Trong tiến trình phát triển của vương quốc Champa, địa bàn tỉnh Quảng Trị có vị trí chiến lược hết sức quan trọng. Đây là vùng đất gắn liền với sự hình thành vương quốc Champa, là vùng giáp ranh giữa Champa - Trung Hoa, Champa - Đại Việt trong lịch sử. Vị thế địa - chính trị đó có ảnh hưởng không nhỏ đến đặc trưng các di tích, di vật văn hóa Champa ở khu vực này.
Với giá trị nghệ thuật đặc biệt, di tích, di vật văn hóa Champa ở Quảng Trị luôn là những địa chỉ hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước, của các cơ quan quản lý, chính quyền và nhân dân địa phương. Nhiều di sản văn hóa Champa nơi đây đang được tiếp tục trân trọng giữ gìn, phát huy giá trị, thậm chí gắn bó sâu đậm với đời sống tâm linh của nhân dân địa phương. Tuy nhiên, do sự tác động của thời gian, lịch sử, con người và sự khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên mà phần lớn các di tích, di vật Champa ở đây đã trở thành phế tích hoặc bị lãng quên, thậm chí có nguy cơ bị phân tán, mất mát, hoặc mặc dù được quản lý, giữ gìn nhưng ít phát huy giá trị, nhất là trong hoạt động du lịch.
Xuất phát từ thực tế đó, việc nghiên cứu tổng thể và xác định tiềm năng, giá trị di sản văn hóa này trong hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Trị là một việc làm cần thiết và cấp bách. Bởi vậy, ở đây chúng tôi muốn giới thiệu tổng thể bức tranh di sản văn hóa Champa ở Quảng Trị cùng các giá trị đặc trưng của di sản văn hóa này và đề xuất các giải pháp nhằm phát huy giá trị của nó trong hoạt động du lịch.
Khái quát về văn hóa Champa ở Quảng Trị
Ở Quảng Trị, văn hoá Champa tồn tại dưới nhiều dạng thức khác nhau, nhưng nhìn chung, tập trung vào các loại hình tiêu biểu đáng chú ý là đền tháp, thành luỹ, hệ thống các công trình khai thác nước và mộ táng.
Trước hết, ở Quảng Trị theo thống kê của ông Lê Đức Thọ - Giám đốc ban quản lý di tích và danh thắng tỉnh, hiện còn lưu giữ gần 30 phế tích thuộc dạng đền tháp. Những di tích này có ở Duy Viên (xã Vĩnh Lâm), Nam Sơn, Huỳnh Xá (xã Vĩnh Sơn), thuộc huyện Vĩnh Linh; An Xá (xã Trung Sơn), Phường Sỏi (xã Gio Phong), Hà Trung (xã Gio Châu) thuộc huyện Gio Linh; Kim Đâu (xã Cam An), Định Xá, Lâm Lang (xã Cam Hiếu) thuộc huyện Cam Lộ; Trương Xá (phường 4), Đông Hà (Phường 3) thuộc thành phố Đông Hà Trâm Lý (xã Hải Quy), Trà Lộc (xã Hải Xuân), Câu Hoan (xã Hải Thiện), Trung Dân (xã Hải Thành), Trường Sánh (xã Hải Trường) thuộc huyện Hải Lăng; Thạch Hãn (phường 2) thuộc thị xã Quảng Trị); Dương Lệ, Võ Thuận (xã Triệu Thuận), Trà Liên (xã Triệu Giang), Ngô Xá (xã Triệu Trung), Bích La (xã Triệu Đông), Nhan Biều, Đa Nghi (xã Triệu Thượng), Quảng Điền (xã Triệu Đại), Phương Sơn, Thượng Trạch (xã Triệu Sơn) thuộc huyện Triệu Phong. Các địa điểm di tích này được gọi tên theo địa danh của các làng. Một vài nơi khác như An Lộng, Bích Khê, Đại Hào, Liêm Công... được các nhà nghiên cứu người Pháp lưu ý đầu thế kỷ XX nhưng nay đã không còn dấu vết.
Do những biến động mạnh mẽ và thường xuyên của các điều kiện tự nhiên, xã hội nên cho đến nay, tất cả các địa điểm mang dấu tích đền tháp kể trên chỉ còn tồn lưu dưới dạng phế tích với những cồn đất mang các tên gọi như Cồn Giàng, Lùm Giàng, Lòi Giàng...; với các đống gạch vụn nát, các thành phần kiến trúc, các phù điêu về các vị thần Chăm nằm ngổn ngang và bên trên đó thường là những ngôi miếu thờ của người Việt.
Địa bàn phân bố của các đền tháp nằm rải rác khắp nơi từ vùng ven biển lên tận vùng đồi trung du, nhưng mật độ nhiều nhất vẫn là ở đồng bằng - nơi nguyên là những làng cổ Chăm. Cũng như các nơi khác trong lãnh thổ của vương quốc Champa, đa số các đền tháp ở Quảng Trị thường được dựng trên những mô đất cao vùng gò đồi hay ven triền các cồn cát. Một số khác dù nằm giữa vùng đồng ruộng (như tháp Kim Đâu, Trung Đơn, Ngô Xá, Bích La, Quảng Điền) thì địa điểm tọa lạc đều ở các cồn đất. Quy mô các đền tháp Chăm ở đây thường có kích thước vừa và nhỏ, ít có những khu đền tháp lớn, tập trung với những ngôi tháp đồ sộ, uy nghi như Mỹ Sơn, Đồng Dương,...
Về thành lũy, trên toàn địa bàn tỉnh Quảng Trị qua những cứ liệu thực tế và sự lưu truyền trong dân gian cho thấy hiện có hai địa điểm liên quan đến những công trình kiến trúc thành lũy mà cho dù trải qua thời gian đã trở nên hoang phế, nhưng vẫn còn để lại những vết tích đáng tin cậy. Đó là địa điểm Bến Lũy thuộc làng Cổ Lũy, xã Vĩnh Giang, huyện Vĩnh Linh và địa điểm nằm ở phía Tây nam khu chợ Thuận thuộc làng Vệ Nghĩa, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong.
Đây chính là hai tòa thành được gọi theo hai tên: thành Cổ Lũy (gọi theo tên địa danh) và thành Thuận Châu (gọi theo cách hiểu là thành cũ của châu Thuận). Thành Cổ Lũy và thành Thuận Châu đều được xây dựng trên vùng đồng bằng ven biển, gần các con sông chính trong vùng là sông Bến Hải/Hiền Lương (sông Hồi/sông Minh Lương) và sông Thạch Hãn, đặc biệt là gần hai cửa biển: Cửa Tùng (cửa Tùng Luật), Cửa Việt (cửa Việt Yên) nhằm tạo ra tại những nơi này các lỵ sở hành chính gắn kết với các thị tứ để vừa thiết lập nên trung tâm chính trị, đồng thời làm nhiệm vụ trấn giữ những địa bàn xung yếu ven biển.
Đặc biệt, hệ thống các công trình khai thác nước cổ ở Quảng Trị rất phong phú và đa dạng theo sự tác động của điều kiện địa hình. Nếu không tính các công trình thuộc sản phẩm riêng biệt của người Việt giai đoạn sau này, thì hệ thống khai thác nước cổ, bao gồm các loại hình với các đặc điểm sau đây:
- Hệ thống các công trình khai thác nước gồm nhiều thành phần cấu trúc phức tạp, liên hoàn, đa hình dạng, đa chức năng, nằm ven các triền đồi đất đỏ bazan hoặc ven các triền đồi cát vùng đồng bằng và ven biển để khai thác mạch nước nổi (phun lộ thiên hay phun ngầm). Hệ thống này bao gồm những công trình mang tính chất “dẫn thủy nhập điền” có vai trò thủy lợi cao, được nhân dân các địa phương quen gọi là giếng: giếng Bà, giếng Ông, giếng Lợi, giếng Gai, giếng Kình, giếng Đào, giếng Côi, giếng Dưới, giếng Trạng, giếng Máng, giếng Tép, giếng Pheo, giếng Đàng, giếng Mới...
- Hệ thống các giếng đơn mang hình ảnh của loại giếng khơi được đào sâu xuống dưới mặt đất để khai thác mạch ngầm. Chức năng của hệ thống này chỉ thuần túy lấy nước dùng cho sinh hoạt và hoàn toàn không bao hàm ý nghĩa về thủy lợi. Cấu trúc của loại giếng này có hình vuông hoặc tròn, xếp đá gốc (như các giếng Thồ Lồ làng Tùng Luật, giếng Làng làng Nghĩa An...) hay những phiến đá chế có kích thước lớn, được đục đẽo công phu xếp theo kỹ thuật đơn giản (như giếng Tây, giếng Tô làng Lâm Xuân), hoặc có khi lại được gắn kết bởi kỹ thuật xẻ ngoạm, khớp mộng chốt giữa các phiến đá với những trụ đá (hoặc trụ gỗ) kè 4 góc; lại có khi kết hợp vừa xếp đá ong chế, vừa kè chắn bởi các tấm đá phiến có kích thước lớn được tạo dáng đẹp ở quanh vách (như giếng Đá làng Kim Đâu, giếng đá làng Cẩm Thạch, làng An Xuân); các giếng nửa đá, nửa gạch (trên xếp gạch, dưới kè đá hay dưới xếp gạch trên kè đá) dưới đáy có lát gỗ (như giếng Xóm làng Bích Khê, giếng Chùa làng Đại Hào, giếng Chợ ở chợ Thuận), hoặc chỉ xếp bằng gạch (như giếng Gạch làng Hà Trung)...
Những công trình khai thác nước thuộc hai hệ thống này trải qua thời gian có một số đã trở nên hoang phế, một số khác đã được cải tạo lại để phù hợp với nhu cầu của nhân dân địa phương, nhưng nhìn chung chúng đều là những giếng có mạch nước trong vắt, dưới chân các triền đồi. Quanh năm suốt tháng, các giếng này không bao giờ cạn. Đó là những công trình phục vụ đắc lực cho sinh hoạt của con người và sản xuất nông nghiệp.
Sau nữa, ở Quảng Trị hiện nay còn lưu giữ nhiều vò gốm, sành, bán sứ ở nhiều nơi thuộc địa bàn Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng. Những địa điểm phát hiện loại di vật này thường nằm trên (hoặc ven) các cồn cát, xung quanh các khu vực nguyên là các vùng cư trú của người Chăm xưa. Trong số những chiếc vò đã được phát hiện có nhiều loại với kích cỡ, chất liệu khác nhau. Có vò thuộc dạng gốm đất nung, xương gốm thô, độ nung thấp, không men, màu đỏ hoặc nâu đỏ vốn là loại gốm Chăm đặc trưng. Những chiếc vò này có khi được chôn lẻ tẻ, nhưng thường được chôn tập trung thành từng cụm có từ 2 - 5 chiếc; bên trong có các vết tích than tro, đồ kim loại, đồ gốm, đá... Những chiếc vò hay cụm vò (đa dạng về chất liệu, kỹ thuật chế tác, hoa văn trang trí, đôi khi có chứa những hiện vật gốm, kim loại, than tro) có mặt ở hầu khắp địa bàn tỉnh Quảng Trị cũng như nhiều nơi khác ở miền Trung.
Bên cạnh số di vật về mộ táng, người Chăm đã để lại trên địa bàn tỉnh Quảng Trị nhiều tác phẩm điêu khắc đá với trình độ nghệ thuật tuyệt vời và độc đáo. Đó là những mảng phù điêu, các bộ phận trang trí được gắn trên các đền tháp hoặc các bệ thờ, đài thờ đặt trong lòng tháp. Đặc biệt là những pho tượng về các vị thần, biểu tượng mang tính chất tôn giáo được người Chăm tôn vinh trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của mình. Từ những mô tip hoa văn trang trí đơn giản cho đến những mảng phù điêu phức tạp mang nhiều chủ đề hay những pho tượng có kích thước lớn, đều được các nghệ nhân thể hiện một cách sống động bằng một kỹ thuật chạm khắc đá điêu luyện.
2. Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa Champa ở Quảng Trị
- Tiềm năng về giá trị lịch sử
Sự phân bố các công trình kiến trúc, đền tháp, thành lũy, điêu khắc, bia ký… ở khắp các vùng đất Quảng Trị đã chứng minh đây là một trong những vùng tụ cư của người Chàm và là một trung tâm phía bắc của tiểu vương quốc Champa. Việc phát hiện nhiều các di tích thành lũy ở Quảng Trị có niên đại từ rất sớm, khoảng thế kỷ II-III, cũng như nhiều di sản văn hóa Chăm trên vùng đất này đã minh chứng dải đất từ Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế là một trung tâm lớn của tiểu vương quốc cực bắc Champa trong lịch sử. Văn hóa Champa ở Quảng Trị đã góp phần tạo nên tổng thể diện mạo kinh tế, văn hóa, xã hội của vương quốc Champa cổ đại. Để rồi từ đó, cùng với sản phẩm lúa chiêm, hạt mè, những hương liệu quí như gỗ trầm, xạ hương, long não, cũng như nhiều dòng họ người Việt gốc Chăm: Ông, Ma, Trà, Chế,… và nhiều làn điệu dân ca ở miền Trung… là kết quả của một thời kỳ cộng cư của người Việt với người Chăm trên vùng đất này. Rõ ràng văn hóa Champa ở Quảng Trị đã mang trong mình một giá trị lịch sử, là những pho sử sống động minh chứng một thời kỳ tồn tại khá cực thịnh của vương quốc Champa ở vùng cực bắc và là một sự kết hợp hài hòa, mềm dẻo, khôn ngoan của người Việt trên nền di sản văn hóa Champa về tất cả mọi lĩnh vực văn hóa vật chất lẫn tinh thần, để làm đa dạng, phong phú vốn liếng di sản một vùng văn hóa Quảng Trị. Giá trị lịch sử đó của văn hóa Champa cần phải được giữ gìn và phát huy trong các hoạt động du lịch hiện nay trên vùng đất này.
- Tiềm năng về giá trị nghệ thuật
Khi nói đến giá trị nghệ thuật của văn hóa Champa trên dải đất Quảng Trị, chúng ta phải đề cập đến nghệ thuật kiến trúc thành lũy, đền tháp và nghệ thuật điêu khắc. Nói đến nghệ thuật kiến trúc thành lũy Champa là nói đến những công trình kiến trúc được xây dựng ở những vị trí xung yếu, gần cửa sông, cận biển hoặc ngã ba sông, lấy sông làm trục chính và thường nằm ở bờ nam sông. Thành lũy của người Chăm thể hiện rất rõ nghệ thuật lợi dụng tối đa địa hình đắc địa của tự nhiên nhằm tăng cường tính phòng thủ của tường thành và hào lũy.
Còn khi nói đến nghệ thuật kiến trúc đền tháp Champa là nói đến một tác phẩm nghệ thuật toàn bích: chân, thiện, mĩ như nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định. Chân là sự hiện hữu bằng vật chất và cấu trúc của ngôi đền; thiện là hình tượng chư thần được thể hiện và thờ phụng tại ngôi đền; mĩ là vẻ đẹp hoàn hảo về kiến trúc của ngôi đền. Phải nói rằng nghệ thuật đền tháp Champa không chỉ mang một giá trị tâm linh, là một trung tâm vũ trụ thu nhỏ của đời sống tôn giáo cư dân Champa mà còn là một giá trị nghệ thuật kiến trúc đặc sắc về cảnh quan, về chất liệu xây dựng đền tháp bằng gạch đất nung, về kỹ thuật kiến trúc, về hình dáng đền tháp,… Mặc dù cho đến nay, kỹ thuật xây dựng đền tháp Champa vẫn còn là ẩn số, nhưng những giá trị nghệ thuật đặc sắc của loại hình nghệ thuật này là điều đã được khẳng định.
Đặc biệt, giá trị nghệ thuật của văn hóa Champa được thể hiện rõ nét ở nghệ thuật điêu khắc đá “người Chàm đẽo đá như đẽo gỗ”, với những loại hình phù điêu, tượng thần voi, sư tử, chim thần Garuda, vũ nữ Apsara, thần Vishnu, thần Shiva,… Bằng tài năng điêu khắc tuyệt vời, các nghệ nhân Champa cổ đã biết đánh thức những tảng đá vô tri vô giác thành một tác phẩm nghệ thuật sinh động trong nhận thức tâm linh tôn giáo kỳ bí. Những tác phẩm điêu khắc đá Champa không chỉ lưu giữ yếu tố hồn thần bí mà còn toát lên vẻ đẹp cường tráng đầy sinh lực thể hiện sự thăng hoa và khát vọng vươn đến các giá trị chân - thiện - mĩ của các nghệ nhân Champa. Các tượng đá ở đây có kích thước trung bình, gọn gàng, đường nét mền mại, không cứng nhắc, gò bó. Ở các phù điêu có nội dung liên quan đến các truyền thuyết Ấn Độ giáo, nghệ nhân khắc họa hình ảnh nhiều nhân vật trong một không gian hẹp nhưng vẫn không rối rắm, bố cục cân xứng, góp phần làm cho tác phẩm thêm sinh động.
- Tiềm năng về giá trị tâm linh
Có thể nói, hệ thống các di tích Champa trên dải đất Quảng Trị còn mang trong mình một giá trị tâm linh sâu thẳm. Điều này được minh chứng qua hệ thống đền tháp, nơi vừa là kiến trúc lăng mộ vừa là nơi thờ phụng các vị thần; đền tháp trở thành một thánh địa thiêng liêng để người dân đến hành hương, lễ bái hàng ngày. Đi liền với đền tháp là các tác phẩm điêu khắc đá mang nội dung tâm linh tôn giáo rất đa dạng. Đó là biểu tượng các vị thần linh, các linh vật như Nandin, linga, yoni,… Các đền tháp, các tác phẩm điêu khắc Champa thể hiện một cách đa dạng tính thiêng tôn giáo, và hiện nay ở đâu còn tồn tại những đền tháp điêu khắc Champa, mặc dù dưới dạng phế tích, là ở đó cư dân lập chùa, đền miếu thờ phụng. Ví dụ như miếu thờ thần ở giếng Ông ở làng Hảo Sơn, Gio Linh, miếu thờ khu đền tháp Dương Lệ, Triệu Phong, miếu thờ ở tháp Đông Hà... Hầu hết các đền miếu này trong tâm thức của người dân địa phương là những chốn rất linh thiêng và được họ thờ phụng rất tôn kính.
3. Giải pháp phát huy giá trị văn hóa Champa ở Quảng Trị trong hoạt động du lịch
Trong thời gian gần đây, việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Champa đặc biệt trong lĩnh vực du lịch đã được sự quan tâm của chính quyền các địa phương, nhưng nhìn chung, việc trùng tu bảo quản di sản văn hóa này trên vùng đất Quảng Trị còn gặp không ít khó khăn. Đặc biệt, việc phát huy giá trị di sản văn hóa Champa trong lĩnh vực du lịch ở các địa phương này cũng gặp rất nhiều trở ngại, bởi vậy việc tìm ra những giải pháp để biến tiềm năng di sản văn hóa Champa thành sản phẩm du lịch là một việc làm cần thiết; theo chúng tôi các giải pháp đó là:
Thứ nhất, tổng kiểm kê, đánh giá di sản
Để thực hiện giải pháp này, chúng ta cần phải tiến hành khảo sát, khảo tả các di sản văn hóa Champa hiện còn trên địa bàn, từ đó làm cơ sở cho việc quy hoạch tổng thể các di tích, di vật Champa ở đây. Công việc này phải được tiến hành đầu tiên nhằm đánh giá tiềm năng, thực trạng các hiện vật. Cách tốt nhất là điều tra theo phiếu di vật, với các nội dung cụ thể: Tên hiện vật, nguồn gốc/xuất xứ, số đăng ký (nếu có), chất liệu, hiện trạng, loại hình, kích thước, nơi lưu giữ hiện tại (địa chỉ hành chính và tọa độ GPS), niên đại, khảo tả, bản ảnh, bản vẽ (nếu có). Công việc đòi hỏi nhiều thời gian, sự kiên trì, kinh phí thực hiện, đặc biệt cần có sự phối hợp của các cơ quan trong và ngoài nước.(1)
Thứ hai, trùng tu tôn tạo và bảo vệ di tích
Phát triển du lịch phải gắn với việc bảo tồn và tôn tạo các di tích. Đó là định hướng đúng đắn để có thể phát triển du lịch một cách bền vững. Trên thực tế, đa phần các di tích văn hóa Champa ở Quảng Trị đều ở dạng phế tích, vì thế việc khôi phục để trả về nguyên trạng của chúng là hết sức khó khăn. Vấn đề đặt ra cho các nhà khoa học là phải gắn việc trùng tu với bảo tồn tuyệt đối giá trị lịch sử của di tích, ưu tiên giữ gìn yếu tố gốc của di tích, chú ý sử dụng các giải pháp gia cố và tái tạo định vị. Có như thế chúng ta mới cứu vãn và gìn giữ các di tích, không làm biến dạng chúng. Bên cạnh đó, có thể sử dụng thêm một số giải pháp khác để trùng tu tôn tạo các di tích. Chẳng hạn, đối với các thành lũy cổ nên có kế hoạch bảo tồn và chọn gia cố một số diện tích tiêu biểu để khách du lịch có thể hình dung được cấu trúc, phương thức xây dựng trên một mặt cắt điển hình. Hoặc như đối với các tác phẩm điêu khắc, bia ký, chúng ta nên thu thập những hiện vật còn nằm rải rác ở các địa phương trên địa bàn về các bảo tàng, hay lập những khu di tích để các thế hệ hôm nay và mai sau có thể thăm thú, tìm hiểu và nghiên cứu. Hay, ở hiện trường khai quật một số di tích, chúng ta thường chỉ chú trọng việc bảo quản hiện vật mà bỏ quên khu vực khai quật, khiến chúng trở nên hoang phế, ít thu hút khách tham quan. Vì thế, nên chăng cần có xu hướng bảo tồn tại chỗ một số khu di tích Champa, biến chúng thành một bảo tàng ngoài trời.
Bên cạnh đó, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý di sản và các doanh nghiệp du lịch nhằm vừa bảo tồn, vừa khai thác có hiệu quả các di sản là tài nguyên du lịch. Phải làm sao để du khách đến với các di tích văn hóa Chăm là có thể cảm nhận, chiêm nghiệm được những giá trị lịch sử, nghệ thuật văn hóa to lớn của các di tích, chứ không phải là tham quan những phế tích hoang tàn. Vì vậy, bên cạnh việc chú ý xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, cần xây dựng phòng trưng bày ảnh hiện vật, phòng chiếu phim giới thiệu di tích, di vật văn hóa Champa… để du khách được trang bị những hiểu biết ban đầu về hình ảnh di tích, di vật, trước khi tiếp xúc trực tiếp với chúng.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực
Về nguồn nhân lực, trước hết phải đào tạo đội ngũ cán bộ hướng dẫn viên du lịch có kiến thức chuyên môn về lịch sử, văn hóa Champa. Cụ thể, các hướng dẫn viên phải hiểu biết đầy đủ và sâu sắc về lịch sử và văn hóa vương quốc Champa nói chung và lịch sử, văn hóa của từng di tích, di vật văn hóa Champa còn lưu giữ trên địa phương mình. Vì rằng du lịch các di sản văn hóa Champa thuộc về loại hình du lịch nghiên cứu khám phá, nên hoạt động lữ hành và hướng dẫn du lịch cần phải có kiến thức sâu rộng về văn hóa Champa. Kiến thức sâu rộng đó không chỉ học hỏi trong tài liệu sách báo mà còn phải được tiếp nhận trực tiếp từ các nhà nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực văn hóa Champa và qua các cuộc hội thảo, hội nghị chuyên đề về di sản văn hóa Champa.
Thứ tư, về tổ chức qui hoạch du lịch
Trên cơ sở tổng kiểm kê qui hoạch di sản văn hóa Champa, cần xây dựng những biện pháp cụ thể để biến di sản văn hóa thành sản phẩm du lịch văn hóa Champa với qui trình 5 bước: Tổng kiểm kê di sản - Đánh giá giá trị du lịch của từng di sản - Trùng tu phục hồi bảo quản di sản - Thiết kế xây dựng tour du lịch di sản - Tổ chức quảng bá, maketting tour du lịch di sản văn hóa Champa, hoặc lồng ghép với các tour du lịch khác. Thực hiện được như vậy, chúng ta mới có thể chuyển tiềm năng giá trị di sản thành sản phẩm du lịch di sản văn hóa Champa.
Thứ năm, xây dựng các tour du lịch di sản văn hóa Champa
Để thực hiện giải pháp này, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch ở địa phương và các Công ty du lịch cần tiến hành nghiên cứu, thiết lập các tour du lịch đến các di tích Champa và các nơi có trưng bày hiện vật Champa (Bảo tàng và các địa điểm lưu giữ/thờ tự hiện vật Champa trong các làng xã). Tất nhiên trong quá trình thực hiện, cần có sự phối hợp giữa chính quyền, nhân dân và nhất là với các công ty kinh doanh du lịch.
Thứ sáu, xã hội hóa hoạt động du lịch di sản văn hóa Champa
Để thực hiện giải pháp này, chúng ta cần đẩy nhanh tiến trình xã hội hóa việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Champa. Phải làm cho cán bộ và quần chúng hiểu rõ đây là tài sản quý giá của cả dân tộc, cần phải có thái độ trân trọng, bảo tồn di sản đó. Khuyến khích các tổ chức xã hội, các tổ chức quần chúng và cả tư nhân hay nói đúng hơn là cả cộng đồng tích cực tham gia vào việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa Champa trên địa bàn. Đồng thời, “Chính phủ cần ban hành luật, các nghị định nhằm giảm bớt các tác hại của thiên nhiên và con người đến di sản”. (2)
Như vậy, lần theo những dấu ấn vật chất còn lưu tồn dưới mọi hình thức, bước đầu chúng ta có thể hình dung được một bức tranh toàn cảnh tương đối đầy đủ về hệ thống di tích lịch sử, văn hóa mà một bộ phận cư dân Champa trong quá trình tồn tại đã để lại trên vùng đất Quảng Trị. Cho dù còn nhiều vấn đề phải được nghiên cứu, nhìn nhận lại một cách thực sự nghiêm túc, khoa học mới mong tiếp cận gần hơn với sự thật lịch sử; song, sự tiềm tàng về số lượng, phong phú về loại hình, đa dạng về tính chất và nội dung - đặc biệt là sự hiện diện của các công trình khai thác nước mang nhiều dáng vẻ đặc thù, riêng biệt và độc đáo - đã không chỉ phản ánh sinh động những giá trị tinh hoa văn hóa Champa, mà còn góp phần làm giàu thêm vốn di sản của vùng đất Quảng Trị nói riêng, cả nước nói chung. Tiềm năng di sản văn hóa Champa đó phải được Kiểm kê - Đánh giá giá trị du lịch - Trùng tu phục hồi - Thiết kế xây dựng tour du lịch - Tổ chức quảng bá, maketting, để biến tiềm năng du lịch di sản văn hóa Champa thành sản phẩm du lịch văn hóa Champa trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
Làm được điều đó, là chúng ta đã “đánh thức tiềm lực - tiềm lực kinh tế to lớn của văn hóa Chăm”. (3)
N.V.M
____________
- Chú thích:
(1) Trong thực tế, có nhiều hiện vật điêu khắc Champa của tỉnh này nhưng hiện đang được lưu giữ ở tỉnh khác.
(2) Phát biểu của ông Chu Silk Lee, đại diện UNESCO tại Việt Nam, tại hội nghị tập huấn “Lập bản đồ và thống kê di sản văn hoá Chăm tại Việt Nam”, Cục Di sản (Bộ VH-TT) phối hợp với Văn phòng UNESCO tại Việt Nam và Trung tâm Bảo tồn di sản di tích Quảng Nam diễn ra tại Quảng Nam từ ngày 11 đến ngày 15-5-2013.
(3) Inrasa, Bảo tồn văn hóa Chăm, http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&News=2526&CategoryID=41
- Tài liệu tham khảo
Dương Văn An (1960), Ô châu cận lục, Nhà văn hóa, Bộ Giáo dục Sài Gòn.
Lâm Mỹ Dung (1993), Các công trình khai thác nước dùng đá xếp ở Quảng Trị, TC. Khảo cổ học, số 2.
Quốc sử quán triều Nguyễn (1961), Đại Nam nhất thống chí, (phần tỉnh Quảng Trị và Quảng Bình), Nguyễn Tạo dịch, Nha Văn hóa Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn.
Lê Đức Thọ (2012), Văn hóa Chămpa, di tích và huyền thoại, NXB Thuận Hóa, Huế.