại giấu quân ở mỗi vị trí tạm dừng, trú quân bí mật v.v..

Cuộc hành quân của xe tăng vào chiến trường Đường 9 - Nam Lào đã trải qua biết bao nhiêu gian truân, khổ ải. Sau hơn hai tháng hành quân, ngày 19-12-1967, toàn đơn vị đã có mặt đầy đủ tại Na Bon, Mường Phìn (Lào), vị trí tập kết chiến dịch, mà đối phương không hề hay biết. Trước khi tham gia trận đánh cứ điểm Làng Vây, Tiểu đoàn xe tăng 198 đã phối thuộc cùng Trung đoàn 24, Sư đoàn 304 tiến công địch thắng lợi tại Huội San - Tà Mây, tiêu diệt nhiều sinh lực địch... Ý định phát triển chiến đấu hiệp đồng binh chủng xe tăng, bộ binh và các lực lượng khác của mặt trận về hướng Làng Vây đã không thực hiện được bởi xuất hiện tình huống lực lượng tàn quân địch từ Huội San rút chạy về co cụm ở Làng Vây, trên đường rút chạy, hệ thống cầu cống bị chúng phá hỏng hoàn toàn, nhằm cản bước tiến của xe tăng.

Trận đánh cứ điểm Làng Vây đành phải lùi lại đến đầu tháng 2 - 1968. Lực lượng công binh của Đoàn 559 đã tổ chức làm đường, bảo đảm cơ động cho xe tăng tiếp cận. Và cho dù yếu tố bí mật xe tăng không còn, nhưng khi xe tăng PT-76 từ các hướng xuất phát xung phong, vượt qua cửa mở dẫn bộ binh xông lên cứ điểm Làng Vây, lực lượng đối phương vẫn hoàn toàn bất ngờ...

Những ngày qua, chúng tôi có mặt tại Khe Sanh, Lao Bảo, Hướng Hóa, được chứng kiến nhiều đoàn cựu chiến binh từ mọi miền Tổ quốc đã về Khe Sanh, Làng Vây, Động Tri, Tà Cơn, Lao Bảo v.v.. thăm lại chiến trường xưa, hồi ức và tưởng niệm. Họ đến sân bay Tà Cơn, nay là Khu di tích lịch sử trưng bày nhiều hiện vật là vũ khí, khí tài quân sự của quân đội Mỹ. Những chiếc máy bay, xe tăng, khẩu pháo và công sự được sắp xếp, bố trí, bày biện trên dải đất đỏ thẫm vốn là đường băng sân bay quân sự. Chúng vốn từng là những “cỗ máy chiến tranh” hiện đại và tinh xảo, giờ đây nằm im lặng bên những rẫy sắn, ruộng lạc xanh mướt và êm đềm,  đằng xa là dãy núi Trường Sơn trầm tĩnh, uy nghi...

Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, nguyên Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu 2; năm 1968, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 tham gia chiến đấu bao vây cứ điểm Tà Cơn, nơi tập trung sáu ngàn lính thủy đánh bộ Mỹ và hơn một ngàn lính quân đội Việt Nam cộng hòa, hệ thống công sự vững chắc, hỏa lực rất mạnh. Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy nói, thực hiện chủ trương của mặt trận đánh dài ngày, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, thu hút, giam chân địch nhằm tạo điều kiện cho quân dân vùng đô thị miền Nam tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân 1968, đơn vị của ông đã thực hành chiến thuật vây lấn, đào hai đường hào chính dài hơn năm km đưa bộ đội tiếp cận sân bay - cứ điểm Tà Cơn, từ đây, phát triển nhiều tuyến đường hào áp sát, luồn sâu qua nhiều lớp hàng rào, đến  tiền duyên phòng ngự của địch. Kết quả, sau một trăm bảy mươi ngày đêm vây lấn, Tiểu đoàn 3 đã tích cực chiến đấu, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, vô hiệu hóa hoạt động của sân bay Tà Cơn, khiến đối phương phải đưa Sư đoàn kỵ binh bay số 1 Mỹ và Lữ đoàn dù 3 quân đội Sài Gòn đổ bộ đường không xuống khu vực này nhằm giải tỏa tình trạng bị bao vây, chia cắt.

Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy không bao giờ quên ký ức chiến tranh đẫm máu, đó là những trận đánh chốt giữ ngăn chặn địch cơ động tiếp ứng cứ điểm Tà Cơn trên Đường 9 tại vị trí Làng Khoai vào đầu tháng 4-1968. Đồng chí Bùi Gia Ngoãn, Đại đội phó Đại đội 1 bị thương, mảnh pháo chém đứt lìa chân. Đồng đội đưa anh về tuyến sau nhưng Bùi Gia Ngoãn ngăn lại, anh rút lưỡi lê súng AK cắt đứt phần da còn dính chân, nói: “Địch đang tấn công dữ dội, các đồng chí hãy về vị trí chiến đấu, tôi còn chỉ huy được!”. Và khi đợt tiến công thứ bảy trong ngày của địch bị bẻ gãy, Bùi Gia Ngoãn hy sinh vì mất máu nhiều. Hành động dũng cảm, kiên cường của người cán bộ trẻ đã trở thành niềm thôi thúc cán bộ, chiến sĩ trên mặt trận lập công. Năm 2011, Bùi Gia Ngoãn đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

Trở lại Khe Sanh lần này, Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy chia sẻ điều day dứt suốt bốn mươi lăm năm qua với phóng viên Báo Quân đội nhân dân rằng, trong những ngày vây lấn cứ điểm Tà Cơn, trong một trận pháo kích của địch, có một chiến sĩ trẻ đã đẩy ông-Tiểu đoàn trưởng của mình vào hầm ếch dưới chiến hào ẩn nấp, rồi lấy thân mình che đỡ phía bên ngoài. Giờ đây, ông không biết người chiến sĩ ấy có còn sống hay không, ông nói: “Tôi rất mong muốn được gặp lại người chiến sĩ ấy, thông qua nhiều kênh thông tin của báo chí tôi hy vọng các đồng đội có thể cung cấp cho tôi thông tin về người chiến sĩ dũng cảm mà hồi ấy, giữa trận pháo kích tôi chưa kịp biết tên...”.

Trở lại Khe Sanh lần này, còn có một người phụ nữ có nét mặt nhân hậu. Bà Trần Thị Tách, nguyên diễn viên của Đoàn văn công Quân khu Hữu Ngạn. Năm 1968, bà lúc ấy mới 18 tuổi, cùng đội văn công xung kích được tăng cường vào Mặt trận B5. Giữa khốc liệt chiến tranh, bà và các cán bộ, diễn viên không chỉ hát, múa mà còn trực tiếp phục vụ chiến đấu. Bà đã khóc khi kể với chúng tôi rằng, tại Trạm phẫu Tiểu đoàn quân y 18, Sư đoàn 304,  bà và các nữ diễn viên thường hát, động viên các thương binh vượt qua cơn đau để các bác sĩ tiến hành phẫu thuật. Bà nhớ như in đồng chí thương binh tên là Thường, bị thương nặng phải cắt bỏ chân phải, trong khi thuốc mê còn rất ít. Hôm ấy, bà đã hát một làn điệu chèo, hai tay ôm cứng cái chân bị thương sắp bị cắt bỏ của chiến sĩ Thường. Bà vừa hát vừa khóc... Bà kể, rất nhiều lần bà chỉ mới hát được nửa bài, thì người thương binh đang nằm trên bàn phẫu thuật đã ra đi... Những lúc như thế, bà quay mặt vào vách hầm khóc rưng rức như một đứa trẻ. Các bác sỹ quân y Dưỡng, Nhượng thẫn thờ buông dao mổ, bước đến dỗ dành bà...

Mười năm trước, một lần đến Làng Vây, tôi đã gặp Đoàn cựu chiến binh Mỹ trở lại thăm chiến trường xưa. Một cựu binh cúi xuống nhặt những viên đá Làng Vây màu váng sắt. Bầy trẻ em Làng Vây tò mò đứng nhìn... Người cựu binh Mỹ trầm ngâm hồi lâu, rồi ông cúi đầu, bật khóc... Và bây giờ, bên tôi là Trung tá Nguyễn Thuận Huệ, Chỉ huy trưởng Ban CHQS huyện Hướng Hóa, anh nói: “Hiện nay, trong xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, cao điểm Làng Vây vẫn giữ nguyên giá trị của một vị trí địa hình quân sự trọng yếu, điểm chốt giữ quan trọng trên tuyến Đường 9. Bởi vậy, xây dựng thế trận lòng dân trên địa bàn, phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, củng cố quốc phòng - an ninh ở địa bàn này được cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm đặc biệt”.

Và không chỉ ở Làng Vây, mà trên cả miền đất Khe Sanh, Hướng Hóa, ở đâu tôi cũng đã gặp những khởi sắc đáng ghi nhận. Ở Khe Sanh, khí hậu vùng cao rất thích hợp cho xây dựng các khu nhà nghỉ, an dưỡng, nhiều di tích lịch sử chiến tranh cách mạng như: Nhà tù Lao Bảo, sân bay Tà Cơn, Động Tri, Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo v.v.. Khe Sanh có nhiều hồ, đầm tự nhiên, nước trong xanh, đồi thông reo vi vút, nhiệt độ trung bình mùa hè chỉ vào khoảng 25 độ C trong khi ở Đông Hà gió Lào rít từng trận bão thì nơi đây vẫn mát mẻ, yên lành. Buổi sáng ngắm sương mù bay lãng đãng quấn quanh những vườn cà phê trĩu hạt, những núi đồi trùng điệp, buổi tối ra thị trấn, cũng kêu một ly cà phê Khe Sanh - Hướng Hóa chính hiệu tỏa hương ngào ngạt, thấm lên đầu lưỡi vị cà phê hơi cay cay một chút và ngắm những dò lan rừng rủ hoa yểu điệu mà chủ quán kỳ công sưu tầm, nói vài câu chuyện tâm tình với người bạn thân và mơ ước... Sân bay quân sự Tà Cơn năm xưa nay đã trở thành khu di tích chiến tranh. Rất nhiều khách du lịch nước ngoài đã đến đây, chụp ảnh lưu niệm bên những hiện vật máy bay, xe tăng, pháo, trang bị quân sự của quân đội Mỹ, và họ tự giải đáp cho một câu hỏi quan trọng, điều gì đã làm nên chiến thắng của dân tộc Việt Nam?

Buổi trưa nắng chói chang trên cứ điểm Làng Vây, Hồ Văn Diệu và Hồ Văn Kiêm, hai chàng thanh niên dân tộc Vân Kiều vui vẻ trò chuyện cùng chúng tôi. Hỏi ra mới biết, hai anh chàng Vân Kiều này là những chủ nhân của rừng chuối xanh bạt ngàn xung quanh cứ điểm Làng Vây. Diệu kể, mỗi lần thu hoạch chuối trừ chi phí được khoảng hai mươi triệu đồng, cộng thêm thu nhập từ rẫy sắn, cũng đủ chi dùng trong gia đình, không phải đi gùi hàng thuê vượt biên giới nữa. Tôi được biết, từ nhiều năm qua, để giải quyết nguồn lương thực tại chỗ, cùng với tận dụng đất ven triền đồi, nương rẫy trồng ngô, khoai, sắn và các cây họ đỗ, huyện Hướng Hóa đã vận động nhân dân khai hoang đất bằng gieo cấy lúa nước hai vụ; đầu tư khai hoang đất đai. Từ trên cao điểm Làng Vây, có thể nhìn thấy rõ Nhà máy Chế biến tinh bột sắn Hướng Hóa, đây là “đầu ra” chủ yếu của vùng trồng sắn nguyên liệu, giúp nông dân ở các xã vùng sâu, vùng xa xóa đói, giảm nghèo, có hộ thu nhập từ sắn mỗi năm hơn một trăm triệu đồng...

So với mười năm trước đây, hoặc xa hơn nữa, kể từ khi tiếng súng lặng yên trên vùng đất này, Khe Sanh đang xanh trở lại. Tôi nhớ hôm chia tay đồng đội trong đơn vị công binh đang làm nhiệm vụ dò gỡ bom mìn giải phóng mặt bằng để xây dựng Khu Công - Thương mại - Dịch vụ Lao Bảo, Thượng úy Phương chở tôi về Đông Hà trên chiếc xe gắn máy cà tàng, chúng tôi đi qua những quả đồi trọc, trơ vết cháy rừng nham nhở. Khi ấy, chúng tôi đã ước ao về một đô thị sẽ mọc lên trên mảnh đất đầy thương tích chiến tranh, nơi chúng tôi hằng ngày dò dẫm gỡ mìn, hủy bom, đạn, trả lại sự bình yên cho đất. Cũng giống như Thiếu tướng Lê Xuân Tấu, hay Anh hùng LLVT nhân dân Trần Hữu Bào, "Dũng sĩ diệt Mỹ", những người lính đã đi qua chiến tranh luôn mang ước vọng hòa bình, gần nửa thế kỷ trôi qua, mỗi một người dân Khe Sanh - Hướng Hóa, Quảng Trị đều thường trực ước vọng được đổi đời trên mảnh đất quê hương, từ giọt mồ hôi mặn chát của mình. Uớc vọng ấy chưa bao giờ nguôi ngoai và đang dần trở thành hiện thực. Khe Sanh đã xanh lại như là một điều tự nhiên của đời sống, không thể nào khác...

T.H

TRẦN HOÀI
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 235 tháng 04/2014

Mới nhất

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Giấc mơ đồng bằng; Về xanh trong gió thơm

26/06/2025 lúc 23:24

Giấc mơ đồng bằng Gọi em đêm qua tôi mơ

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

05/04

25° - 27°

Mưa

06/04

24° - 26°

Mưa

07/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground