Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 20/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Người & đất quê hương

Một lòng chung thủy

19/08/2023 lúc 16:57

 (Kính tặng hương hồn Mẹ Trợ Tân)





V





ào hè những năm 1920- 1925, ở xóm làng phía nam thị xã Quảng Trị, người, vật, cây cỏ đang hứng chịu những đợt gió Lào khắc nghiệt, cát bụi mịt mù, có lúc tưởng như bão lửa, cháy da cháy thịt, nhưng dân ở đây chịu đựng một sự khắc nghiệt còn lớn hơn nhiều, đè nặng lên cuộc sống của họ: bị áp bức bóc lột, sưu cao thuế nặng, làm không đủ ăn phải bán vợ đợ con cho đủ tiền đóng suất thuế thân... nếu không bị bắt bớ đánh đập. Làng xóm bị bóp nghẹt trong luỹ tre đằng ngà, chó không chui lọt, một đường độc đạo trước làng có điếm canh hai đầu, ngày đêm tuần đinh canh gác. Ai không có thẻ “bài chỉ” (như chứng minh, được cấp khi đã đóng thuế thân) không thể đi làm ăn ở làng khác, hoặc nghi làm loạn (cách mạng) bị bắt, bị cùm xai ngay tại điếm canh (cổ chân đút vào tấm ván có khoét lổ tròn tuần đinh nêm chặt).
Ở làng An Thái, phía Nam thị xã Quảng Trị ba km có một hào phú, nhà to cửa lớn nhiều lúa, lắm tiền, một phần do ông cha để lại. Hai vợ chồng ông Cương ăn ở tốt bụng với dân làng, sẵn sàng giúp đỡ người nghèo, nhất những tháng giáp hạt.
Vợ chồng hiếm muộn, hai lần sinh không nuôi được, sau chỉ có một mụn con gái đặt tên Nuôi. Lớn lên, là con một, nhà giàu có, chỉ được học biết đọc biết viết rồi thôi học, làm việc nhà và chờ gả chồng...

Cái chết bất tử của người nữ du kích tuổi 20

19/08/2023 lúc 16:57






Đ





ó là Lê Thị Thỏn sinh năm 1926 (cách đây 80 năm) nhưng cho tôi được gọi chị. Bởi lẻ đúng là nếu không có hoạ xâm lăng của thực dân đế quốc, thì nay Lê Thị Thỏn đã ở tuổi cố tuổi bà. Nhưng vì quê hương đất nước, chị đã anh dũng hy sinh khi mới ngoài 20 tuổi. Mà người chết thì không già. Nghĩa là chị vẫn mãi mãi tuổi 20.
Hãy ngược thời gian tìm về bối cảnh những năm đầu thập kỷ 40 của thế kỷ trước, ở làng Liêm Công Tây (xã Vĩnh Hoà - Vĩnh Linh - Quảng Trị) nay là hai làng Hoà Bình và Hiền Dũng có một người con gái nết na hiền thục. Đó chính là Lê Thị Thỏn, người nữ du kích đáng kính của chúng ta. Từ nhi đồng rồi thiếu niên Dân Chủ, Thanh Niên cứu quốc, tháng 6 năm 1945 chưa đầy 19 tuổi chị xin gia nhập phân đội dân quân tự vệ, rồi tiểu đội trưởng, tiểu đội nữ dân quân làng.
Ngày 23/8/1945 chị cùng các đồng chí trong bản chỉ huy quân đội dẫn đầu đoàn biểu tình, gậy gộc giáo mác tiến về Thừa Lương (Cửa Tùng) cướp chính quyền từ tay thực dân phong kiến.
Nhưng hưởng cuộc sống độc lập tự do chưa được bao lâu thì thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta lần thứ 2, toan cướp đi thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã tốn không biết bao nhiêu công sức xương máu mới giành được...

Con kênh quê hương

19/08/2023 lúc 16:57






Q





uê tôi, mùa nắng hạn cháy lưng người, cha tôi thường đi về giữa mùa toóc khô lầm lũi, nhìn cánh đồng không nước, nhìn những đứa con đói nheo nhóc bát cơm trộn đều khoai sắn vẫn không đủ ấm dạ khi trở mình. Bao trằn trọc đã hằn sâu nếp nhăn trên khuôn mặt người cha thân yêu, mong muốn thay đổi cái nghèo cái khó nhưng đành buông tay vì không tìm đâu ra nguồn nước để sản xuất thay đổi cuộc sống. Cái ngày 8 tháng 3 năm 1978, công trình đại thuỷ nông Nam Thạch Hãn được khởi công, cha tôi hăm hở dậy từ sáng sớm hòa cùng dòng người “lao động xung kích” đi làm thuỷ lợi, khơi dòng nước về tưới mát đồng quê.
Giấc mơ có thật...
Cha tôi cũng giống như bao người dân nơi đây, cứ ngỡ chuyện đùa như thật không tin vào mắt mình, nhưng đó là giấc mơ có thật... bà con ở xã Triệu Phước cứ kháo nhau chỉ cần “ chai bảy nước ra tận ruộng họ” là quá đủ. Có ai ngờ, nay lại đi làm công trình thuỷ lợi để kéo nguồn nước về tưới tắm cho đồng ruộng quê hương, thay đổi cuộc sống của họ...

Thơ viết về Đông hà - Trong vài thập niên trở lại đây

19/08/2023 lúc 16:57

...





T





rong khuôn khổ phần văn học thành văn, qua khảo sát, chúng tôi đề ra mục tiêu khiêm tốn là giới thiệu được một đội ngũ tác giả trực tiếp viết về Đông Hà và chỉ giới hạn trong hơn nửa thế kỷ trở lại đây (với thơ muộn hơn). Nửa thế kỷ hào hùng, bi thương, tàn khốc bởi khói lửa đạn bom, cắt chia và ly tán. Ở đâu có đạn lửa chiến tranh, ở đó mọi sự sống đều bị huỷ diệt hoặc thiên di. Cái thị trấn Đông Hà nhỏ nhoi thời tạm chiếm này chịu đựng, chi phối bởi cả hai đặc điểm là huỷ diệt và thiên di. Chính hiện thực nóng bỏng, khốc liệt của chiến tranh này trào dâng bao nhiêu khát vọng: một là chiến thắng kẻ thù chung của dân tộc ngày đêm đang gieo rắc tội ác lên đầu người dân vô tội và hai là ngay cả sự thiên di cũng trĩu nặng ân tình đối với quê hương xứ sở. Có thể coi đây là chủ đề thứ nhất của văn học thành văn viết về Đông Hà, chủ yếu ở thể loại văn xuôi. Chủ đề thứ hai là khát vọng hồi sinh từ khi thị xã Đông Hà bắt tay vào công cuộc tái thiết, xây dựng quê hương thời kỳ đổi mới. Đan xen giữa hai chủ đề nói trên, viết về Đông Hà còn có nhiều tác giả hoài cố hương, hoài cố nhân, nhớ về những mảnh làng, cảnh cũ người xưa, thời vàng son quá vãng... ở thể loại thơ, thể loại chứa đựng nhiều cung bậc yêu thương, hờn giận, hào sảng... phản ánh đan xen cả hai chủ đề sau.
   Nhà thơ Lê Thị Mây có một thời gian khá dài sinh sống, công tác ở Đông Hà khi tỉnh nhà lập lại. Trước khi chị ra Hà Nội đã in khá nhiều tập thơ: "Những mùa trăng mong chờ", "Tặng riêng một người", "Du ca cây lựu tình", "Khúc hát buổi tối", "Phố còn hoa cưới"... Thơ chị từ cách cảm, cách nghĩ thiên về khái quát và diễn đạt thiên về ấn tượng với nhiều biểu tượng đa diện. Nói như nhà thơ Vũ Quần Phương thơ Lê Thị Mây có "những nét nhoè". Người thơ cũng như cuộc đời thực của chị, dai dẵng chịu đựng nổi ám ảnh về thân phận người phụ nữ trước hạnh phúc lứa đôi sau  chiến tranh: Những bão giông số phận, chông chênh kiếp người, những éo le cảnh ngộ, đợi chờ cay đắng, mất mát dở dang... Chị khá thành công trong việc diễn đạt nhiều tâm trạng phức điệu của con tim; vừa cảm nhận vừa khái quát thực tại, kiểu "lý trí nằm ngay trong cảm xúc". Nhiều bài thơ chị viết về Đông Hà đều nằm trong mạch cảm xúc như thế: Phố giờ đông người bán mua tấp nập /Chỉ riêng em nhớ ai cầm nón lỡ quên chào/Trái tim đập nghiêng theo vườn trĩu quả/Em biết mình yêu vừa phóng túng xanh xao/Khi ra chợ một mình mua một giá...

Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống ở huyện Đakrông

19/08/2023 lúc 16:57






V





ăn hoá dân gian, lễ hội, tín ngưỡng của đồng bào Vân Kiều, Pa Kô chủ yếu tương đồng về ý niệm tâm linh nhưng hình thức tổ chức thì rất khác nhau, cụ thể: dân tộc Pa Kô có các làn điệu: A Dền, Cha Chấp, Ka Lơi, Xiêng, nhạc cụ truyền thống đặc biệt như Khèn Bè, Atôôc, A Bel, Ămprech, Xar, Ta ngạc.. còn người Vân Kiều có các làn điệu dân ca: Sa Nớt, Oát, Ta Oải và các nhạc cụ đặc sắc như: Sáo Khui, Pih, Ta Ril, A Mam...Về lễ nghi, người Vân Kiều gọi lễ cúng ma cũ là lễ Ra Doác, còn người Pa Kô gọi là lễ A Riêu Ping; lễ cúng thần lúa của người Vân Kiều là Tứk A Bôn, người Pa Kô là Tả A Da. Có rất nhiều lễ hội tương đồng giữa hai dân tộc Vân Kiều, Pa Kô nhưng các lễ hội không giống nhau về hình thức tổ chức, chỉ có điểm giống nhau là trong văn hoá truyền thống của hai dân tộc này thì hình thức “Lễ” nhiều hơn “Hội”. Một nét chung nữa là phong tục đón khách của người Vân Kiều, Pa Kô giống nhau, khi khách đến nhà dù quen hay lạ họ đều được đón tiếp chân thành, chu đáo, ngoài việc dùng cơm thân mật với gia đình thì khách còn được mời uống rượu với thịt gà, nếu ân cần, trọng khách hơn nữa thì khách được mời uống rượu cần và hát làn điệu Sa Nớt(Vân Kiều), làn điệu A Dền (Pa Kô).
Trong đời sống sinh hoạt của đồng bào Vân Kiều, Pa Kô có những đặc điểm riêng biệt không thể lẫn lộn với bất cứ dân tộc nào. Người Vân Kiều, Pa Kô cư trú theo bản, trong bản chủ yếu là bà con dòng tộc nội, ngoại, rất ít người ngoại lai. Người Pa Kô sống trong một ngôi nhà dài truyền thống được chia theo từng phòng, mỗi phòng là một gia đình, mối quan hệ trong ngôi nhà dài là những người anh em họ hàng thân thuộc. Người Vân Kiều thì sống chung một bản và chủ yếu là anh em họ hàng nội ngoại. Khi nghe tin nhà nào có khách ở lại thì bà con sẽ mang cơm với thức ăn để chủ nhà mời khách, tình cảm chân thành đó diễn ra cho đến lúc nào khách về thì thôi. Ngoài ra, trong trường hợp săn bắt được thú rừng thì họ đem chia đều cho mỗi nhà mỗi phần, hộ nào có khách ở lại thì được chia thêm một phần để đãi khách. Trong hoạn nạn, người Vân Kiều, Pa Kô có cách ứng xử riêng, ví dụ nhà nào có người thân mất thì cả bản đến chia buồn cho đến khi chôn cất. Sau đó, dân bản còn đến ngủ tại nhà có người mất trọn mười ngày đêm để gia chủ vơi bớt nỗi buồn. Khi đến ngủ họ mang theo lương thực để nấu ăn, mang khèn để thổi làm xua tan không khí u uất trong nhà, trong bản…

Tâm nguyện của người anh hùng

19/08/2023 lúc 16:57






T





hường ngày rất dễ thấy anh khi thì một mình cùng chiếc xe lấm lem bụi đường, lúc lại ngồi đòn ăn bún mắm ở quán cóc vệ đường, có khi nghe anh cười nói ồn ào cùng bạn bè ở góc quán nào đó nơi phố thị Đông Hà (Quảng Trị)… Phải đến khi gặp anh trong trang phục chỉnh tề, ngực gắn đầy Huân chương trong lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVTND tôi mới ngạc nhiên và khâm phục về tính cách của một người anh hùng. Đó chính là anh Trương Đức Hai.
Anh hùng Trương Đức Hai sinh ra ở làng Hải Chữ, xã Trung Hải, huyện Gio Linh nằm bên bờ nam sông Bến Hải. Tuổi thơ anh phải trải qua những năm tháng nhọc nhằn và chứng kiến bao tội ác dã man của Mỹ- ngụy với quê hương. Vì vậy, năm 16 tuổi anh tham gia lực lượng vũ trang, tiếp nối truyền thống của người cha thân yêu lên đường đánh giặc. Từ một du kích, sau hai năm chiến đấu anh trở thành trung đội trưởng rồi lên xã đội trưởng. Năm 18 tuổi anh được tăng cường về xã Gio Lễ, một xã nằm trên tuyến hàng rào điện tử Mac-Namara nên địch thường xuyên kềm kẹp, bắt bớ tra tấn những cơ sở cách mạng. Được lãnh đạo huyện tin tưởng giao nhiệm vụ hết sức nặng nề nhưng anh luôn hoàn thành. Chính trong khó khăn gian khổ và đầy bất trắc hiểm nguy đã tôi luyện anh sớm trưởng thành. 
Năm 19 tuổi, anh Hai lúc đó đang là xã đội trưởng được tăng cường lên xã Gio Sơn. Đây là xã vùng trắng, toàn bộ dân vào khu tập trung Quán Ngang nên rất khó hoạt động. Đến năm 1972, anh cùng đơn vị C4 bộ đội địa phương Gio Linh đánh vào chi khu Quán Ngang để đưa dân ra khỏi khu tập trung. Sau khi giải phóng, anh được cử về làm Chủ tịch xã Gio An để đưa dân về vùng trắng xây dựng lại cuộc sống. Lúc đó anh chỉ mới 21 tuổi nhưng đảm trách cương vị chủ chốt của xã để tổ chức lại lực lượng khai hoang, phục hóa, tổ chức sản xuất đảm bảo nguồn lương thực nuôi sống người dân...

Thử phác thảo về một không gian tâm linh đôi bờ Thạch Hãn

19/08/2023 lúc 16:57






T





rong dịp thực hiện chương trình truyền hình trực tiếp “Khúc tráng ca về một dòng sông”, lấy bối cảnh tại thị xã Quảng Trị, một Biên tập viên của VTV3 đã có phát hiện gây xúc động khi cho rằng, Quảng Trị hiện có 2 nghĩa trang liệt sĩ cấp quốc gia là Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, Nghĩa trang liệt sĩ Đường 9. Quảng Trị còn có hai nghĩa trang không bia mộ là Thành Cổ và dòng sông Thạch Hãn.
Từ các thung lũng và bồn địa giữa núi đồi, những dòng suối nhỏ ngang dọc đã tích hợp thành nguồn của các con sông lớn đổ về đồng bằng, trong đó có dòng chủ lưu đã tạo nên nguồn Hàn, con sông trở thành một trong những biểu tượng thiêng liêng của quê hương Quảng Trị: sông Thạch Hãn. 
Thành Cổ Quảng Trị là một công trình kiến trúc quân sự dưới thời quân chủ phong kiến, nơi có một thị xã duyên dáng, thanh bình nép mình bên bãi ngô, ruộng lúa, bờ sông và hàng hàng phượng vĩ đỏ thắm. Thành Cổ Quảng Trị từng chấn động dư luận thế giới và lay động lương tri loài người khi được lịch sử lựa chọn làm “quyết chiến điểm” trong 81 ngày đêm mùa hè đỏ lửa năm 1972.
Trên diện tích chưa đầy 2 km2 của Thành Cổ Quảng Trị đã phải gánh chịu hàng ngàn tấn bom đạn của kẻ thù trút xuống với sức tàn phá vô cùng khủng khiếp. Thành Cổ Quảng Trị tạc vào lịch sử đấu tranh thống nhất nước nhà những trang bi tráng và hào hùng, nơi ý chí bất khuất, kiên cường của các chiến sĩ Quân giải phóng được khắc ghi với những chiến công đi vào huyền thoại. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Thành Cổ Quảng Trị và dòng sông Thạch Hãn là nơi yên nghỉ của hàng vạn người con mọi miền Tổ quốc, vì miền Nam, vì Quảng Trị, vì độc lập tự do của cả dân tộc mà nằm lại, hóa thân thành màu xanh cỏ cây, đất đai, sông nước đất này...

Một ngày hành hương về Thành Cổ

19/08/2023 lúc 16:57






T





rong ánh bình minh sớm mai, những giọt sương non đang còn đọng lại trên những cánh hoa phượng vĩ đầu mùa.Dọc các con đường dẫn vào thành cái nắng đã lóa mặt người. Những dòng người hướng về mảnh đất thiêng này càng đông hơn, làm cho cuộc sống nơi này rộn ràng và nhanh hơn thường lệ.Có đoàn hàng chục người trong bộ đồng phục được đính lô gô tên một công ty trách nhiệm hữu hạn. Có đoàn chọn những chiếc mũ xinh xắnđínhthương hiệu một mặt hàng tiêu dùng nổi tiếng, với lễ vật hương hoa cùng cán bộ thuyết minh tiến về đài tưởng niệm. Có đoàn vài chục em học sinh dã ngoại tham quan hành hương với những giờ học lịch sử không bàn ghế, bục giảng, thầy cô để nghe về lịch sử cuộc chiến 81 ngày đêm anh dũng kiên cường của quân và dân ta bảo vệ Thành Cổ. Các em chăm chú say sưa đến lạ. Có những đoàn khách nước ngoài cũng “nhập gia tùy tục”, khi nghe người phiên dịch thuyết minh về sự khốc liệtcủa chiến tranh trên mảnh đất thiêng này họ đã cảm nhận được những đau thương mất mát mà con người Việt Nam đã gánh chịu trong cuộc chiến chống Mĩ. Trong những đoàn người hành hương ấy dễ nhận ra nhất là những người đã từng trực tiếp hay gián tiếp chiến đấu bảo vệ Thành Cổ trong 81 ngày đêm. Bởi họ trong sắc phục màu lính lặng lẽ đi bên nhau không nói gì, chỉ đôi mắt như những ống kính quay phim “lia” về bốn phía tường thành. Rồi bỗng dừng lại với những kí ức như những thước phim quay chậm về một thời chiến đấu hào hùng oanh liệt, người mất người còn và những giọt nước mắt lăn dài trên gò má...

Đôi điều về Nghĩa Trũng Đàn và nhân vật lịch sử Hoàng Hữu Xứng

19/08/2023 lúc 16:57






P





hải đến những năm 90 của thế kỷ trước, từ Tây nguyên chuyển công tác về Quảng Trị quê nhà tôi mới phát hiện ra có một nghĩa trang có tên gọi là Nghĩa Trũng đàn ở thị xã Quảng Trị. Từ bờ Nam sông Thạch Hãn đi hết con phố Quang Trung, vượt qua kênh đại thuỷ nông Nam Thạch Hãn, rẽ trái ra cánh đồng làng Thạch Hãn cũ chừng 300m đã đến Nghĩa Trũng đàn. Đã bao đời nay, nghĩa trang này có hai làng thờ cúng chăm sóc, đó là họ Hoàng ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong và dân làng Thạch Hãn nay thuộc thị xã Quảng Trị. Hai làng cách nhau chừng 6km.
Sở dĩ có biệt lệ này là vì trước đây họ Hoàng- Bích Khê thiếu đất đã bỏ tiền ra mua đất của làng Thạch Hãn để làm nghĩa trang. Họ Hoàng- Bích Khê có nghĩa vụ đóng tiền của vào để tu bổ nghĩa trang và mua sắm lễ vật cúng tế vào rằm tháng Bảy và lễ Tảo mộ hàng năm. Lễ cúng tế ở Nghĩa Trũng đàn bao giờ cũng có các trưởng làng, quan đầu tỉnh, các tộc trưởng của hai làng cùng đông đảo dân làng Thạch Hãn tham dự và cùng thừa thần chi huệ. Ngược lại làng Thạch Hãn, quanh năm có nghĩa vụ chăm sóc khói nhang trên đàn. Một lần đi dự lễ tạ ở đàn này vào năm 1996 (23 năm sau ngày giải phóng con cháu họ Hoàng mới có điều kiện đóng góp tiền của trùng tu tôn tạo lại Nghĩa Trũng đàn vì sau chiến sự 81 ngày đêm khốc liệt ở Thành cổ, Nghĩa Trũng đã bị san thành bình địa), tôi rất lấy làm ngạc nhiên trước phát kiến của anh Hoàng Phủ Ngọc Tường rằng, Nghĩa Trũng đàn cũng là một trong những nghĩa trang quốc gia đầu tiên ở Quảng Trị!..Được bật mí, chúng tôi không thể không sục vào ngôi làng Thạch Hãn (nay cùng một khối phố); không thể không về  ngôi làng  Bích Khê để xác tín...

Kế hoạch K15

19/08/2023 lúc 16:57

Như chúng ta đã biết ở vào thời điểm sau khi Quảng Trị được giải phóng hoàn toàn vào ngày 1 - 5 - 1972 thì cuộc chiến đấu của nhân dân ta, mà trực tiếp là các lực lượng vũ trang chống chiến dịch tái chiếm của địch, diễn ra hết sức quyết liệt, ngoài lực lượng bộ binh, kẻ địch đã dùng các loại pháo từ các căn cứ lớn phía trong và từ hạm đội, loại pháo đạn, các loại máy bay, nhất là máy bay B52 đánh phá liên tục, dữ dội cả ngày lẫn đêm vào vùng giải phóng trong tỉnh, kể cả Gio Linh, Cam Lộ đã được giải phóng trước đó.

Ký ức mãi một thời động lại...!

19/08/2023 lúc 16:57






T





hời gian cứ xuôi chảy về phía trước như dòng sông nhưng con người có lúc chảy ngược về phía sau bởi những ký ức một thời. Giữa những ngày Quảng Trị náo nức kỷ niệm 40 năm giải phóng, khi các đoàn giáo viên đi B ở miền Bắc mặn mà về thăm lại chiến trường xưa, những người giáo viên tại chỗ như chúng tôi lòng xao xuyến nghĩ về một thời không thể nào quên.
1 – Tất cả chúng tôi rất trân trọng và cảm ơn Hội cựu giáo chức khi tổ chức xã hội này đã có ý tưởng tốt đẹp và vượt qua nhiều khó khăn để chu toàn cho cuộc gặp gỡ với quy mô 120 giáo viên đi B đang ở tại tỉnh. Tôi đã ở tuổi “nhớ nhớ - quên quên” nhưng nếu không nhầm thì đã có 11 đợt giáo viên miền Bắc chi viện cho Quảng Trị.
Trước ngày Quảng Trị được giải phóng (01/ 5/ 1972) đã có 5 đợt:
Đợt I vào năm 1959 – 1960; đợt II vào năm 1964 – 1965; đợt 3 vào năm 1968 – 1969; đợt IV vào năm 1970 – 1971; đợt V đầu năm 1972 (trước ngày giải phóng). Tổng số cả 5 đợt khoảng 120 người. Gần một phần tư trong số họ đã anh dũng hi sinh trong quá trình làm nhiệm vụ trên mảnh đất Quảng Trị thân yêu.
Đây là những người phải chịu gian khổ hi sinh nhiều nhất trong số những giao viên đi B. Nếu nói về công trạng thì họ chính là những người “khai sơn phá thạch” có công đầu trong việc đặt nền móng cho giáo dục Quảng Trị. Rất đáng mừng là trong số họ có một số trở thành cán bộ chủ chốt của tỉnh như anh: Nguyễn Kham; Lê Hải Hà; Dương Tú Anh…

Ẩm thực quê nhà

19/08/2023 lúc 16:57






C





ũng trong vùng Thuận Hoá nhưng cố đô Huế do tác động của sinh hoạt cung đình nên ẩm thực hiện nay vẫn mang tính cầu kỳ, còn Quảng Trị quê ta vẫn giữ cốt cách rặc dân dã của mình. Rất dễ nhận ra đặc tính ăn uống quê ta là chuộng gumạnh. Thiên nhiên khắc nghiệt khô cằn, nóng rát nhưng người dân lại thích ăn cay, ăn mặn; hút các loại thuốc có gu nặng; uống các loại rượu có độ cồn cao, điển hình như “Kim Long mỹ tửu” ở Hải Lăng, nay lại có thêm “Tân Long” do một bộ phận người Kinh đi xây dựng quê hương mới ở Hướng Hóa nữa mới gờm. (Ở bài này chúng tôi chỉ nêu một số đặc trưng)
Có thể nói, chặt to kho mặn là đặc trưng bữa cơm thường ngày. Nhiều lắm cũng chỉ vài ba món: canh, cá kho, rau luộc hay mắm muối. Trừ  khi có giỗ chạp, tiệc tùng, cưới xin, khao vọng,... bữa cỗ được chuẩn bị chu đáo hơn. Giỗ chạp thường có mâm cỗ với hàng chục món ăn được chế biến từ thịt, các loại rau, quả theo cách kho, xào, thấu, trộn, ram, nướng. Hầu hết các món ăn đều là sản phẩm của sự pha chế tổng hợp: nhiều loại rau quả, gia vị, các loại thủy sản, các loại thịt... Ví dụ như món canh cũng đã có hàng chục loại canh khác nhau với sự kết hợp của nhiều loại rau, giữa rau với quả, giữa rau với cá, giữa rau quả với thịt, với  tôm, cua, ốc,... và hàng chục các loại rau thơm, gia vị... (như canh thập tàng, canh cá, cua, tôm, tép nấu với khế chua, me, hành, ngò...). Tương tự như vậy, các món kho, xào, rim, ninh, tần, hầm, nộm... bao giờ cũng có cá, thịt, rau, quả, củ, rau thơm, gia vị... và rất ít khi món chỉ có cá không, thịt không. Dù là món ăn đơn giản là rau muống luộc, nước chấm, canh hến, ốc xào... đều được tạo ra từ nhiều nguồn nguyên liệu. Nó tổng hợp lại với nhau, bổ sung cho nhau để tạo thành những món ăn có đủ mọi chất như đạm, béo, bột, chất khoáng, chất bổ... Món ăn vì thế không những có giá trị dinh dưỡng cao mà còn cho ta những hương vị độc đáo; vừa mặn, béo, cay, chua, ngọt, bùi, vừa tỏa mùi hương hoa cây cỏ...

Xin hãy cứu bàu Thủy Ứ

19/08/2023 lúc 16:57

Nói đến bàu Thủy Ứ - một địa danh chắc hẳn đã không còn xa lạ với những ai đã từng sống, từng đến và từng biết về làng quê Vĩnh Tú. Bàu Thủy Ứ là mạch nguồn, là trái tim, lá phổi, là nguồn sống của người dân nơi đây. Và cũng là một trong những nguồn cội để bắt đầu câu chuyện trạng của ngày xửa, ngày xưa: con cá Đô làm bảy món, vảy cá chép để lợp nhà...
Phải nói rằng bàu Thủy Ứ là một trong những ưu đãi tuyệt vời mà thiên nhiên đã ban tặng cho người dân Vĩnh Tú. Bao đời nay, Bàu thủy Ứ đã nuôi sống nhiều gia đình bởi nguồn thủy sản tôm, cá, dồi dào vô kể. Ngoài những nguồn lợi về thủy sản, bàu còn là một cảnh quan sinh thái tuyệt vời, khí hậu mát mẻ, trong lành. Hai bên bàu làng quê trù phú xanh tươi với phong cảnh sơn thủy hữu tình ít nơi nào có được. Nhiều thế hệ đã lớn lên trưởng thành từ con sông quê với cái tên mộc mạc, giản dị này. Nhất là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhiều cơ quan, xí nghiệp như Bảo tàng, Xí nghiệp in, Đoàn nghệ thuật Bình Trị Thiên đã về đóng quân bên hai bờ bàu. Đây là nơi tiếp nhận thương binh từ tiền tuyến ra, và là nơi tạm nghỉ chân của lớp lớp đoàn quân chuẩn bị vào tiếp sức cho Miền Nam. Địa danh bàu Thủy Ứ dường như đã trở nên quen thuộc trong tâm trí của bao người. Bàu được gắn với những ký ức đẹp đẽ về một thời hào hùng, oanh liệt của cả dân tộc, cùng với những câu chuyện trạng hài hước và đầy sảng khoái mang khí chất của con người Vĩnh Tú, chiếc nôi của quê hương nói trạng Vĩnh Hoàng...

Luật tục và tri thức bản địa của người Pakô trong việc ứng xử với tài nguyên thiên nhiên

19/08/2023 lúc 16:57


Phần 1: Luật tục và tri thức bản địa:
Tri thức bản địa (hay kiến thức địa phương, kiến thức truyền thống: (Local Know Ledge ledge) là hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa, hoặc của một cộng đồng tại một địa vực cư trú cụ thể xác định; nó được hình thành từ trong thực tiễn quá trình lao động sản xuất và ứng xử với môi trường tự nhiên xã hội của các thành viên trong cộng đồng; nó được hoàn thiện dần và truyền từ đời này sang đời khác bằng truyền khẩu trong gia đình, làng bản qua hình thức ca hát, ngạn ngữ, trường ca, tập tục...; nó tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định của địa phương.
Kiến thức bản địa bao gồm nhiều nội dung đề cập đến mọi khía cạnh của đời sống sản xuất và tổ chức cộng đồng xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số như kiến thức về quản lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên (phương pháp trồng trọt, chăn nuôi, kỹ thuật đánh bắt, săn bắn và hái lượm)... Nó là một kho thông tin hết sức quý giá trong hệ thống tri thức dân gian, có giá trị thực tiễn sâu sắc, có khả năng thích ứng cao với sự đa dạng của điều kiện tự nhiên môi trường ở miền núi, nơi mà hoạt động dựa trên nền tảng của chủ nghĩa kinh nghiệm; đồng thời nó phản ánh bản sắc văn hoá riêng của tộc người. Nó là sản phẩm của tập thể mang tính cộng đồng cao, là sự đóng góp của nhiều tầng lớp người trong cộng đồng, phản ánh sự sáng tạo, chọn lựa của các thành viên trong qúa trình lao động sản xuất, của mối quan hệ con người với tự nhiên trong qúa trình sản xuất. Chính từ trong quá trình lao động sản xuất, kiến thức bản địa được hình thành và phát triển trên cơ sở đúc rút những kinh nghiệm của hệ thống ứng xử mang tính đa dạng phù hợp, hài hoà với tự nhiên. Nó hình thành và biến đổi liên tục qua nhiều thế hệ trong một cộng đồng, một địa phương nhất định; nó tồn tại dưới dạng trí nhớ, qua các thể ca hát, hoặc ứng xử thực hành sản xuất. Trong quá trình lưu truyền (truyền khẩu, thực hành xã hội), nó được biến đổi dần và ngày càng được hoàn chỉnh...

Thuế khóa ở Quảng Trị dưới triều Nguyễn (1802 - 1885)

19/08/2023 lúc 16:57






Q





uảng Trị là một tỉnh nằm chính giữa khúc ruột miền Trung đất nước, nơi chuyển tiếp giữa hai miền địa lý Bắc và Nam Việt Nam. Phía Đông giáp biển Đông trên một chiều dài hơn 100km, phía Tây giáp tỉnh Savannakhet và Salavan của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào với 208km đường biên giới, phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế và phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình. Quảng Trị có tọa độ địa lý kéo dài từ 16018’ đến 17010’ độ vĩ Bắc và từ 106024’ đến 10702’ kinh độ Đông.
Nộp thuế là nghĩa vụ và quyền lợi của nhân dân, là một phần ngân sách quan trọng đảm bảo cho hoạt động của nhà nước. Việt Nam là một nước nông nghiệp, cho nên nguồn thu ngân sách nhà nước được đóng góp chủ yếu là từ nông nghiệp. Việc thu thuế dưới triều Nguyễn được tiến hành rất sát sao, tỉ mỉ trong cả nước từ miền núi xuống đồng bằng.
1. Thuế đinh
Thuế đinh là nghĩa vụ của người dân đối với nhà nước, là một khoản thu nhập quan trọng của nhà nước. Năm 1803 vua Gia Long quy định: “Phàm dân hộ cung hạng hoặc đào hạng, còn dôi 9 suất thì chia làm 3 hạng: Tráng, quân, dân…như có 9 suất thì mỗi hạng 3 người, 8 suất thì quân 2, tráng và dân đều 3, 7 suất thì quân 3, tráng và dân đều 2; 6 suất thì mỗi hạng 3;5 suất thì hạng quân 1, tráng và dân đều 2, 4 suất thì quân 2, tráng và dân đều 1; 3 suất thì mỗi hạng 1; 2 suất thì một tráng; 1 dân, 1 suất là quân. Các đội nậu, dân biệt nạp và biệt tính, tiền thân dung hạng tráng coi như hạng quân, hạng lão tật thì nộp một nửa. Hàng năm thượng tuần tháng 4 thì thu, hạ tuần tháng 7 thì đủ, tháng 10 sửa lại sổ. Người chết thì năm ấy được xóa bỏ, người trốn thì chưa ghi vào sổ, thu đến 1 năm, sau mới được xóa”(1)...

Thêm một dấu ấn tình hữu nghị trong sáng thủy chung với nước bạn Lào

19/08/2023 lúc 16:57






T





hảng hoặc trên một số diễn đàn còn có ý kiến cho rằng: quá nhiều cuộc thi dẫn đến không thi thì không được mà thi thì cũng chẳng có ý nghĩa gì? Vượt qua những suy nghĩ thông thường đó, cuộc thi tìm hiểu “Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam” là một minh chứng nếu cuộc thi thực sự có ý nghĩa, bổ ích, thiết thực lại được tổ chức công phu chắc chắn sẽ tạo được sự đồng thuận, sự hưởng ứng nhiệt tình của người dân. Cuộc thi là dấu ấn tình hữu nghị trong sáng thuỷ chung.
          Với mỗi người dân Việt Nam và người dân của nước bạn Lào láng giềng thân thuộc hai câu nói nổi tiếng:“Việt - Lào, hai nước chúng ta/Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long” và "Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt Nam mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông" của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Kayxỏn Phômvihản kính mến đã khắc sâu vào tâm khảm.
Cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn, có nét tương đồng về các điều kiện dân cư, xã hội và lịch sử; đặc biệt trong tiến trình lịch sử, cả hai dân tộc đều phải ngoan cường chống ngoại xâm, trong đó có một thời gian khá dài cùng kẻ thù chung, cùng chung chiến hào để bảo vệ nền độc lập dân tộc của mỗi nước. Nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào may mắn và tự hào có người bạn láng giềng, vừa là đồng chí vừa là anh em, đồng cam cộng khổ, chia ngọt xẻ bùi “hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa”. Người dân Lào thì coi nhân dân Việt Nam là “Bản cạy, hươn khiêng” nghĩa là “bản kề, nhà cạnh”. Đó chính là mạch nguồn tạo nên dòng sông lớn - mối quan hệ đặc biệt, hiếm có và trở thành một điển hình, một tấm gương mẫu mực về sự gắn kết bền chặt, thuỷ chung trong sáng và hiệu quả hai nước Việt-Lào...

Luật tục và tri thức bản địa của người Pakô trong việc ứng xử với tài nguyên thiên nhiên

19/08/2023 lúc 16:57


Phần 2: Quyền sở hữu và quan hệ sở hữu đối với tài nguyên rừng
Theo quan niệm cổ truyền của ông bà để lại thì tài nguyên rừng bao gồm các loại như: rừng thiêng, rừng ma, rừng đầu nguồn, rừng khai thác sản xuất... Tất cả thuộc sự quản lý của cộng đồng, có nghĩa là thuộc sở hữu cộng đồng làng bản. Ở đó cá nhân với tư cách là thành viên của bản làng chỉ có quyền sử dụng khai thác ở một chừng mực nhất định đối với loại tài nguyên rừng được khai thác sản xuất và cấm tuyệt đối việc khai thác sản xuất đối với các loại rừng thiêng, rừng ma... Trong quan niệm của đồng bào núi rừng là cái nhà muôn loài; trong đó con dân làng là những người uống nước chung nguồn, ở cùng núi. Vì vậy việc phá rừng như phá nhà mình; đốt rừng như đốt nhà mình. Rừng chia ra làm nhiều loại như rừng thiêng, rừng ma, rừng đầu nguồn là những nơi có các vị thần trú ngụ, ở đây cây cối rậm rạp, có nhiều cây cổ thụ lâu đời; lại là nơi đầu nguồn của các sông suối. Những khu rừng đó do các vị thần quản lý, nghĩa là nó không của riêng một cá nhân nào mà thuộc về cộng đồng dân bản. Ở đó cấm khai thác gỗ, cấm phát rẫy, không được chăn thả gia súc hay săn bắn thú bằng lưới với quy mô lớn và đặc biệt là cấm ngặt việc đốt lửa... Cá nhân nào vi phạm vào những điều cấm sẽ bị phạt nặng. Luật tục quy định, tội phá rừng Ma (Ktrưng), rừng Thiêng (Trừng xa) là tội nặng nhất về khía cạnh tín ngưỡng; sẽ bị phạt trâu, dê, lợn, gà, rượu... để cúng thần Rừng (Yang Arưih), thần Núi (Yàng Coh), thần Đất (Yang Cute), thần Trời (Yang Piloong). Trong tâm thức của đồng bào những khu rừng đó là của tự nhiên có các vị thần ngự trị và cai quản, chính các vị thần là chủ sở hữu tối cao. Những hành vi chặt phá xâm phạm trái phép đến rừng thiêng đồng nghĩa với sự xúc phạm đến các vị thần (Yang) là người nắm quyền cai quản những khu rừng và vì vậy thần sẽ trừng phạt trực tiếp dân làng bằng những hình phạt nặng nề như dịch bệnh, lũ lụt, mất mùa... Xét trên khía cạnh luật tục, việc lý giải và những quy định này đậm màu sắc tôn giáo, tín ngưỡng, tức là “thiêng liêng hoá” nhưng về mặt tri thức bản địa lại có ý nghĩa, giá trị thực tiễn trong việc bảo vệ quyền sở hữu cho cộng đồng.      Đối với rừng đầu nguồn, chỉ được phép khai thác với tư cách là tập thể bản làng và phải sử dụng vào mục đích chung như làm cột đâm trâu, các công trình chung của bản làng như nhà Gươl (nhà sinh hoạt cộng đồng). Lúc đó làng phải làm lễ cúng trâu, dê, lợn... như một hình thức xin phép thần linh chuyển giao quyền sở hữu. Theo luật tục các thành viên trong làng phải có nghĩa vụ thực hiện, trách nhiệm bảo vệ những khu rừng đó khi có hành vi xâm phạm, phá hoại hay xâm lấn rừng. Luật tục cũng quy định một số trường hợp cho phép cá nhân được chặt gỗ ở rừng đầu nguồn, ví dụ như dùng để đóng thuyền, nhưng cá nhân đó phải là người tài giỏi trong nghề sông nước và cây gỗ đó tuyệt đối không được sử dụng vào mục đích khác như bán, cho, hoặc trao đổi, nếu vi phạm sẽ bị phạt nặng. Trong trường hợp dùng để làm nhà hay đóng quan tài phải xin phép chủ làng. Khi được sự đồng ý phải tổ chức lễ cúng với ý nghĩa chịu phạt. Đây là quy định có tính chất bắt buộc, với ý nghĩa là lễ đền bù xin thần linh tha lỗi. Loại gỗ này cá nhân cũng không được cho, trao đổi mua bán với ngoài bản nếu không sẽ bị làng phạt...

Triệu Trạch đoàn kết một lòng, đưa chương trình xây dựng NTM sớm về đích

19/08/2023 lúc 16:57






Đ





i giữa màu xanh bạt ngàn của những đồi tràm tôi cứ ngỡ mình đang lạc giữa núi rừng Trường Sơn xanh biêng biếc. Hẳn ai cũng cảm nhận như tôi khi lần đầu tiên đặt chân đến vùng đồng bằng phía đông của xã Triệu Trạch – huyện Triệu Phong. Nơi tôi đứng là vùng đất được tỉnh Quảng Trị chọn một trong tám xã điểm của chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM). Màu xanh của lá hòa cùng màu cát trắng bời bời tạo nên gam màu quyến rũ cuốn tôi vào cụm từ “xây dựng nông thôn mới” trên mảnh đất này. Huyện lộ 41ĐH nối từ tỉnh lộ 580ĐT từ Bồ Bản đến Triệu Sơn dài bảy km qua địa phận xã Triệu Trạch được rải thảm nhựa phẳng lì như một lát cắt xuyên qua mảnh đất này thành hai vùng riêng biệt. Phía đông là vùng cồn cát hoang hóa. Địa hình cồn cát có sườn dốc đứng quay về phía đất liền còn sườn thoải về phía biển với độ dày cát trắng từ 15 – 20 cm. Phía tây là vùng đồng trũng với đất cát pha lẫn đất phù sa được bồi đắp hàng năm bởi con sông Vĩnh Định chảy ngang qua, phù hợp với việc canh tác lúa nước. Địa hình này có hai loại đất cơ bản, đất mặn ít điển hình và đất phù sa, độ phì nhiêu không cao. Những vùng thấp thì trồng lúa hai vụ cho năng suất đảm bảo, vùng cao thì trồng lúa một vụ và hoa màu. Ngăn cách giữa hai vùng đất này còn có tuyến đê chắn cát dài khoảng chừng mười km làm nhiệm vụ chắn cát bảo vệ làng mạc và ruộng đồng như nạn cát bay, cát lấp khi khí hậu thay mùa...

« 4041424344 »

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

21/04

25° - 27°

Mưa

22/04

24° - 26°

Mưa

23/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground