Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 07/03/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Linh chi, cây cỏ thần tiên

T

háng ba, đất trời Thành Cổ ngập tràn trong ánh nắng xuân, ngập tràn trong dòng người và xe cộ ngược xuôi. Tháng ba, tôi vào Thành Cổ. Tôi đã hàng chục lần vào Thành Cổ, có khi dừng lại lâu lâu, có khi chỉ ngang qua, nhưng lần nào cũng vậy, Thành Cổ luôn là mảnh đất tôi yêu mến. Trải hơn ba mươi năm dựng xây, dù có cái chưa làm được, có cái đang dở dang, nhưng Thành Cổ Quảng Trị, thị xã nhỏ bên dòng Thạch Hãn thơ mộng, từng làm rạng danh lịch sử đấu tranh bởi 81 ngày đêm, từng bị nát vụn dưới lớp lớp đạn bom kẻ thù…hôm nay đã có thể mạnh mẽ vươn lên như một sức trai trẻ tràn đầy sinh lực. Vì thế tôi muốn nói rằng, Thành Cổ hôm nay không chỉ là nơi để người ta tưởng niệm, tri ân với những gì của quá khứ mà còn là nơi được người ta chú ý đến bởi những gì mà người dân ở đây đang làm để xây dựng một Thành Cổ, xây dựng một thị xã ngày càng tươi đẹp hơn. Trong chuyến vào Thành Cổ lần này tôi muốn tìm đến với những người đang lao động sản xuất.

         “Thị xã hôm nay có nhiều mô hình làm ăn tiêu biểu, có nhiều gương sản xuất, kinh doanh giỏi trên các lĩnh vực và tôi muốn giới thiệu với anh một cơ sở sản xuất nấm Linh Chi khá nổi tiếng ở ngay giữa lòng Thành Cổ này. Ông là kỹ sư Lê Văn Quỳnh!”. - Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Quảng Trị, anh Nguyễn Trí Tuân đã nói với tôi như vậy. Có một cái gì đó cứ thôi thúc tôi phải đến ngay với “ông chủ” của loài nấm quý này. Tôi từng nghe nói ở Quảng Trị mô hình sản xuất nấm đã có từ khá lâu và hầu như ở huyện thị nào cũng có người trồng nấm, nhiều người đã thực sự “ăn nên làm ra”, trở nên giàu có nhờ nấm, nhưng đó chỉ là những loài nấm thực phẩm thông thường như nấm Sò, nấm Mộc Nhỉ, nấm Rơm…Còn như nấm Linh Chi thì rất hiếm người trồng.

         Theo anh Nguyễn Trí Tuân thì ông Quỳnh là người đầu tiên sản xuất loài nấm này. Có lẽ Linh Chi là loài nấm không dễ trồng, lâu thu hoạch, chi phí tốn kém mà lại khó thành công nên ít người theo đuổi chăng? Nhưng Linh Chi là một loại nấm quý, quý vào hàng số một trong các loài nấm. Có lần tôi đã đọc một tài liệu nói về loài nấm quý này. Nấm Linh Chi còn có thêm mấy cái tên khác nữa là nấm Vạn Năm, nấm Thần Tiên, cây Điềm Lành, cỏ Huyền Dịu. Tuy thế cái tên Linh Chi vẫn phổ biến hơn cả. Từ cách đây hàng trăm năm trên thế giới đã có bao truyền thuyết, bao câu chuyện liên quan đến loài nấm Linh Chi. Một tài liệu cách đây hàng ngàn năm ghi tên 366 loài dược thảo đã không ngần ngại xếp Linh Chi vào hàng thượng dược.Còn ở nước ta, từ đời Minh cho đến đời Trần trong các bản thảo còn lưu giữ lại đến hôm nay đều có ghi tên 2000 loài thuốc thì Linh Chi vẫn được xếp hàng đầu. Hồi đó chưa có điều kiện nghiên cứu về Linh Chi, người ta chỉ biết được công dụng của nó qua kinh nghiệm và thực tế sử dụng. Ngày nay, tức khoảng trên dưới bốn mươi năm nay, Linh Chi đã được các nhà khoa học, các viện nghiên cứu trên thế giới chú ý đến và người ta đã tìm ra được công dụng đắc địa của nó. Bắt đầu là Nhật Bản, sau đó là Trung Quốc rồi lan dần ra các nước Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Đài Loan, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam…ở nước nào Linh Chi cũng được xếp vào hàng dược liệu quý hiếm nhất. Người ta bắt đầu đặt cho nó một cái tên khoa học là Ganoderma Lucidium. Theo các tài liệu được công bố mới nhất trên thế giới thì nấm Linh Chi có rất nhiều công dụng trong chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho người như: giải độc tố gan, thận, mật; ngăn chặn và điều trị bệnh xơ gan, bệnh tiểu đường, bệnh huyết áp…Linh Chi còn có tác dụng bổ tim, thông mạch, cải tiến quá trình chuyển hóa và dinh dưởng. Người sử dụng Linh Chi đúng phương pháp có thể nâng cao tuổi thọ, chống lú lẫn hoặc mất trí nhớ…Có thể sử dụng Linh Chi bằng nhiều cách trong điều trị như nấu nước uống, ngâm với mật ong, rượu nguyên chất hoặc cũng có thể hầm Linh Chi với thịt gà, thịt lợn để ăn hàng ngày. Linh Chi lạ lùng và quý hiếm như thế sao lại không thể không cuốn hút tôi?

         Nhà kỹ sư Lê Văn Quỳnh ở đường Lê Hồng Phong thuộc khu phố 7, phường 1, cách di tích Thành Cổ không xa. Nhà ông là một ngôi nhà lợp ngói như ở nông thôn, không lấy gì to tát lắm. Ngay từ ngoài ngõ tôi đã nhìn thấy những ngôi nhà lợp tôn và tôi đoán đó là nơi dùng để sản xuất nấm. “Được, được, mời chú vô nhà!”. - Ông Quỳnh đon đả. “Mời chú uống nước!”. - Tiếp lời ông Quỳnh là một phụ nữ từ trong nhà đi ra nói giọng Bắc đáp lại lời “chào o” của tôi.

         Ông Quỳnh năm nay sáu tám tuổi, dáng người thấp nhỏ, nhưng nhanh nhẹn, tháo vát tựa như  “cụ Sóng vò lúa”, một lão nông Bắc bộ trong tác phẩm của nhà văn Tô Hoài. Mái tóc ông đã điểm bạc nhưng nụ cười thì lúc nào cũng trẻ trung trên gương mặt. Người phụ nữ nói giọng Bắc là bà Nguyễn Thị Dần, vợ ông. Bà Dần kém chồng mười tuổi và thực thà mà nói so với tuổi 58 của mình thì trông bà vẫn trẻ hơn rất nhiều. Bởi, một phụ nữ quanh năm làm lụng vất vả như bà mà mái tóc vẫn đen, vẫn dài và gương mặt bà trông vẫn hồng hào, khỏe mạnh. Đặc biệt dù đã xa quê hương hơn ba mươi năm “theo chồng về xứ lạ”  bà Dần vẫn giữ được cho mình một giọng nói thật trong trẻo, thật phổ thông, thật “Hà Nội”. Tất cả giọng nói êm ái, trẻ trung của bà, gương mặt hồng hào của bà, rồi dáng dấp nhanh nhẹn của chồng bà như toát lên một vẻ trẻ trung, khỏe khoắn, một niềm tin đối với cuộc đời và một sự mãn nguyện đối với tất cả những gì là thành quả mà ông bà đã vất vả làm nên. Ngắm nhìn ông bà Quỳnh bên những giàn nấm Linh Chi giữa lòng Thành Cổ tôi bỗng sực nhớ đến những gì mà tôi biết về công dụng của nấm Linh Chi. Theo như vợ chồng ông Quỳnh cho biết thì giá bán hiện tại của Linh Chi là sáu trăm ngàn đồng một kylôgam. Nhưng tôi biết đó chưa phải là giá cao nhất. Vì theo như lời cô bạn nhà báo cùng đi với tôi thì chỉ mới năm ngoái thôi vợ chồng cô ấy vừa mua một kylôgam Linh Chi với giá bảy trăm ngàn đồng. Đó cũng chưa phải là giá tột đỉnh. Một anh bạn của tôi hiện công tác tại Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Linh cho biết là đã có lần anhaays mua Linh Chi với giá một triệu đồng một kylôgam, mà phải mua tận ngoài biêmn giới Việt - Trung.

         “Vợ chồng tôi bắt đầu làm nấm từ năm hai nghìn…”. - Kỹ sư Quỳnh bắt đầu câu chuyện của mình. Ông kể rằng, không phải ngẫu nhiên mà sáu, bảy năm qua vợ chồng ông đã lăn xả vào nghề trồng nấm. Chuyện gì cũng có duyên cớ của nó. Và ông bắt đầu nói về cái ngày xa lắc xa lơ ấy. Cái ngày mà ông – một chàng trai Quảng Trị được may mắn gặp và xe duyên cùng với cô gái quê ở mãi tận Hưng Yên là bà Dần – vợ ông bây giờ. Hồi đó, năm 1967, sau khi tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp với tấm bằng kỹ sư nông – hóa ông được giữ lại Hà Nội công tác ở Bộ Nông nghiệp. Trong một lần đi công tác lên vùng Điện Biên – Lai Châu, ông đã gặp bà. Bà Dần lúc ấy là một cô gái trẻ chưa đầy hai mươi tuổi mới từ quê lên công tác tại Văn phòng Tỉnh ủy Lai Châu. Qua vài lần gặp gỡ với kỹ sư Quỳnh, người con gái xinh xắn quê Hưng Yên ấy đã đem lòng thương yêu chàng trai Quảng Trị hơn mình đến chục tuổi. Rồi họ tổ chức lễ cưới, thành vợ thành chồng, sinh con đẻ cái. Năm 1975, miền Nam giải phóng, ông bà bồng bế con cái vào ngay Quảng Trị, dựng lên một gian nhà nhỏ ngay giữa lòng Thành Cổ đổ nát,  hoang tàn. Ông công tác ở Phòng Nông nghiệp, bà công tác ở Phòng Lương thực cùng huyện. Rồi họ cùng nghỉ hưu trở về với cuộc sống đời thường.

         “Về nghỉ hưu được gần chục năm tôi mới nghĩ đến chuyện trồng nấm. – Ông Quỳnh lại tiếp tục câu chuyện. – Ngày ấy, tuy mang tiếng là nghỉ hưu cả hai vợ chồng, nhưng đồng lương nào có là bao. Tôi có bốn đứa con ăn học, lại sống giữa thị xã, không buôn bán gì nên cuộc sống rất chật vật. Nhưng đó cũng chưa phải là lý do khiến tôi trồng nấm.  Mà lý do chính là đi nơi này chỗ kia, từ thành thị về nông thôn, đâu đâu tôi cũng thấy người ta thải ra quá nhiều rác rưởi làm ô nhiễm môi trường, trong đó có một khối lượng mạt cưa khổng lồ từ các xí nghiệp, các cơ sở chế biến gỗ. Đọc báo, xem tivi, tôi thấy ở nhiều nơi người ta đã biết tận dụng các loại rác thải để tái chế hoặc sử dụng làm việc có ích. Là một kỹ sư nông nghiệp tôi thấy mình phải làm gì đây trước những gì mắt thấy tai nghe. Và thế là tôi quyết định học nghề trồng nấm”.

         Cuối năm 1999 kỹ sư Lê Văn Quỳnh bắt đầu khăn gói lên đường “tầm sư học đạo”. Gia đình chắt chiu được đồng nào, bà Dần dồn cả cho chồng lại còn động viên ông: “Mình cố mà học cho tốt rồi về dạy lại cho tôi để tôi và mình cùng làm nấm”. Con đường ông đi không phải là vào Nam mà là ra Bắc, ra Hà Nội, ra với Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. Nơi ấy ông đã có hơn mười năm sinh sống và gần bốn năm học tập thời trai trẻ. Được giáo sư Nguyễn Lân Dũng, giáo sư Dương Đình Đống và nhiều người khác vốn là thầy cũ, bạn cũ trực tiếp truyền đạt kiến thức, ông học một lèo ba tháng về kỹ thuật trồng các loại nấm. Sau ba tháng ở Hà Nội, ông lại xuôi về Thái Bình học thêm một tháng nữa về kỹ thuật chế biến nấm do Hội Nông dân tỉnh Thái Bình tổ chức.

         Trở về quê ông bắt tay ngay vào việc. Ông vận động sáu hộ nghèo trong khu phố, mỗi hộ một người cùng làm nấm với ông. Có nhân công rồi, nhưng vẫn thiếu nhiều thứ. Và cái thiếu nhất vẫn là vốn. Ông làm đơn vay Ngân hàng hai mươi triệu đồng, tiền của gia đình cộng với bạn bè cho vay ba mươi triệu đồng nữa, vậy là ông có chẵn năm mươi triệu đồng, vừa đủ chi phí cho “mẻ” nấm đầu tay. Cả nhà ông bắt đầu lăn lưng ra với nấm, từ chuẩn bị dụng cụ che chắn, giàn kê, tưới tắm cho đến các loại phụ liệu cần thiết như mạt cưa, túi nilong, nút cổ, bông, địu, các loại cám…Rồi mọi thứ cũng hòm hòm đâu ra đó. Chưa đủ điều kiện làm hẳn những gian nhà riêng biệt để trồng nấm, ông đành chấp nhận cho nấm “ở” lẫn với người. Ngôi nhà ông có bốn gian, không rộng lắm, vậy mà vợ chồng, con cái, ông dồn hết cả về một gian, ba gian còn lại ông để trồng nấm. Cả ngôi nhà bếp ông cũng “tận dụng”  ưu tiên cho công việc. Trong nhà ông nơi nào cũng lỉnh kỉnh nhưng bao bì, những giàn gỗ, những xô chậu…Bước chân và xó xỉn nào cũng một mùi hăng hăng, nông nồng, ẩm ướt, khó chịu. Nhưng thời gian thu hoạc nấm cũng đã đến.

         “Vụ đầu này tôi lỗ mất mười lăm triệu đồng!”. – Ông Quỳnh đột ngột nói. “Tính chi ly phải gần hai mươi triệu chứ!”. - Bà Dần nói chen vào. “Sao thế?” – Tôi hỏi. “Chung quy cũng là do mình áp dụng kỹ thuật chưa đến nơi đến chốn.”. – Ông Quỳnh ngậm ngùi trả lời. Để thu hoạch một vụ nấm Linh Chi phải qua chín tháng ròng rã chăm sóc. Nhưng theo như vợ chồng ông Quỳnh cho biết thì trong chín tháng ấy chỉ vất vả nhất, mọi yếu tố kỹ thuật thành công hay thất bại lại tập trung chủ yếu vào tháng đầu tiên. Một quy trình sản xuất nấm Linh Chi phải tuần tự thực hiện đủ các bước. Bắt đầu là việc phơi phong và sàng lọc mạt cưa, sao cho mạt cưa sạch sẽ, khô ráo. Sau đó trộn đều mạt cưa với vôi và nước, ủ trong ba đến năm ngày. Bước tiếp theo là đóng túi, tức là cho mạt cưa vào túi nilong. Xong đâu đó thì dồn cả lại chất thành đống để hấp hơi ở nhiệt độ cao trong vòng mười hai tiếng mới được vớt ra để nguội, mà phải để tới hai mươi tiếng đồng hồ chứ không thể ít hơn. Công đoạn này gọi là tiệt trùng phụ liệu. Xong đâu đó mới cho phép cấy giống vào túi đặt lên giá. Trong tháng đầu, các túi Linh Chi bắt buộc phải nuôi trong phòng tối cho đến khi nào sợi và quả thể của nấm phát triển mới được chuyển sang phòng sáng.  Chu kỳ để nấm phát triển kể từ khi cấy giống cho đến lúc quả thể của nấm nhú ra  khỏi nút cổ vừa tròn trịa một tháng. Tám tháng còn lại là tám tháng chăm sóc, tưới tắm cho đến khi nào nấm trưởng thành thu hoạch được.

         Ông Quỳnh thất bại vụ nấm này không phải ở tám tháng cuối mà là ở ngay tháng đầu, ở đúng vào cái công đoạn tiệt trùng. Đây là công đoạn quyết định thành bại của cả vụ nấm, nhưng ông đã sơ hở trong khâu xử lý nào đó. Mà nói như ông thì có thể là do ông hấp hơi phụ liệu chưa đủ mười hai tiếng, hoặc để nguội phụ liệu chưa đủ hai mươi bốn tiếng. Sai một ly đi một dặm là vậy. Thôi thì cũng coi như bài học để rút kinh nghiệm cho những vụ nấm sau. Và vụ nấm sau thì ông thành công thật, ông đã có lãi hơn hai mươi triệu đồng từ Linh Chi. Vụ này theo như lời bà Dần thì họ đã xử lý kỹ thuật một cách hoàn hảo tất cả các khâu. Thắng lợi tuy chưa phải là lớn nhưng như vậy cũng thu được một món tiền đủ để bù đắp cho vụ trước và trả lương cho nhân công. Mấy năm sau ông liên tiếp thắng liền mấy vụ, mỗi vụ đều lãi hai mươi triệu đồng trở trở lên. Ông bắt đầu xây dựng lều trại làm nấm với diện tích hơn một trăm mét vuông. Rồi ông bỏ tiền ra vào tận Đà Nẵng, Đồng Nai…học thêm về bí quyết làm nấm. Ông sản xuất thêm nấm Sò, nấm Mộc Nhỉ…bán ra thị trường. Cơ sở của ông phải huy động thêm vài chục nhân công nữa mới đáp ứng được công việc.

         Vụ nấm năm 2003 và 2004 ông thắng to với sản lượng lên tới sáu tạ nấm Mộc Nhỉ, trên ba tạ nấm Sò và non nửa tạ nấm Linh Chi. Một điều không ngờ tới, đó là đầu ra vốn lúc nào cũng khiến ông phải thấp thỏm lo âu, canh cánh trong lòng, giờ bỗng như trống dong cờ mở, thuận tiện biết bao. Nấm ông sản xuất ra có bao nhiêu bán hết bấy nhiêu. Riêng với nấm Linh Chi, mặc dù giá cả không thấp như nấm Sò, nấm Mộc Nhỉ…nhưng cũng bán sạch, có lúc không còn để bán. Đôi khi ông phải chịu sự “dỗi hờn” của người quen chỉ vì…thiếu nấm, mà nấm ở đây là nấm Linh Chi. Thì ra cuộc sống bây giờ ngày càng ăn ra làm được, nên người tiêu dùng cũng không ngại gì khi phải bỏ ra một món tiền lớn mua lấy ký Linh Chi dùng cho việc chữa bệnh, phòng bệnh hay bồi bổ cơ thể. Mà phải đâu người xa lạ, toàn người trong huyện trong tỉnh cả. Có những người ở vùng nông thôn, cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng cũng không tiếc tiền khi được biết về công dụng của nấm Linh Chi. Mới hay Linh Chi thật khéo hấp dẫn người dùng, không hổ danh là vị thuốc quý.

         Khi cơ sở sản xuất nấm, đặc biệt là nấm Linh Chi của ông Quỳnh được người ta chú ý đến thì nhiều nhà thuốc Đông y trong và ngoài tỉnh đã đến đây đặt hàng. Và chỉ mới đây thôi, ông Ngô Thanh Nghị, Chủ tịch Liên minh các Hợp tác xã của tỉnh cũng đã đưa đến nhà ông Quỳnh một vị khách. Đó là Lương y Ngô Qúy Thích, một chủ nhà thuốc Đông y nổi tiếng ở Huế. Ông Thích ra gặp ông Quỳnh và có ý định hợp đồng với cơ sở sản xuất nấm của ông mua Linh Chi dài hạn. Nhưng rất đáng tiếc là ông Quỳnh đã không đủ khả năng cung cấp Linh Chi với một số lượng quá lớn như ông Thích yêu cầu. “Tôi  chỉ tiếc là mình đã để tuột khỏi tay một hợp đồng lớn.– Rồi ông thở dài – Nhưng cũng không phải dễ dàng gì lại có thể sản xuất được hàng tấn Linh Chi mỗi vụ như họ yêu cầu được.”. Bà Dần nói như một lời đề nghị: “Giá mà cơ sở của chúng tôi được vay vốn nhiều hơn, lãi suất thấp hơn và chu kỳ cho vay dài hơn thì chắc chắn công việc làm ăn của chúng tôi sẽ thuận lợi hơn nhiều...”.

         Ông Quỳnh nói rằng bây giờ ở thị xã Quảng Trị đã có thêm hai cơ sở sản xuất nấm của chị Hoàng Thị Mai và chị Nguyễn Thị Phàn bước đầu đã cho thu hoạch khá. Họ là hai trong số hàng chục người ở đây được ông …truyền nghề. Tuy nhiên, họ cũng chỉ mới sản xuất được nấm Sò và nấm Mộc Nhỉ, nấm Linh Chi vẫn chưa ai dám làm. Còn gia đình kỹ sư Lê Văn Quỳnh vẫn đều đặn mỗi năm một vụ nấm Linh Chi và tám đến mười vụ nấm Sò, nấm Mộc Nhỉ. Hàng ngày vợ chồng ông lúc nào cũng cặm cụi, tảo tần với nấm. Riêng ông, ngoài công việc làm nấm, hàng tháng ông vẫn phải thỉnh thoảng xa nhà đi đến các huyện thị khác để dạy nghề làm nấm cho bà con nông dân. Và trong năm nay ông cũng có dự định mở thêm hai lớp làm nấm cho bà con nghèo ở thị xã quê ông. Trong khu phố người ta thấy ông lúc nào cũng tất bật ngược xuôi. Nào đâu chỉ phải việc sản xuất, việc làm nấm…mà ông còn phải đảm đương biết bao nhiêu là công việc, từ giữ gìn trật tự trị an đến phong trào của người cao tuổi, hội nông dân…việc gì cũng có ông tham gia, việc gì cũng có ông dốc toàn tâm toàn ý phục vụ. Ở cái Thành Cổ Quảng Trị này ai cũng biết tên ông. Ai cũng quý ông, mến ông bởi người ta thấy ông không chỉ là một người siêng năng, cần cù trong công việc mà ông còn là một người sống mẫu mực, tình nghĩa với láng giềng, bà con chòm xóm.

         Thành Cổ Quảng Trị vào những ngày này thật là đông vui, nhộn nhịp. Người khắp nơi trong cả nước đang đổ về đây thắp hương tưởng niệm cho người đã khuất. Và Thành Cổ hôm nay vẫn đang bươn chải, bộn bề làm ăn. Dọc các đường phố đã có thêm nhiều nhà cao tầng mọc lên, nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ra đời. Đâu đâu cũng rộn ràng tiếng máy, đâu đâu cũng tràn ngập niềm vui. Chỉ có ở đây, bên góc đường Lê Hồng Phong này, nghe có vẻ yên ả hơn, trầm lắng hơn. Ở đấy vừa có một cơ sở sản xuất nấm Linh Chi ra đời, đang ngày ngày âm thầm, lặng lẽ làm ăn. Để rồi mỗi năm, từ cơ sở này, những mẻ Linh Chi, những mẻ thuốc quý lần lượt ra đời. Linh Chi giữa lòng Thành Cổ! Linh Chi mang lại vẻ đẹp cho đời! Và Linh Chi – loài nấm quý, vị thuốc quý ấy đã thực sự góp thêm một chút hương sắc cho Thành Cổ Quảng Trị thân yêu trên con đường dựng xây, đổi mới và phát triển.

N.N.C

 

T

háng ba, đất trời Thành Cổ ngập tràn trong ánh nắng xuân, ngập tràn trong dòng người và xe cộ ngược xuôi. Tháng ba, tôi vào Thành Cổ. Tôi đã hàng chục lần vào Thành Cổ, có khi dừng lại lâu lâu, có khi chỉ ngang qua, nhưng lần nào cũng vậy, Thành Cổ luôn là mảnh đất tôi yêu mến. Trải hơn ba mươi năm dựng xây, dù có cái chưa làm được, có cái đang dở dang, nhưng Thành Cổ Quảng Trị, thị xã nhỏ bên dòng Thạch Hãn thơ mộng, từng làm rạng danh lịch sử đấu tranh bởi 81 ngày đêm, từng bị nát vụn dưới lớp lớp đạn bom kẻ thù…hôm nay đã có thể mạnh mẽ vươn lên như một sức trai trẻ tràn đầy sinh lực. Vì thế tôi muốn nói rằng, Thành Cổ hôm nay không chỉ là nơi để người ta tưởng niệm, tri ân với những gì của quá khứ mà còn là nơi được người ta chú ý đến bởi những gì mà người dân ở đây đang làm để xây dựng một Thành Cổ, xây dựng một thị xã ngày càng tươi đẹp hơn. Trong chuyến vào Thành Cổ lần này tôi muốn tìm đến với những người đang lao động sản xuất.

         “Thị xã hôm nay có nhiều mô hình làm ăn tiêu biểu, có nhiều gương sản xuất, kinh doanh giỏi trên các lĩnh vực và tôi muốn giới thiệu với anh một cơ sở sản xuất nấm Linh Chi khá nổi tiếng ở ngay giữa lòng Thành Cổ này. Ông là kỹ sư Lê Văn Quỳnh!”. - Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Quảng Trị, anh Nguyễn Trí Tuân đã nói với tôi như vậy. Có một cái gì đó cứ thôi thúc tôi phải đến ngay với “ông chủ” của loài nấm quý này. Tôi từng nghe nói ở Quảng Trị mô hình sản xuất nấm đã có từ khá lâu và hầu như ở huyện thị nào cũng có người trồng nấm, nhiều người đã thực sự “ăn nên làm ra”, trở nên giàu có nhờ nấm, nhưng đó chỉ là những loài nấm thực phẩm thông thường như nấm Sò, nấm Mộc Nhỉ, nấm Rơm…Còn như nấm Linh Chi thì rất hiếm người trồng.

         Theo anh Nguyễn Trí Tuân thì ông Quỳnh là người đầu tiên sản xuất loài nấm này. Có lẽ Linh Chi là loài nấm không dễ trồng, lâu thu hoạch, chi phí tốn kém mà lại khó thành công nên ít người theo đuổi chăng? Nhưng Linh Chi là một loại nấm quý, quý vào hàng số một trong các loài nấm. Có lần tôi đã đọc một tài liệu nói về loài nấm quý này. Nấm Linh Chi còn có thêm mấy cái tên khác nữa là nấm Vạn Năm, nấm Thần Tiên, cây Điềm Lành, cỏ Huyền Dịu. Tuy thế cái tên Linh Chi vẫn phổ biến hơn cả. Từ cách đây hàng trăm năm trên thế giới đã có bao truyền thuyết, bao câu chuyện liên quan đến loài nấm Linh Chi. Một tài liệu cách đây hàng ngàn năm ghi tên 366 loài dược thảo đã không ngần ngại xếp Linh Chi vào hàng thượng dược.Còn ở nước ta, từ đời Minh cho đến đời Trần trong các bản thảo còn lưu giữ lại đến hôm nay đều có ghi tên 2000 loài thuốc thì Linh Chi vẫn được xếp hàng đầu. Hồi đó chưa có điều kiện nghiên cứu về Linh Chi, người ta chỉ biết được công dụng của nó qua kinh nghiệm và thực tế sử dụng. Ngày nay, tức khoảng trên dưới bốn mươi năm nay, Linh Chi đã được các nhà khoa học, các viện nghiên cứu trên thế giới chú ý đến và người ta đã tìm ra được công dụng đắc địa của nó. Bắt đầu là Nhật Bản, sau đó là Trung Quốc rồi lan dần ra các nước Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Đài Loan, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam…ở nước nào Linh Chi cũng được xếp vào hàng dược liệu quý hiếm nhất. Người ta bắt đầu đặt cho nó một cái tên khoa học là Ganoderma Lucidium. Theo các tài liệu được công bố mới nhất trên thế giới thì nấm Linh Chi có rất nhiều công dụng trong chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho người như: giải độc tố gan, thận, mật; ngăn chặn và điều trị bệnh xơ gan, bệnh tiểu đường, bệnh huyết áp…Linh Chi còn có tác dụng bổ tim, thông mạch, cải tiến quá trình chuyển hóa và dinh dưởng. Người sử dụng Linh Chi đúng phương pháp có thể nâng cao tuổi thọ, chống lú lẫn hoặc mất trí nhớ…Có thể sử dụng Linh Chi bằng nhiều cách trong điều trị như nấu nước uống, ngâm với mật ong, rượu nguyên chất hoặc cũng có thể hầm Linh Chi với thịt gà, thịt lợn để ăn hàng ngày. Linh Chi lạ lùng và quý hiếm như thế sao lại không thể không cuốn hút tôi?

         Nhà kỹ sư Lê Văn Quỳnh ở đường Lê Hồng Phong thuộc khu phố 7, phường 1, cách di tích Thành Cổ không xa. Nhà ông là một ngôi nhà lợp ngói như ở nông thôn, không lấy gì to tát lắm. Ngay từ ngoài ngõ tôi đã nhìn thấy những ngôi nhà lợp tôn và tôi đoán đó là nơi dùng để sản xuất nấm. “Được, được, mời chú vô nhà!”. - Ông Quỳnh đon đả. “Mời chú uống nước!”. - Tiếp lời ông Quỳnh là một phụ nữ từ trong nhà đi ra nói giọng Bắc đáp lại lời “chào o” của tôi.

         Ông Quỳnh năm nay sáu tám tuổi, dáng người thấp nhỏ, nhưng nhanh nhẹn, tháo vát tựa như  “cụ Sóng vò lúa”, một lão nông Bắc bộ trong tác phẩm của nhà văn Tô Hoài. Mái tóc ông đã điểm bạc nhưng nụ cười thì lúc nào cũng trẻ trung trên gương mặt. Người phụ nữ nói giọng Bắc là bà Nguyễn Thị Dần, vợ ông. Bà Dần kém chồng mười tuổi và thực thà mà nói so với tuổi 58 của mình thì trông bà vẫn trẻ hơn rất nhiều. Bởi, một phụ nữ quanh năm làm lụng vất vả như bà mà mái tóc vẫn đen, vẫn dài và gương mặt bà trông vẫn hồng hào, khỏe mạnh. Đặc biệt dù đã xa quê hương hơn ba mươi năm “theo chồng về xứ lạ”  bà Dần vẫn giữ được cho mình một giọng nói thật trong trẻo, thật phổ thông, thật “Hà Nội”. Tất cả giọng nói êm ái, trẻ trung của bà, gương mặt hồng hào của bà, rồi dáng dấp nhanh nhẹn của chồng bà như toát lên một vẻ trẻ trung, khỏe khoắn, một niềm tin đối với cuộc đời và một sự mãn nguyện đối với tất cả những gì là thành quả mà ông bà đã vất vả làm nên. Ngắm nhìn ông bà Quỳnh bên những giàn nấm Linh Chi giữa lòng Thành Cổ tôi bỗng sực nhớ đến những gì mà tôi biết về công dụng của nấm Linh Chi. Theo như vợ chồng ông Quỳnh cho biết thì giá bán hiện tại của Linh Chi là sáu trăm ngàn đồng một kylôgam. Nhưng tôi biết đó chưa phải là giá cao nhất. Vì theo như lời cô bạn nhà báo cùng đi với tôi thì chỉ mới năm ngoái thôi vợ chồng cô ấy vừa mua một kylôgam Linh Chi với giá bảy trăm ngàn đồng. Đó cũng chưa phải là giá tột đỉnh. Một anh bạn của tôi hiện công tác tại Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Linh cho biết là đã có lần anhaays mua Linh Chi với giá một triệu đồng một kylôgam, mà phải mua tận ngoài biêmn giới Việt - Trung.

         “Vợ chồng tôi bắt đầu làm nấm từ năm hai nghìn…”. - Kỹ sư Quỳnh bắt đầu câu chuyện của mình. Ông kể rằng, không phải ngẫu nhiên mà sáu, bảy năm qua vợ chồng ông đã lăn xả vào nghề trồng nấm. Chuyện gì cũng có duyên cớ của nó. Và ông bắt đầu nói về cái ngày xa lắc xa lơ ấy. Cái ngày mà ông – một chàng trai Quảng Trị được may mắn gặp và xe duyên cùng với cô gái quê ở mãi tận Hưng Yên là bà Dần – vợ ông bây giờ. Hồi đó, năm 1967, sau khi tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp với tấm bằng kỹ sư nông – hóa ông được giữ lại Hà Nội công tác ở Bộ Nông nghiệp. Trong một lần đi công tác lên vùng Điện Biên – Lai Châu, ông đã gặp bà. Bà Dần lúc ấy là một cô gái trẻ chưa đầy hai mươi tuổi mới từ quê lên công tác tại Văn phòng Tỉnh ủy Lai Châu. Qua vài lần gặp gỡ với kỹ sư Quỳnh, người con gái xinh xắn quê Hưng Yên ấy đã đem lòng thương yêu chàng trai Quảng Trị hơn mình đến chục tuổi. Rồi họ tổ chức lễ cưới, thành vợ thành chồng, sinh con đẻ cái. Năm 1975, miền Nam giải phóng, ông bà bồng bế con cái vào ngay Quảng Trị, dựng lên một gian nhà nhỏ ngay giữa lòng Thành Cổ đổ nát,  hoang tàn. Ông công tác ở Phòng Nông nghiệp, bà công tác ở Phòng Lương thực cùng huyện. Rồi họ cùng nghỉ hưu trở về với cuộc sống đời thường.

         “Về nghỉ hưu được gần chục năm tôi mới nghĩ đến chuyện trồng nấm. – Ông Quỳnh lại tiếp tục câu chuyện. – Ngày ấy, tuy mang tiếng là nghỉ hưu cả hai vợ chồng, nhưng đồng lương nào có là bao. Tôi có bốn đứa con ăn học, lại sống giữa thị xã, không buôn bán gì nên cuộc sống rất chật vật. Nhưng đó cũng chưa phải là lý do khiến tôi trồng nấm.  Mà lý do chính là đi nơi này chỗ kia, từ thành thị về nông thôn, đâu đâu tôi cũng thấy người ta thải ra quá nhiều rác rưởi làm ô nhiễm môi trường, trong đó có một khối lượng mạt cưa khổng lồ từ các xí nghiệp, các cơ sở chế biến gỗ. Đọc báo, xem tivi, tôi thấy ở nhiều nơi người ta đã biết tận dụng các loại rác thải để tái chế hoặc sử dụng làm việc có ích. Là một kỹ sư nông nghiệp tôi thấy mình phải làm gì đây trước những gì mắt thấy tai nghe. Và thế là tôi quyết định học nghề trồng nấm”.

         Cuối năm 1999 kỹ sư Lê Văn Quỳnh bắt đầu khăn gói lên đường “tầm sư học đạo”. Gia đình chắt chiu được đồng nào, bà Dần dồn cả cho chồng lại còn động viên ông: “Mình cố mà học cho tốt rồi về dạy lại cho tôi để tôi và mình cùng làm nấm”. Con đường ông đi không phải là vào Nam mà là ra Bắc, ra Hà Nội, ra với Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. Nơi ấy ông đã có hơn mười năm sinh sống và gần bốn năm học tập thời trai trẻ. Được giáo sư Nguyễn Lân Dũng, giáo sư Dương Đình Đống và nhiều người khác vốn là thầy cũ, bạn cũ trực tiếp truyền đạt kiến thức, ông học một lèo ba tháng về kỹ thuật trồng các loại nấm. Sau ba tháng ở Hà Nội, ông lại xuôi về Thái Bình học thêm một tháng nữa về kỹ thuật chế biến nấm do Hội Nông dân tỉnh Thái Bình tổ chức.

         Trở về quê ông bắt tay ngay vào việc. Ông vận động sáu hộ nghèo trong khu phố, mỗi hộ một người cùng làm nấm với ông. Có nhân công rồi, nhưng vẫn thiếu nhiều thứ. Và cái thiếu nhất vẫn là vốn. Ông làm đơn vay Ngân hàng hai mươi triệu đồng, tiền của gia đình cộng với bạn bè cho vay ba mươi triệu đồng nữa, vậy là ông có chẵn năm mươi triệu đồng, vừa đủ chi phí cho “mẻ” nấm đầu tay. Cả nhà ông bắt đầu lăn lưng ra với nấm, từ chuẩn bị dụng cụ che chắn, giàn kê, tưới tắm cho đến các loại phụ liệu cần thiết như mạt cưa, túi nilong, nút cổ, bông, địu, các loại cám…Rồi mọi thứ cũng hòm hòm đâu ra đó. Chưa đủ điều kiện làm hẳn những gian nhà riêng biệt để trồng nấm, ông đành chấp nhận cho nấm “ở” lẫn với người. Ngôi nhà ông có bốn gian, không rộng lắm, vậy mà vợ chồng, con cái, ông dồn hết cả về một gian, ba gian còn lại ông để trồng nấm. Cả ngôi nhà bếp ông cũng “tận dụng”  ưu tiên cho công việc. Trong nhà ông nơi nào cũng lỉnh kỉnh nhưng bao bì, những giàn gỗ, những xô chậu…Bước chân và xó xỉn nào cũng một mùi hăng hăng, nông nồng, ẩm ướt, khó chịu. Nhưng thời gian thu hoạc nấm cũng đã đến.

         “Vụ đầu này tôi lỗ mất mười lăm triệu đồng!”. – Ông Quỳnh đột ngột nói. “Tính chi ly phải gần hai mươi triệu chứ!”. - Bà Dần nói chen vào. “Sao thế?” – Tôi hỏi. “Chung quy cũng là do mình áp dụng kỹ thuật chưa đến nơi đến chốn.”. – Ông Quỳnh ngậm ngùi trả lời. Để thu hoạch một vụ nấm Linh Chi phải qua chín tháng ròng rã chăm sóc. Nhưng theo như vợ chồng ông Quỳnh cho biết thì trong chín tháng ấy chỉ vất vả nhất, mọi yếu tố kỹ thuật thành công hay thất bại lại tập trung chủ yếu vào tháng đầu tiên. Một quy trình sản xuất nấm Linh Chi phải tuần tự thực hiện đủ các bước. Bắt đầu là việc phơi phong và sàng lọc mạt cưa, sao cho mạt cưa sạch sẽ, khô ráo. Sau đó trộn đều mạt cưa với vôi và nước, ủ trong ba đến năm ngày. Bước tiếp theo là đóng túi, tức là cho mạt cưa vào túi nilong. Xong đâu đó thì dồn cả lại chất thành đống để hấp hơi ở nhiệt độ cao trong vòng mười hai tiếng mới được vớt ra để nguội, mà phải để tới hai mươi tiếng đồng hồ chứ không thể ít hơn. Công đoạn này gọi là tiệt trùng phụ liệu. Xong đâu đó mới cho phép cấy giống vào túi đặt lên giá. Trong tháng đầu, các túi Linh Chi bắt buộc phải nuôi trong phòng tối cho đến khi nào sợi và quả thể của nấm phát triển mới được chuyển sang phòng sáng.  Chu kỳ để nấm phát triển kể từ khi cấy giống cho đến lúc quả thể của nấm nhú ra  khỏi nút cổ vừa tròn trịa một tháng. Tám tháng còn lại là tám tháng chăm sóc, tưới tắm cho đến khi nào nấm trưởng thành thu hoạch được.

         Ông Quỳnh thất bại vụ nấm này không phải ở tám tháng cuối mà là ở ngay tháng đầu, ở đúng vào cái công đoạn tiệt trùng. Đây là công đoạn quyết định thành bại của cả vụ nấm, nhưng ông đã sơ hở trong khâu xử lý nào đó. Mà nói như ông thì có thể là do ông hấp hơi phụ liệu chưa đủ mười hai tiếng, hoặc để nguội phụ liệu chưa đủ hai mươi bốn tiếng. Sai một ly đi một dặm là vậy. Thôi thì cũng coi như bài học để rút kinh nghiệm cho những vụ nấm sau. Và vụ nấm sau thì ông thành công thật, ông đã có lãi hơn hai mươi triệu đồng từ Linh Chi. Vụ này theo như lời bà Dần thì họ đã xử lý kỹ thuật một cách hoàn hảo tất cả các khâu. Thắng lợi tuy chưa phải là lớn nhưng như vậy cũng thu được một món tiền đủ để bù đắp cho vụ trước và trả lương cho nhân công. Mấy năm sau ông liên tiếp thắng liền mấy vụ, mỗi vụ đều lãi hai mươi triệu đồng trở trở lên. Ông bắt đầu xây dựng lều trại làm nấm với diện tích hơn một trăm mét vuông. Rồi ông bỏ tiền ra vào tận Đà Nẵng, Đồng Nai…học thêm về bí quyết làm nấm. Ông sản xuất thêm nấm Sò, nấm Mộc Nhỉ…bán ra thị trường. Cơ sở của ông phải huy động thêm vài chục nhân công nữa mới đáp ứng được công việc.

         Vụ nấm năm 2003 và 2004 ông thắng to với sản lượng lên tới sáu tạ nấm Mộc Nhỉ, trên ba tạ nấm Sò và non nửa tạ nấm Linh Chi. Một điều không ngờ tới, đó là đầu ra vốn lúc nào cũng khiến ông phải thấp thỏm lo âu, canh cánh trong lòng, giờ bỗng như trống dong cờ mở, thuận tiện biết bao. Nấm ông sản xuất ra có bao nhiêu bán hết bấy nhiêu. Riêng với nấm Linh Chi, mặc dù giá cả không thấp như nấm Sò, nấm Mộc Nhỉ…nhưng cũng bán sạch, có lúc không còn để bán. Đôi khi ông phải chịu sự “dỗi hờn” của người quen chỉ vì…thiếu nấm, mà nấm ở đây là nấm Linh Chi. Thì ra cuộc sống bây giờ ngày càng ăn ra làm được, nên người tiêu dùng cũng không ngại gì khi phải bỏ ra một món tiền lớn mua lấy ký Linh Chi dùng cho việc chữa bệnh, phòng bệnh hay bồi bổ cơ thể. Mà phải đâu người xa lạ, toàn người trong huyện trong tỉnh cả. Có những người ở vùng nông thôn, cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng cũng không tiếc tiền khi được biết về công dụng của nấm Linh Chi. Mới hay Linh Chi thật khéo hấp dẫn người dùng, không hổ danh là vị thuốc quý.

         Khi cơ sở sản xuất nấm, đặc biệt là nấm Linh Chi của ông Quỳnh được người ta chú ý đến thì nhiều nhà thuốc Đông y trong và ngoài tỉnh đã đến đây đặt hàng. Và chỉ mới đây thôi, ông Ngô Thanh Nghị, Chủ tịch Liên minh các Hợp tác xã của tỉnh cũng đã đưa đến nhà ông Quỳnh một vị khách. Đó là Lương y Ngô Qúy Thích, một chủ nhà thuốc Đông y nổi tiếng ở Huế. Ông Thích ra gặp ông Quỳnh và có ý định hợp đồng với cơ sở sản xuất nấm của ông mua Linh Chi dài hạn. Nhưng rất đáng tiếc là ông Quỳnh đã không đủ khả năng cung cấp Linh Chi với một số lượng quá lớn như ông Thích yêu cầu. “Tôi  chỉ tiếc là mình đã để tuột khỏi tay một hợp đồng lớn.– Rồi ông thở dài – Nhưng cũng không phải dễ dàng gì lại có thể sản xuất được hàng tấn Linh Chi mỗi vụ như họ yêu cầu được.”. Bà Dần nói như một lời đề nghị: “Giá mà cơ sở của chúng tôi được vay vốn nhiều hơn, lãi suất thấp hơn và chu kỳ cho vay dài hơn thì chắc chắn công việc làm ăn của chúng tôi sẽ thuận lợi hơn nhiều...”.

         Ông Quỳnh nói rằng bây giờ ở thị xã Quảng Trị đã có thêm hai cơ sở sản xuất nấm của chị Hoàng Thị Mai và chị Nguyễn Thị Phàn bước đầu đã cho thu hoạch khá. Họ là hai trong số hàng chục người ở đây được ông …truyền nghề. Tuy nhiên, họ cũng chỉ mới sản xuất được nấm Sò và nấm Mộc Nhỉ, nấm Linh Chi vẫn chưa ai dám làm. Còn gia đình kỹ sư Lê Văn Quỳnh vẫn đều đặn mỗi năm một vụ nấm Linh Chi và tám đến mười vụ nấm Sò, nấm Mộc Nhỉ. Hàng ngày vợ chồng ông lúc nào cũng cặm cụi, tảo tần với nấm. Riêng ông, ngoài công việc làm nấm, hàng tháng ông vẫn phải thỉnh thoảng xa nhà đi đến các huyện thị khác để dạy nghề làm nấm cho bà con nông dân. Và trong năm nay ông cũng có dự định mở thêm hai lớp làm nấm cho bà con nghèo ở thị xã quê ông. Trong khu phố người ta thấy ông lúc nào cũng tất bật ngược xuôi. Nào đâu chỉ phải việc sản xuất, việc làm nấm…mà ông còn phải đảm đương biết bao nhiêu là công việc, từ giữ gìn trật tự trị an đến phong trào của người cao tuổi, hội nông dân…việc gì cũng có ông tham gia, việc gì cũng có ông dốc toàn tâm toàn ý phục vụ. Ở cái Thành Cổ Quảng Trị này ai cũng biết tên ông. Ai cũng quý ông, mến ông bởi người ta thấy ông không chỉ là một người siêng năng, cần cù trong công việc mà ông còn là một người sống mẫu mực, tình nghĩa với láng giềng, bà con chòm xóm.

         Thành Cổ Quảng Trị vào những ngày này thật là đông vui, nhộn nhịp. Người khắp nơi trong cả nước đang đổ về đây thắp hương tưởng niệm cho người đã khuất. Và Thành Cổ hôm nay vẫn đang bươn chải, bộn bề làm ăn. Dọc các đường phố đã có thêm nhiều nhà cao tầng mọc lên, nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ra đời. Đâu đâu cũng rộn ràng tiếng máy, đâu đâu cũng tràn ngập niềm vui. Chỉ có ở đây, bên góc đường Lê Hồng Phong này, nghe có vẻ yên ả hơn, trầm lắng hơn. Ở đấy vừa có một cơ sở sản xuất nấm Linh Chi ra đời, đang ngày ngày âm thầm, lặng lẽ làm ăn. Để rồi mỗi năm, từ cơ sở này, những mẻ Linh Chi, những mẻ thuốc quý lần lượt ra đời. Linh Chi giữa lòng Thành Cổ! Linh Chi mang lại vẻ đẹp cho đời! Và Linh Chi – loài nấm quý, vị thuốc quý ấy đã thực sự góp thêm một chút hương sắc cho Thành Cổ Quảng Trị thân yêu trên con đường dựng xây, đổi mới và phát triển.

N.N.C

 

Nguyễn Ngọc Chiến
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 152 tháng 05/2007

Mới nhất

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Giấc mơ đồng bằng; Về xanh trong gió thơm

26/06/2025 lúc 23:24

Giấc mơ đồng bằng Gọi em đêm qua tôi mơ

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

08/03

25° - 27°

Mưa

09/03

24° - 26°

Mưa

10/03

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground