…Con đường đưa chúng ta lên "chiến khu” - đi theo con đường yêu nước giải phóng quê hương. Ở mỗi người có điểm khác nhau về thời gian và động cơ. Nhưng mục đích, tư tưởng vẫn là con đường yêu nước thương dân và trước hết để giải phóng mình mới theo được lý tưởng cao cả ấy. Con đường của tôi không khác mấy bè bạn, với những người cùng lứa tuổi với tôi, hồi chuẩn bị cướp chính quyền 1945. Ở đây tôi muốn nói "con đường thật", con đường đưa tôi lên chiến khu Quảng Trị khi cuộc kháng chiến mới bắt đầu.
Đầu tháng ba năm 1945, hai anh em tôi đang học ở Huế được anh Trương Công Đồng (sau này là Đại diện Mặt trận Miền Nam Việt
Không khí cách mạng quê hương Gio Linh, rầm rộ khác thường. Người dân đói khổ vì Pháp, Nhật lâu nay, bây giờ có ánh sáng của Đảng vùng lên chưa từng thấy. Nhờ thế, việc cướp chính quyền ở làng tôi thuận lợi. Tôi đang lo việc xây dựng mọi mặt trong xã vì được lệnh trên, chỉ định tôi nhập ngũ vào Vệ quốc đoàn ở Quảng Trị. Đời bộ đội của tôi từ đó với chiếc áo trấn thủ tự may, chiếc ba lô tự tạo, đôi chân đất quen thuộc... cả trung đội tôi có sáu khẩu súng trường cổ lổ sĩ, còn lại dao găm, lựu đạn. Sau tôi được điều lên Ban Tham mưu Trung đoàn Thiện Thuật (Trung đoàn 95) giúp việc cho đồng chí Tùng Lâm. Lúc đồng chí Hùng Việt, từ miền
Từ đây, tôi luôn ở cạnh đồng chí Trung đoàn trưởng Hùng Việt. Ở gần, tôi mới thấy hết nghị lực làm việc, tài năng chỉ huy và lòng dũng cảm vô song của Anh. Từ khi nhận công tác tại một mặt trận quan trọng, Anh chưa lúc nào rời trận tuyến (từ Rào Quán - Khe Sanh đến những nơi trọng yếu khác). Bộ đội mến yêu Anh, coi Anh như người cha thân thương. Vì thế mệnh lệnh Anh phát ra được chấp hành tuyệt đối. Quân giặc từ Lào tiến theo đường 9 bị đánh tan ở nhiều nơi, không sao tiến được. Đặc biệt, với địa đạo "bạt núi, lấp sông" ở Rào Quán làm giặc Pháp chết hàng trăm tên một lúc. Khi mặt trận Huế vỡ, Anh đã tập hợp thêm lực lượng phía
Giữa lúc này, mặt trận bộ đã chuyển về phía Bắc sông Sãi, Anh với một số nhỏ cán bộ bên cạnh, chờ giặc ở Tỉnh lị Quảng Trị. Trong đêm mười hai tháng hai năm 1947, Anh họp anh em phụ tá ở trụ sở Công sứ cũ, giao nhiệm vụ cụ thể, rồi Anh ngồi kể chuyện bản thân và gia đình cho chúng tôi nghe: Anh vốn là công nhân mỏ than Uông Bí hoạt động cách mạng tích cực, nhiều lần bị bắt. Tiền khởi nghĩa anh vào đội tuyên truyền giải phóng quân, sau cách mạng tháng Tám (1945) anh vào chỉ huy mặt trận Cực
Ra đến Vinh hôm sau bằng xe lửa, đúng vào lúc thành phố Vinh chủ trương phá hoại triệt để. Nhận được tài liệu ngay giữa thành phố Vinh sắp bị phá trụi, tôi tranh thủ chuyến xe lửa cuối cùng vào
Ngày mười sáu tháng hai, sau khi ghé nhà thăm mẹ tôi được mười phút (lần cuối cùng được gặp gia đình) tôi cấp tốc cuốc bộ vào Mặt trận Quảng Trị đúng lệnh của anh Hùng Việt. Qua bờ
cơm cho bộ đội. Gặp một cán bộ tôi quen, hỏi thăm vị trí đóng quân của Trung đoàn, anh nói:
-Trung đoàn đã trở lại phía sau lưng địch. Tiểu đoàn nào cũng bám địa bàn từng huyện như trước khi giặc tới.
- Thế ở đây?
- Đây chỉ là Ban hậu cần!
Tôi mừng hụt. Tôi xin nhận một gói cơm nắm với mấy con cá khô, vừa ăn vừa chạy ra Hà Thượng, nơi Trung đoàn bộ đóng. Đến nơi, được biết anh Hùng Việt đang ở chiến tuyến Sòng. Ở chỉ huy sở còn anh Chính trị viên Trần Sâm với vài ba cán bộ. Tôi định cấp tốc lên chiến tuyến, thì phía dưới đồi trước chỉ huy sở, anh Hùng Việt đang phóng ngựa trở về. Thấy tôi anh mừng, nói luôn: "ăn cơm đã rồi làm việc luôn". Tôi tuân lệnh, ngồi vào "bàn ăn". Bàn ăn là một chiếc nong trải ngay sân nhà ông Quê. Quanh mâm, chỉ có bốn người: Anh Hùng Việt, Anh Sâm, anh cấp dưỡng và tôi. Đang ăn thì phía cổng có người xin vào gặp Trung đoàn Trưởmg. Một cán bộ đến xin duyệt ngân sách gì đó. Xem xong, anh Trần Sâm trả lời: chưa có tiền. Nghe đến tiền anh Hùng Việt vừa cười vừa rút trong túi lấy một tờ truyền đơn của địch đưa cho anh Sâm: “Tiền đây nầy” rồi Anh lại cười ha hả. Mọi người đều cười theo, vì đã biết địch treo giá 2.000 đồng Đông Dương, nếu ai giết được anh Hùng Việt. Chúng tôi thấy anh vui đùa, càng thương anh, càng phục anh, càng tự hào có một người chỉ huy làm kẻ thù khiếp vía.
Lại có tin báo: Hai du kích Long Hưng đã diệt gọn chiếc xe tên Công sứ Quảng Trị đến nhận chức mới sau khi chúng chiếm tỉnh lị Quảng Trị. Anh Hùng Việt gọi hai người vào, Anh vừa ăn cơm vừa động viên cổ vũ những người du kích Long Hưng. Họ xin thêm vũ khí trở về lập chiến công mới. Anh sai người đi lấy hai quả bom để tặng họ, vừa lúc chúng tôi ăn xong đã trở về nơi làm việc. Tôi theo anh Sâm lên ở một ngôi nhà dân chỗ làm việc của anh. Ngôi nhà này nằm trên cao, sàn nhà trên ngang nóc nhà dưới. Đang soạn tài liệu chuẩn bị trình với Trung đoàn Trưởng, thì bỗng một tiếng nổ vang trời, hất tôi ngã dúi xuống đất, mặt đập vào thành bàn, khói bụi mù mịt. Mấy phút sau tỉnh lại, tôi thấy mặt mình chảy máu, anh Sâm chạy vội đến nơi có tiếng nổ, tôi chạy theo. Ngay giữa nong cơm, ba người còn nằm sóng soài trong vũng máu, đất đá phủ đầy. Trong ba người, anh Hùng Việt gẫy hai tay và thân mình bị phá nát nhưng còn nói được: "Ơi giời ơi?". Thế rồi anh vĩnh biệt chúng tôi ngay giữa hai cánh tay anh Sâm. Tối hôm đó, nhân dân tự động lấy quan tài trong nhà đem đến khâm liệm cho ba chiến sĩ hy sinh vì nhiệm vụ. Vì một phút bất ngờ trong thao tác trái bom đã cướp ngòi nổ, Anh đã hy sinh một cách oan uổng. Trước ba chiếc quan tài, hôm đó, chúng tôi tiễn biệt các anh y như chia tay ba người đi làm nhiệm vụ mới. Đồng chí Trần Xuân Miền đã giúp Đảng uỷ Trung đoàn thực hiện việc mai táng ba đồng chí với dự kiến: kẻ xấu có thể đào thi thể của anh Hùng Việt đem nộp cho Pháp lấy thưởng. Vì vậy khi khâm liệm, chiếc quan tài sơn màu đỏ không phải là quan tài của Anh. Một trong hai quan tài không sơn nằm hai bên quan tài màu đỏ mới là quan tài anh Hùng Việt. Khi mai táng, không để anh nơi khu mộ làng, mà bí mật chuyển ra phía Bắc sông Bến Hài (Vĩnh Linh). Nhờ vậy, thi thể anh, sau 50 năm chiến tranh vẫn bảo tồn được để gia đình dời về quê. Hôm dời mộ Anh, bà con Gio Linh vẫn xin giữ lại phần ngôi mộ ở trong Nghĩa trang Hồ Xá, nằm chung với những bậc hoạt động lão thành ở địa phương.
Thực hiện đúng lời chỉ thị của anh Hùng Việt, tôi chuyển toàn bộ đồ bản cho anh Sâm, người thay thế Trung đoàn trưởng. Nhiệm vụ hoàn thành, tôi được biểu dương và được vinh dự kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam sau khi anh Hùng Việt mất. Khóa ấy là khóa đầu tiên lên chiến khu, gọi là khóa Hùng Việt.
Biến đau thương thành hành động cách mạng, các đơn vị đều có đại diện về viếng Anh. Trước linh cửu Anh, các đơn vị hứa giết giặc lập công, giữ vững vùng chiến lược, bảo vệ cơ quan đầu não. Trung đoàn giao cho chúng tôi nhiệm vụ mới. Anh Tài, anh Chất và tôi cùng ở tòa soạn báo “NGƯỜI LÍNH" bắt đầu số I, sau cái chết đau thương của anh Hùng Việt.
Một số Tiểu đoàn 13,14... chuyển về sau lưng địch ổn định vị trí, Trung đoàn bộ (đầu não lực lượng vũ trang của tỉnh) cùng các cơ quan khác thuộc Đảng, Chính, Dân... rút lên chiến khu, tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến trên đất Quảng Trị. Cuộc rút lui cuối cùng của Trung đoàn Thiện Thuật vào giữa tháng 3 năm 1947. Từ Hà Thượng qua sông Sa Lung, vượt Quảng Xá, Thủy Ba lên đóng tại Đồi 300. Ban tòa soạn "NGƯỜI LÍNH" chúng tôi, vừa hành quân, vừa in báo bằng bảng đá li tô. Mỗi khi im tiếng súng địch, chúng tôi dừng lại bên đường. Người mang bảng đá chỉ quỳ sấp xuống, người in cứ lăn mực để giấy lên in. In xong ít tờ, lại phải hành quân tiếp dưới làn súng địch ngay sau lưng. Cứ thế, con đường lên chiến khu của chúng tôi cứ kéo dài trong hai ngày giữa tháng ba năm đầu kháng chiến chống Pháp (1947). Đến cao điểm 300 (Vĩnh Linh) chưa được năm ngày, máy bay địch đến ném bom. Cuộc chiến dấu tiếp diễn. Rồi từ Ken Táng đến Khe Mít, từ Khe Mít qua Khe Xanh... cho đến giữa năm 1948, Trung đoàn bộ chuyền về Hòn Linh, Bợc Lỡ, cuối cùng về chiến khu Ba Lòng với đôi bờ sông đầy chiến tích, nơi để lại trong đời tôi những kỷ niệm không thể nào quên.
Tuổi trẻ của tôi cùng đồng chí đồng đội gắn liền với rừng núi của quê hương...
Huế, tháng 3 năm 1996
T.T.T





