
01/08/2024 lúc 17:25

02/03/2022 lúc 08:55
C
ái rét ngọt của mùa Đông như đã dừng lại trên ngưỡng cửa triển lãm mỹ thuật Mùa Xuân của Câu lạc bộ Họa sĩ trẻ tỉnh Quảng Trị ở trụ sở Hội Văn học-nghệ thuật tỉnhQuảng Trị (46 Hùng Vương, thành phố Đông Hà). Nhiều khán giả có cảm giác ấy khi ngắm những bức tranh đã được gắn nơ theo sự lựa chọn của người chơi tranh như Hoài Thu (acrylic-Ngô Hiền), Nàng sen (sơn dầu-Trần Song), Tiết điệu đỏ (acrylic-Nguyễn Thị Lương Giang), Sen 1 (thủy mặc-Trương Đình Dung), Phố mới (acrylic-Lê Ngọc Duy)... Bên cạnh đó, những bức tranh sơn mài, đồ họa, in decal, tượngđều tập trung khắc họa hình tượng con người đã cùng nhau tạo nên một không khí mỹ thuật sinh động, đa dạng của lần triển lãm mỹ thuật đầu tiên của Câu lạc bộ Họa sĩ trẻ tỉnh Quảng Trị được tổ chức trong tinh thần đón chào Xuân mới 2013 và chào mừngĐại hội Hội Văn học-nghệ thuật tỉnh Quảng Trị khóa V, nhiệm kỳ 2012-2017. Trong không gian mỹ thuật này, khán giả đã có những liên tưởng mạnh mẽ và cảm nhận sâu sắc những điều mà các tác phẩm hội họa và điêu khắc được trưng bày mang đến.
“Dẫu biết rằng triển lãm mỹ thuật của các câu lạc bộ họa sĩ trẻ không phải là chuyện mới trong đời sống văn hóa ở Việt Nam từ nhiều năm nay, nhưng đây là câu lạc bộ họa sĩ trẻ đầu tiên ở tỉnh Quảng Trị và được sinh sau đẻ muộn so với các câu lạc bộ họa sĩ trẻ của những tỉnh, thành khác trong cả nước. Mặt khác, do chưa được nhiều người biết đến nên triển lãm mỹ thuật này cũng là cách giới thiệu Câu lạc bộ Họa sĩ trẻ tỉnh Quảng Trị với công chúng”, họa sĩLê Ngọc Duy bộc bạch. Triển lãm trưng bày nhiều tác phẩm hội họa và điêu khắc, trong đó các tác phẩm hội họa chiếm ưu thế và nhận được sự quan tâm, chú ý nhiều hơn của khán giả...

02/03/2022 lúc 08:55
K
hông gian thời gian nghệ thuật luôn là một hình tượng nghệ thuật được các nhà văn sử dụng linh hoạt và chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa trong các tác phẩm văn học từ trước đến nay. Trong qúa trình sáng tạo nghệ thuật, nếu hiện thực cuộc sống và phương thức biểu hiện được coi là mặt triển khai của mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì, không gian và thời gian nghệ thuật được tác giả sử dụng như một quan niệm riêng để thể hiện mối quan hệ cụ thể giữa nhân vật và hoàn cảnh. “Là sản phẩm của hiện thực khách quan và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ được khúc xạ bởi lăng kính chủ quan của nhà văn, không gian, thời gian nghệ thuật luôn gắn với quan niệm nghệ thuật về con người và góp phần lí giải cho quan niệm ấy” (Trần Đình Sử)
TheoTrần Đình Sử, không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan điểm nhất định về cuộc sống, do đó không thể qui nó về sự phản ánh không giản đơn không gian địa lý, hay không gian vật lí vật chất. Như vậy, không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật, là không gian do con người cảm thấy trong tâm tưởng. Đó là sự sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm thể hiện một quan điểm nhất định về cuộc sống, là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật và là một trong những bình diện chủ yếu của thi pháp học. Xây dựng không gian như thế nào góp phần bộc lộ quan niệm của nhà văn như thế ấy. Không gian nghệ thuật vì thế luôn gắn liền với quan niệm nghệ thuật qua từng tác phẩm với tư cách là hình tượng nghệ thuật cụ thể. Sự thống nhất giữa con người và không gian là điều kiện để nhận thức và biểu đạt nghệ thuật, vì thế cần phải nói đến không gian như một nhân tố nghệ thuật và góp phần không nhỏ trong việc biểu đạt ý đồ nghệ thuật của tác giả...

02/03/2022 lúc 08:55
Q
uá trình hiện đại hóa văn học từ đầu thế kỷ XX đã mở đường và tạo điều kiện cho các nhà văn có cách tiếp cận đa dạng đối với hiện thực đời sống nông thôn và người nông dân. Có thể nói đây là đề tài thu hút và hấp dẫn các nhà văn ở nhiều khuynh hướng khác nhau thể hiện năng lực khám phá hiện thực và con người với những chiều kích và phẩm chất nghệ thuật mới.
1. Tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn từ 1932 – 1945 chủ yếu có hai khuynh hướng sáng tác là lãng mạn (với các tác phẩm của Tự lực văn đoàn) và hiện thực (với các sáng tác của của các nhà văn hiện thực phê phán). Các nhà văn Tự lực văn đoàn viết về nông thôn và nông dân tập trung giai đoạn từ 1936 đến 1939. Những tác phẩm như Tối tăm (Nhất Linh), Gia đình và Thừa tự (Khái Hưng), Bùn lầy nước đọng và Con đường sáng (Hoàng Đạo)… trực tiếp miêu tả bức tranh nông thôn trong cảnh “bùn lầy nước đọng”, nông dân thuộc tầng lớp “dưới đáy” xã hội. Dẫu các nhà văn Tự lực văn đoàn tập trung phản ánh, phê phán tư tưởng cổ hủ, lạc hậu vốn ăn sâu bám rễ trong đời sống nông thôn và trong nghịch cảnh thất thế, sa sút của người nông dân nhưng họ lại lí giải rằng: những thảm kịch ấy đều xuất phát từ những thói quen, trình độ thấp kém chứ không phải bị giai cấp địa chủ, quan lại bóc lột, đàn áp. Cách lí giải đó, thiết nghĩ các nhà văn Tự lực văn đoàn đã đứng trên lập trường tư tưởng cải lương...

02/03/2022 lúc 08:55
V
iệt Nam đứng vững trong suốt chiều dài lịch sử - một lịch sử liên miên chống hoạ ngoại xâm là nhờ sự tự vệ. Sự tự vệ này được biểu hiện trên hai phương diện: tự vệ bằng vũ lực, tức là sức mạnh chiến đấu và tự vệ bằng văn hóa. Tôi cho rằng, tự vệ bằng văn hóa là sự tự vệ to lớn nhất, bởi vì nó chống được sự đồng hóa của các quốc gia bành trướng, rõ nhất là Trung Hoa. Vì sao vậy? Vì Trung Hoa không chỉ là nước lớn, cai trị nước ta hơn nghìn năm mà vì Trung Hoa rất “gần” với chúng ta. Gần về phương diện địa lý (chẳng phải vì gần địa lý mà trong lịch sử Trung Hoa, nhiều vương triều đã chinh phạt, thu phục các tiểu vương trong Hán tộc và ngoài Hán tộc, đỉnh điểm là nhà Tần). Gần về phương diện tư tưởng, nhân sinh quan, thế giới quan (đều là các nước Á Đông). Hơn thế, Trung Hoa còn là một trong những cái nôi văn minh của nhân loại nên sức khai hóa rất lớn. Vì là nền văn minh xuất hiện sớm nên cách thức tổ chức xã hội, hình thành nhà nước của Trung Hoa cũng xuất hiện sớm. Chính Việt Nam đã tiếp thu cách thức tổ chức bộ máy nhà nước của Trung Hoa, xây dựng, củng cố nhà nước phong kiến tập quyền. Cố nhiên, nền phong kiến ấy lấy học thuyết Nho giáo làm nền tảng tư tưởng và chế độ khoa cử để chọn đội ngũ quan lại nên Việt Nam tiếp thu luôn cách xây dựng nhà nước dưới nhãn quan Nho giáo và chế độ khoa cử. Vậy mà, Việt Nam đã đứng vững, đã thể hiện được bản sắc. Còn hôm nay, trong xu trào hội nhập, trước các “sức mạnh mềm”, sự tự vệ của văn hóa Việt Nam đang có nhiều nghi ngại...

02/03/2022 lúc 08:55
Đ
ó là tên một bài hát về khát vọng thống nhất non sông của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ được nữ danh ca lấy đặt cho hồi ký nghệ thuật của mình. Vâng! Đời ca sĩ của bà gắn với ca khúc ấy. Bài hát chính là tâm trạng của bà, là tâm hồn bà gửi về miền Nam yêu thương, nơi có mối tình đầu xa cách...
Mở đầu tập hồi ký nghệ thuật của mình, bà đã dành những dòng đầy tâm huyết với cách mạng và với cuộc đời: “Tham gia hai cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại, góp phần vào công cuộc thống nhất và xây dựng Tổ quốc Việt Nam, lại thuộc lớp ca sĩ đầu tiên của nền âm nhạc xã hội chủ nghĩa, nhiều người động viên tôi viết hồi ký. Từ một nữ sinh Đồng Khánh Huế, mười bốn tuổi thoát ly gia đình theo cách mạng, không tránh được những bỡ ngỡ non nớt ban đầu, nhưng luôn nỗ lực vươn lên hoàn thiện mình trở nên tiến bộ hữu ích cho đời, nên dù ở tuổi bảy lăm, sức lực và tài năng hạn chế, tôi vẫn cố viết, chủ yếu cho thân nhân hiểu thêm con người trong một giai đoạn lịch sử vinh quang. Đặc biệt là tôi muốn gửi vào đây những dòng tự sự của một nghệ sĩ suốt đời hiến dâng cho nghệ thuật, mang tiếng hát phục vụ nhân dân...”.
Với năm chục trang hồi ký, tuy ít ỏi nhưng người nữ danh ca đã gói gắm trọn tấm lòng mình trong đó, từ tình cảm cách mạng trong sáng ngày còn là nữ sinh Đồng Khánh, đến tình yêu Tổ quốc, quê hương, tình cảm với người cha - một doanh gia yêu nước, rồi với mạ, với những kỷ niệm đẹp thời làm điệp viên thành Huế và tuổi hai mươi tươi đẹp nhưng khổ đau. Có lẽ bà đã cố tình không khơi gợi nhiều về mối tình đầu mà bởi hoàn cảnh và thời gian cùng không gian xa cách làm cho ngang trái, nhưng chỉ ba trang sách, cùng với bản nhạc “Xuân chết trong lòng tôi” của người tình Hoàng Thi Thơ viết tặng cô nữ sinh Huỳnh Thúc Kháng Trương Thị Tân Nhân - tưởng rằng đã hy sinh khi chạy giặc tại miền Tây xứ Nghệ mà viết tặng với tất cả niềm đau. Bà viết: “Tiếng đồn ra trường Huỳnh Thúc Kháng là Tân Nhân bị chết trong trận càn. Một anh bạn học cùng quê - nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã “truy điệu“ tôi bằng bài hát “Xuân chết trong lòng tôi”. Cả trường đã hát, đã khóc, đã xót thương tôi ra đi quá trẻ...

02/03/2022 lúc 08:55
Ô
ng không phải là người Quảng Trị nhưng tâm huyết của ông đã dành cho mảnh đất và con người Quảng Trị là rất lớn. Ông thông hiểu Quảng Trị với vốn kiến thức phong phú, toàn diện về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, lịch sử, phong tục, tập quán, danh nhân...từ xưa đến nay. Ông khiêm tốn nói về cuốn sách “Non nước Quảng Trị”, dày hơn 500 trang của ông do Nhà xuất bản Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh ấn hành không phải là địa chí nhưng nhiều người gọi đó là địa chí đích thực. Ông là Nguyễn Đình Tư, nhà nghiên cứu với hơn 40 đầu sách đã xuất bản và 7 cuốn sách sắp xuất bản.
Cơ duyên ông Nguyễn Đình Tư viết cuốn sách “Non nước Quảng Trị” cũng rất đặc biệt. Ông kể: “Mùa hè năm 1972 được mệnh danh là “Mùa hè đỏ lửa”. Tôi đang sưu tầm tư liệu để viết cuốn “Non nước Bình Thuận” cho trọn bộ các tỉnh Nam Trung Bộ của Giang sơn Việt Nam nhưng thấy trên báo chí, trong các trường học, trong các công sở, trong các quán cà phê dọc đường phố, kể cả các xóm lao động, đâu đâu người ta cũng bàn tán về cuộc chiến ác liệt đang xảy ra ở Quảng Trị. Tôi bèn dẹp việc viết về Bình Thuận, quay sang tập trung sưu tầm, nghiên cứu tư liệu để viết về non nước Quảng Trị, mong kịp thời giúp đồng bào biết được một tỉnh “giới tuyến” mà mọi người đang dồn mắt nhìn về phía đó”...

02/03/2022 lúc 08:55
T
rong tâm khảm của mỗi người dân Việt Nam từ thế hệ này đến thế hệ khác mãi khắc ghi tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác Hồ để phấn đấu vượt qua mọi khó khăn thách thức thực hiện thắng lợi con đường mà Bác đã chọn. Trong phạm vi một bài viết không thể nói hết phong cách của Người mà chỉ giới hạn phần nào phong cách của Người đối với quần chúng qua những hình ảnh thường gặp, qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua sách báo trong nước và nước ngoài.
Tuần báo “Đây Paris” ra ngày 18/6/1946 là một trong những bài viết sớm nhất, tương đối đầy đủ nhất về phong cách của Bác Hồ: "Chủ tịch nước Việt Nam là một người giản dị quá đỗi. Quanh năm ông chỉ mặc một bộ áo ka ki xoàng xĩnh và khi những người cộng tác quanh ông để ý với ông rằng với địa vị ông ngày nay, nhiều khi cần phải mặc cho được trang trọng thì ông chỉ mỉm cười trả lời: "Chúng ta tưởng rằng chúng ta được quý trọng vì có áo đẹp mặc, trong khi bao nhiêu đồng bào mình trần đang rét run trong thành phố và các vùng quê"?(1). Trong những ngày thường, ông dùng cơm ở Bắc Bộ phủ, ngồi chung với hết thảy mọi người. Người ta thấy quây quần xung quanh bàn ăn: các bộ trưởng, những thư ký và cả những cậu thiếu niên phục vụ bàn giấy. Nhờ có đức tính giản dị của ông mà khi ngồi ăn với mọi người, ông không làm ai phải giữ kẽ nhiều quá mà trái lại, không khí chung lộ ra, lúc nào cũng thân mật, cũng vui vẻ của một bữa ăn gia đình.
Tính giản dị và thân mật của ông còn biểu lộ ra trong những bài diễn văn. Không bao giờ ông tỏ vẻ thông thái, vốn rất rộng của ông. Ông thông thạo bảy thứ tiếng khác nhau và nói được rất nhiều tiếng thổ âm, trái lại ông chỉ dùng những câu nôm na khiến cho một người dù quê mùa, chất phác nghe cũng hiểu ngay được. Ngày ông viết xã luận cho báo Cứu Quốc, trước khi đem bài cho nhà in, bao giờ ông cũng đem đọc cho một số người không biết chữ, ông già, bà già cùng nghe. Nếu ông thấy thính giả tỏ vẻ không hiểu mấy những ý tưởng trong bài viết, lập tức ông viết lại ngay bài khác...

02/03/2022 lúc 08:55
C
ác quốc gia trên hành lang kinh tế Đông - Tây gồm: Myanmar, Lào, Thái Lan và Việt Nam có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, là một trong những cái nôi hình thành nên nền văn minh nhân loại. Tại các miền đất này nhiều sắc thái văn hóa đặc sắc, độc đáo đã hình thành và phát triển. Đặc điểm chung nhất quyết định điểm tương đồng về văn hóa của các nước trên hành lang kinh tế Đông - Tây là sự giống nhau về hình thức canh tác: Gieo trồng lúa nước. Từ hoạt động canh tác đặc thù này mà cư dân ở các nước trong khu vực sinh sống chủ yếu theo hình thức quần cư, tụ cư. Hoàn cảnh sinh sống và điều kiện làm việc này đã sinh mối quan hệ cố kết bền chặt trong cộng đồng: Từ quan hệ gia tộc đến quan hệ trong làng bản, buôn sóc... Đây là đặc điểm nổi bật nhất và cũng là sự tương đồng lớn nhất về văn hóa của các nước trên Hành lang kinh tế Đông - Tây.
Các quốc gia trên Hành lang kinh tế Đông - Tây đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa. Trong đó văn hóa Phật giáo và các quan niệm như triết lí nhân quả, luân hồi, nghiệp báo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tâm linh và quan hệ xã hội. Trong quá khứ, hầu hết các dân tộc các nước trên Hành lang kinh tế Đông - Tây chịu sự đô hộ của nước ngoài nên có khát vọng được chung sống trong hòa bình, trân trọng sự hòa hiếu, tha thiết vun đắp tình hữu nghị giữa các dân tộc, giữa các cộng đồng dân cư và các tộc người.
Từ sự cộng hưởng về văn hóa, lịch sử, tôn giáo và tính ngưỡng của các quốc gia Hành lang kinh tế Đông - Tây cộng thêm sự đồng dạng của hoạt động sản xuất nông nghiệp, trong đó gieo trồng lúa nước là hình thức canh tác chủ đạo mà các dân tộc của các quốc gia trong tiểu vùng đều có những mẫu số chung rất căn bản về phong tục, tập quán, cách ứng xử, cách tư duy...

02/03/2022 lúc 08:55
C
ó một Hồ Nguyên Kha bận rộn với nghề báo, thường tất tả ngược xuôi với dáng vẻ lo toan công việc, đôi lúc pha chút ồn ào, bụi bặm khi ngụp lặn giữa đời-thường-không-đơn-giản. Lại có một Hồ Nguyên Kha khác trong những đêm về ngồi đối diện với chính mình lặng lẽ suy tư và đa cảm, thấy cần phải giãi bày tâm sự, nhất là khi ngược lối trở về ký ức tươi xanh và đau đáu.
Rồi Kha cầm bút và viết.
Tập tạp bút “Rưng rưng màu khói” của Hồ Nguyên Kha không nói đến những điều to tát. Vả chăng điều đó cũng không dễ thích hợp với những tâm tình riêng tư của một con người đang muốn trút niềm riêng. Tác giả như muốn thầm thì với những ai đồng điệu, trước tiên về những kỷ niệm làng quê dấu yêu và đắng đót. Những kỷ niệm từ làng Mai Xá - Gio Linh cứ cuộn lên như màu khói bếp lam chiều khiến chàng trai ra chốn thị thành cồn cào nỗi nhớ: “Chiều nay, tôi chợt thấy làn khói mỏng manh bay lên từ cánh đồng ven sông vừa xa lạ vừa thân quen. Dù chỉ là thoáng chốc nhưng đã làm sống dậy ký ức một thời nghèo khó nhưng rất đỗi thanh bình; là mái ấm gia đình đầy yêu thương sau lũy tre, dưới mái nhà rơm rạ; là những ngày thơ bé êm trôi bên miền quê thôn dã; là khoảng trời yêu thương đằm thắm và thổn thức...”(Rưng rưng màu khói). Chợt nhớ đến một câu thơ kinh điển của Huy Cận trong nỗi nhớ “Tràng giang”: “Lòng quê dờn dợn vời con nước/Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Nỗi nhớ làng quê cứ như con sóng liên hồi vỗ nhịp miên man vào những bến bờ của miền ký ức. Ngòi bút Hồ Nguyên Kha dẫn lối người đọc từ “Nhớ ngọn rơm vàng”, “Nhớ bác phó cối” đến “Nghe ký ức dòng sông”. Người viết rủ rê, kết bạn để cùng trải nghiệm trên một chuyến đò quê chở đầy phong vị miệt làng trên sông Hiếu: “Tôi ngồi giữa ngổn ngang quang gánh, ngổn ngang rau, dưa, vịt, gà, cá, mắm; ngổn ngang tiếng cười nói mộc mạc hương quê. Những mùi vị và âm thanh đặc trưng ấy chính là hồn cốt của đời tôi, luôn gần gũi và gắn bó khi đã từng lãng du cùng con sông nối tiếp cuộc hành trình xuôi về nguồn cội” (Khúc tự tình sông nước)...

02/03/2022 lúc 08:55
D
ự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 được đưa ra lấy ý kiến thảo luận, đóng góp của toàn dân đã khá đầy đủ nội dung, và súc tích hơn văn bản Hiến pháp 1992 vì đã rút gọn đến 23 điều, giảm bớt được nhiều câu chữ dài dòng không cần thiết. Tuy vậy nếu lấy quan điểm, lấy lời dạy của Bác kính yêu đối với mọi người khi viết và nói để đối chiếu với văn bản dự thảo lần này chúng tôi thấy còn có thể viết ngắn gọn, cô động hơn mà vẫn đúng, đủ nội dung cần đề cập.
Sinh thời Bác thường nhắc nhở mọi người khi viết và nói: Ý tứ nên rõ ràng, ngôn ngữ nên phổ thông, câu chữ nên ngắn gọn. Nên dùng ít từ nêu nhiều ý, dùng từ nhỏ nêu ý lớn. Không nên dùng từ to nêu ý nhỏ, dùng nhiều từ nêu ít ý, chớ dìm ý tứ trong biển chữ. Đồng thời Bác cũng đề ra phương châm: Làm rất nhiều. Nói rất ít, học rất kỹ, nghĩ rất sâu, viết rất ngắn, hiểu rất dễ. Có như thế dân mới dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện. Nêu gương sáng: «Nói sao làm vậy.Những trước tác quan trọng của Bác như: Đường cách mệnh, Bản án chế độ thực dân Pháp, Tuyên ngôn độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến... đều rất súc tích ngắn gọn, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ đi sâu vào lòng người. Lấy quan điểm, lời dạy quý giá của Bác soi chiếu vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp tôi mạnh dạn đóng góp những ý kiến sau...

02/03/2022 lúc 08:55
1. “Biên tập” theo từ điển Tiếng Việt là biên soạn, góp ý kiến với tác giả, kiểm tra những sai sót của bản thảo tài liệu đưa đi xuất bản”. Biên tập được chia thành hai dạng chính, biên tập nội dung và biên tập hình thức. Tuy nhiên sự phân chia này chỉ mang tính hình thức vì giữa nội dung và hình thức luôn có mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời.
Biên tập là một khâu trong dây chuyền làm báo, biên tập là người “gác cổng”, là vai trò chủ biên rất lớn trong việc loại bỏ những sai sót về nội dung và hình thức, thậm chí những ý đồ xấu, những quan điểm sai trái lọt vào tác phẩm. Các nhà biên tập bằng vốn kiến thức sâu rộng của mình, sẽ là người giúp tác giả chỉnh đốn lại tác phẩm. Nhiều tác phẩm qua bàn tay người biên tập trở nên hoàn chỉnh, bởi người biên tập sẽ làm đẹp, làm hay cho tác phẩm nâng cao cái vốn có của tác giả. Đó là trách nhiệm chính trị của người biên tập trước bạn đọc và tác giả.
Công việc hàng ngày của người biên tập không chỉ là sửa lỗi ngữ pháp, chính tả, cắt chỗ thừa, đắp chỗ thiếu hoặc sửa lại một đoạn nào đó cho rõ ràng với tinh thần trách nhiệm cao. Biên tập ngày nay như người vừa nấu bếp vừa chào khách, mời khách và nắm rõ thị hiếu của khách. Họ không chỉ biết nấu giỏi món của tòa soạn mà còn cả những món công chúng ưa thích. Ranh giới giữa các loại báo chí trong nước hiện nay dưới sức ép của cơ chế thị trường dường như đang bị phá vỡ, biểu hiện rõ nhất là các chuyên mục văn hóa văn nghệ. Tờ báo nào cũng có nội dung na ná giống nhau. Biên tập viên báo văn nghệ nếu không có sự nhạy cảm, thiếu sự nhạy bén, không quán xuyến hết công việc sẽ rất dễ dàng bị thủng lưới: dùng bài cũ, hoặc bài kém chất lượng. Người làm biên tập lại càng nên có thái độ cầu thị, công tâm và lắng nghe ý kiến của bạn đọc, không vì nể nang mà sử dụng bài sai về kiến thức và học thuật mất dần uy tín tờ báo mà các thế hệ đi trước đã dày công xây dựng. Cũng có nhiều nguyên nhân khiến biên tập viên chưa làm tròn vai trò trách nhiệm của mình. Cũng có thể do hạn chế về năng lực, về trình độ, đó là điều đáng buồn nhưng có thể sửa chữa bằng rèn luyện, học hỏi. Điều đáng ngại nhất của người biên tập chính là biểu hiện chưa hết lòng, thiếu công tâm trong việc chọn bài và sử dụng tác phẩm...

02/03/2022 lúc 08:55
N
ghiệp dĩ dường như đã chọn nhà báo Trương Đức Minh Tứ như một định mệnh. Dù rằng, hệ lụy từ những bài báo buổi chập chững ban đầu đã “quất” cho anh không ít lằn roi đau đớn. Nghề báo từng đưa anh đi xa nhưng rồi gọi anh về lại với miền đất Quảng Trị quê hương còn nhiều thương khó. Nơi đây, ngòi bút của Minh Tứ được thăng hoa và định phận, trở thành một cây bút tên tuổi, có phong cách trong làng báo miền Trung nói riêng và báo giới nói chung.
Có nhiều dụng công để người ta có thể “đọc” được nhau qua tính cách, ngôn phong, ứng xử hàng ngày…nhưng với Minh Tứ, “âm bản” tâm hồn anh có lẽ là những trang viết thấm đẫm tình đời, tình người trong suốt 25 năm cầm bút. Đất và người Quảng Trị trong quá khứ, hiện tại đều đồng hiện, hóa tính lẫn nhau thành một thứ men say phát khởi tự tâm, để anh được dự phần và nói lên bằng chính ngôn phong của riêng mình.
Minh Tứ say mê nghề báo và đã viết nhiều bài báo trên các báo Trung ương và địa phương khi đang còn học tại Khoa Ngữ văn (Đại học Tổng hợp Huế). Anh có một thời gian trải nghiệm ở vị trí phóng viên của Đài Phát thanh-Truyền hình tỉnh Gia Lai- Kon Tum (cũ). Năm 1990, anh trở về quê Quảng Trị làm việc ở Báo Quảng Trị khi tờ báo mới được thành lập. Trong thời gian này, anh bị ngay “cú sốc” nghề nghiệp khi viết phóng sự “Lao Bảo, những ngày sôi động”. Bài báo nêu trường hợp con trai một quan chức ngành nội chính tỉnh có dính líu tới buôn lậu. Vị cán bộ này đã phát đơn kiện nhà báo vì tội vu khống, làm ảnh hưởng thanh danh gia đình ông ta. Nhà báo Minh Tứ “thoát nạn” được nhờ đầy đủ tài liệu xác thực, có cơ sở pháp lý của thông tin trong bài viết...

02/03/2022 lúc 08:55
T
ừ sau đổi mới đến nay, văn xuôi nói chung và tiểu thuyết viết về nông thôn nói riêng đã thu hút sự quan tâm của bạn đọc, giới nghiên cứu. Đã có một số bài viết khá phong phú, in rải rác trên các tạp chí, báo chuyên ngành và những công trình sách, luận văn, luận án đã hoặc chưa xuất bản. Từ thực tế trên, chúng tôi hệ thống để có một cái nhìn tương đối toàn cảnh về lịch sử nghiên cứu của đề tài nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012. Qua đó, thấy được bước ngoặt chuyển mình của tiểu thuyết viết về nông thôn ở giai đoạn này.
1. Những ý kiến khẳng định sự đổi mới, hồi sinh của đề tài nông thôn
Ở mảng văn xuôi nông thôn, Trần Cương có bài Văn xuôi viết về nông thôn từ nửa sau 80. Từ điểm nhìn tổng quan, tác giả đã khái quát được những nét cơ bản về nông thôn từ 1930 - 1975, nhìn chung bức tranh hiện thực nông thôn thuộc phần “bề nổi” của cuộc sống, đó cũng chính là những phần bức thiết bấy giờ. Đến giai đoạn tiền đổi mới, trong bối cảnh Việt Nam sau chiến tranh với những tổn thất nặng nề, nền kinh tế tự cung tự cấp, cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp ngày càng bộc lộ nhiều khuyết tật… nên tâm lý chung của toàn xã hội là truy tìm nguyên nhân của những yếu kém xuống cấp. Đứng trước những trăn trở đó, văn xuôi và tiểu thuyết nông thôn bắt đầu chuyển mình và đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, thế nhưng thật sự đổi mới phải bắt đầu sau Đại hội Đảng lần VI. Sự đổi mới có được nhờ từ hai phía: sự chuyển mình của nông thôn và sự chuyển đổi điểm nhìn từ chính bản thân của mỗi nhà văn. Khác với Trần Cương, trong bài Tiểu thuyết mở đầu thế kỷ XXI trong tiến trình văn học Việt Nam từ tháng 8-1945, Phong Lê không đi sâu tìm hiểu văn xuôi viết về nông thôn. Ở đây, tác giả đã nhìn truyền thống văn học trên hai đề tài lớn: chiến tranh và nông thôn. Trong đó, đề tài nông thôn “có chiều dài lịch sử ngót một thế kỷ mà công lao tạo dựng đầu tiên là hơn một thế hệ người viết, kể từ Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn… đến Ngô Tất Tố, Nam Cao…

02/03/2022 lúc 08:55
T
ập truyện này sẽ cho ta ấn tượng như đọc một tiểu thuyết. Một ngôi chùa ở đâu đó giữa miền Trung. Một nhà sư, một chú tiểu và thấp thoáng một chị bán vải là Phật tử. Chú tiểu vốn là một đứa trẻ bướng bỉnh, được cha mẹ gửi vào chùa để cải nghiệp. Qua mắt chú mà hình ảnh ngôi chùa hiện lên, sư thầy hiện lên, thế giới hiện lên, giáo lý đạo đức được vận dụng. Đời sống nhân sinh cũng được lọc qua mắt trẻ thơ mà mang nhiều hàm nghĩa. Đời sống nhân sinh cũng không chỉ nhẹ nhàng phảng phất theo chân chị bán vải mà vào chùa.
Tác giả Hoàng Công Danh nhìn thế giới, vốn không phẳng lặng và không đơn giản, qua cặp mắt một đứa trẻ. Ngộ nghĩnh, hóm hỉnh, nhưng sáng rõ, rành mạch. Giáo lý và nhận thức cuộc sống vì vậy đã trở nên sống động và khá hấp dẫn.
Mỗi truyện đều được tác giả dụng công tạo ra một hình ảnh làm cái neo cho người đọc, gây ấn tượng vương vấn cả khi ta đã gấp sách lại. Đấy là chi tiết nhà sư cõng cô gái qua suối, là cơn đau bệnh tật của chú tiểu khiến chú phải uống thuốc, nhưng cái đau trong tâm của nhà sư thì ai chữa và thuốc nào chữa lành? Một ngày điệu Sanh theo thầy vào thành phố, người tu hành vào giữa chợ đời, thầy muốn dạy cho chú bài học đầu tiên là bài học về con đường. Chú bé chỉ nhớ một ấn tượng: thành phố đông người đi trên đường, và ai cũng đeo theo mình một cái bóng đen ở dưới chân. Rồi ở chùa, mấy đệ tử của thầy giao động mất niềm tin vào thầy mà bỏ đi, lá rơi đầy sân chùa, ai sẽ quét lá nhặt lá cho sân sạch si sạch? Chuyện con chim dòng biết nói câu “Mạ đi chợ về chưa?” đến đoạn kết thì gây rung chuyển trong tâm người đọc. Rồi thêm chuyện con heo đến chùa như có căn tu, được nhà sư chăm nuôi, mà gây ra bao chạnh lòng xao xuyến...

02/03/2022 lúc 08:55
T
ôi đọc đâu đó ý kiến cho rằng “Dễ hiểu và đơn giản không phải là thuộc tính của thơ. Đọc qua tưởng đúng, nhưng không đúng. Thuộc tính (Property) là đặc tính vốn có của sự vật, nhờ đó sự vật tồn tại và qua đó con người nhận thức được sự vật, phân biệt được sự vật này với sự vật khác. Thuộc tính của thơ, như nhiều ý kiến đã đúc kết là yếu tố trữ tình, là sự bộc lộ tâm trạng buồn vui của tác giả từ đó mang lại cho người đọc những rung động mỹ cảm… Khó hiểu và dễ hiểu, phức tạp và đơn giản thuộc một phạm trù khác chẳng dính líu gì đến thuộc tính của thi ca, cũng như không thể bảo bốc cháy là thuộc tính của nước vậy. Khó hiểu, dễ hiểu, đơn giản, phức tạp là những đặc điểm thuộc lĩnh vực nội dung văn bản, là cách viết của thơ cũng như bất kì loại văn bản nào chứ không là thuộc tính.
Chúng tôi đồ rằng ý kiến trên muốn nói những bài gọi là thơ nếu đơn giản, dễ hiểu không phải là thơ. Hiểu thế lại càng sai, bởi có nhiều bài rất dễ hiểu, rất đơn giản nhưng rất thơ, ngược lại có những bài khó hiểu và rối rắm nhưng không phải là thơ; mấu chốt của vấn đề là nó có chứa đựng những thuộc tính của thơ hay không mà thôi, nghĩa là nó có làm người đọc xúc động thông qua ngôn ngữ, hình ảnh không hay chỉ nhận biết trần trụi.
Trong phong trào nhà nhà làm thơ làng làng làm thơ ta bắt gặp rất nhiều bài ghép vần đọc một lần hiểu ngay không cảm xúc, không rung động. Những bài này đích thị chẳng thơ chút nào rồi, nó khác hoàn toàn thơ đích thực tuy giản đơn, dễ hiểu. Thăm lúa của nhà thơ Trần Hữu Thung là một bài như thế. Bài thơ đọc đến đâu hiểu ngay đến đó, rất giản dị nhưng rất giàu chất thơ với những hình ảnh gợi cảm khiến chúng ta vô cùng xúc động. Ngay 3254 câu Truyện Kiều đa phần cũng không khó hiểu (dĩ nhiên nhiều câu đọc lâu mới ngẫm ra và trong đó có những bí mật văn chương chưa được khám phá) cho nên ngay người mù chữ cũng thuộc nằm lòng và khó khăn của cụ Nguyễn Du là tìm cách diễn đạt trong sáng nhất kể cả các điển tích để không ai không hiểu chứ không phải làm khó vấn đề lên. Vậy là nội dung thơ đích thực quan tâm đến vấn đề dễ hiểu, khó hiểu, đơn giản hay phức tạp, chỉ là cách làm. Đó là những yếu tố ngoài thơ, không can dự đến chất lượng bài thơ. Còn loại gọi là thơ khó hiểu nhưng chẳng thơ chút nào ngày nay nhan nhản nơi nơi. Đó là loại ghép chữ có vần hoặc không vần rối rắm, mù tịt, hũ nút, thơ đánh đố núp dưới nhãn mác làm lạ học theo thơ hậu hiện đại, tân hình thức ngay tác giả của nó cũng không biết mình viết gì. Đó là loại thơ gồm những câu rời rã, vô nghĩa mà nhiều kẻ hợm vẫn cho là thơ phải khó hiểu mới là sang trọng, thời thượng, mới thâm hậu, cao siêu…

02/03/2022 lúc 08:55
C
ó thể còn có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan khác nữa để tờ Tạp chí văn nghệ địa phương phát triển ổn định, bền vững và có những đóng góp xứng đáng vào đời sống văn hoá văn nghệ chung của cả nước mà 6 tờ tạp chí Bắc miền trung chúng ta từng luân phiên tổ chức. Song bằng vào kinh nghiệm nhiều năm làm ở Tạp chí Cửa Việt (TCCV), tôi chỉ đề cập đến 3 vấn đề, nói khác đi là 3 nhân tố cần và đủ; Đó là: 1- Truyền thống lịch sử, văn hoá vùng đất nơi tờ tạp chí đứng chân 2- Cộng tác viên và chất lượng đội ngũ cầm bút 3- Bộ máy tinh và gọn của tờ tạp chí cùng với cơ chế chính sách kèm theo.
1- Truyền thống lịch sử, văn hoá vùng đất: Trải qua những thăng trầm thế cuộc đã để lại cho mảnh đất Quảng Trị những dấu ấn lịch sử văn hoá đặc sắc. Kể từ khi Lý Thường Kiệt cưỡi ngựa tới Cửa Việt- Cồn Tiên, bắc con sông Hiếu, bắc cầu Đông Hà bây giờ để vẽ địa đồ tổ quốc, định cương vực trong “Nam quốc sơn hà”, bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta vào năm 1075 thì trước đó sông núi, con người Quảng Trị đã tồn tại từ ngàn năm trên bản đồ nước Văn Lang của các vua Hùng, mang trong mình dòng máu con Rồng cháu Tiên. Như vậy, từ thuở bình minh của lịch sử, mảnh đất và con người Quảng Trị là một khối thống nhất trong cộng đồng người Việt cổ trong cái nôi văn minh sông Hồng.Gần 300 năm sau, khi xảy ra đám cưới công chúa Huyền Trân mới có các cuộc di dân lớn bắt đầu từ năm 1307. Và 200 năm sau nữa, chuá Tiên Nguyễn Hoàng mới vào Ái Tử-Quảng Trị, từ đây bắt đầu công cuộc mở mang bờ cõi về phương Nam. Cái gốc, tính cách của người Quảng Trị vẫn là Thanh Nghệ Tĩnh; gia phả nhiều ngôi làng, nhiều dòng họ ghi rõ điều đó. Song vị trí địa lý vùng đất Quảng Trị là cái cửa ngõ giao lưu với nhiều luồng văn hoá, trước hết nó nằm trên đường thiên di của luồng văn hoá từ Bắc xuống Nam; từ Đông sang Tây bởi các quốc gia trên hành lang kinh tế Đông tây như Lào, Thái Lan, Myanmar...(các quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Phật giáo Ấn Độ); và nhiều tầng văn hoá bản địa đa dạng khác như Chăm, Vân Kiều, Pako...

02/03/2022 lúc 08:55
M
ỗi người giải bày tình yêu theo cách của riêng mình. Nhưng có lẽ đóng dấu lên thời gian bằng ngôn ngữ trái tim thì thơ là ấn chỉ khó phai mờ nhất. Trên dặm dài nắng mưa mở lối, người thơ nhận ra cõi nhân gian lạ lẫm mà thao thiết, xa xôi mà nồng mặn. Hồ như những vui buồn, ngọt đắng đem chưng cất thành men để tìm tới sự ấm áp. Đấy là thứ men tình ngấm sâu trong cốt cách sinh hạ nênmột Đậu Trung Thành thi sĩ.
“Tôi sinh ra ở một làng quê thuần nông ven biển như bao làng quê xứ Nghệ - Miền Trung, miền đất ngập tràn ánh nắng và lộng gió đại dương, ngực đất ưỡn ra biển Đông che chắn bao mùa bão tố”. Chỉ chừng mấy dòng tự bạch ấy thôi đủ thấy cái “chất Nghệ” can trường trong giòng sống cuộc đời của một con người. Và dễ hiểu vì sao chàng trai trẻ thuở nào không ngại ngần tạm biệt khung trời in “dấu thời gian”:
Tạm biệt nhé, mái nhà tranh bé nhỏ
Dưới chân đồi nham nhở hố bom
Tạm biệt nhé, con đường đất đỏ
Dấu chân ta năm tháng in mòn.
(Lên đường)
Năm tháng ở bộ đội đã tôi rèn thêm nghị lực, bồi thêm bản lĩnh vừa mạnh mẽ vừa dí dỏm, hài hước (humour) trong anh. Điều dường như trở thành lợi thế của công việc cần đến sự quyết đoán trong hài hòa, cân bằng trong xô lệch của nhà quản lý sau này...

02/03/2022 lúc 08:55
Đ
ã quá lâu, kịch Việt Nam không dựng vở mới, nếu như không phải là kịch lịch sử theo kiểu "mượn xưa nói nay". Thế nên, Tai biến khiến khán giả phải giật mình thích thú trước sự trở lại của một thương hiệu kịch.
"Xin cho tôi nói thẳng"
Cái dẫn đề về giáo dục của Hồ Ngọc Đại này dường như chính là tâm thế của Xuân Đức lúc chắp bút viết kịch bản Tai biến.
Không khó để nhận ra cái chất Xuân Đức trong cách dẫn chuyện, cách đối thoại và cả cách bài trí sân khấu tâm đầu ý hợp giữa vị nhà văn và họa sỹ sân khấu "đắt show" Doãn Bằng. Có nhiều chi tiết trong Tai biến khiến người xem liên tưởng tới Những mặt người thấp thoáng - vở diễn đã làm hả hê khán giả tại Liên hoan Sân khấu kịch nói chuyên nghiệp toàn quốc 2012. Nhưng nếu như trong Những mặt người thấp thoáng, Xuân Đức còn dè dặt - dè dặt viết và dè dặt nghĩ là "chắc gì đã qua được vòng thẩm định", thì với Tai biến, ông đã được phóng tay. Phóng tay ở bối cảnh - cuộc sống hiện đại ngày hôm nay; phóng tay ở vấn đề - bất động sản và tham nhũng; phóng tay ở tầm mức của vấn đề: sự tha hóa của cán bộ từ cấp Bộ đến cấp Trung ương; phóng tay ở cách kết thúc vấn đề: cái thiện thất bại, cái xấu không thỏa thiệp và không nhượng bộ. Chỉ có một tòa án tâm linh được mở ra ám ảnh người chứng kiến, chỉ cho ta rõ đúng - sai/thiện - ác, để mỗi người tự soi lại mình, chứ không đặt ra một sự sám hối khiên cưỡng, mà nếu có, sẽ mang tiếng là "viễn cảnh", là "tô hồng hiện thực"...
Hiện tại
26°
Mưa
20/04
25° - 27°
Mưa
21/04
24° - 26°
Mưa
22/04
23° - 26°
Mưa