|
V |
ậy là rốt cuộc, sau 45 năm đằng đẵng, tôi cũng đã có được dịp cùng các anh chị trong Hội Văn nghệ tỉnh và Tòa soạn tạp chí Cửa Việt đặt chân tới làng biển Cương Gián, thăm quê hương và viếng nơi an nghỉ của bạn thơ cũ Dương Tường. Buổi chiều hôm ấy, thời tiết dường cũng chiều người, nắng nhẹ và gió nồm hây hẩy đưa xe chúng tôi đi qua đường làng quanh co, lên xuống, thỉnh thoảng bị cắt ngang bởi những dòng khe cạn, nhưng lại đầy bóng râm bạch đàn và dương liễu, giữa vùng đất cát thuộc xã Trung Giang, phía Nam hạ lưu sông Bến Hải. Biết gia đình anh không có ai còn lại ở làng, cô Dương Hồng Thám - hướng dẫn viên trong đoàn - nhờ người cháu gọi anh bằng chú thúc bá là chị Dương Thị Tùng dẫn dắt chúng tôi đi thẳng ra động cát xóm Đông, nơi đặt phần mộ của anh.
Tuy đã được chị kể cho biết trước, chúng tôi vẫn không ngờ ngôi mộ cũ, cách đây ba năm, được người dân về đắp dựng lại khá bề thế như vậy. Gọi là một ngôi lăng - như địa phương thường gọi - thì đúng hơn; bốn phía xây tường, lối vào dựng hai trụ, trước mộ có bình phong, đầu mộ xây bệ thờ có mái đúc che. Nhưng điều khiến chúng tôi bất ngờ nhất, đó là lý do chính của việc xây lăng mà chị Tùng ngỡ đoàn hẳn biết từ lâu thì đến lúc này chúng tôi mới rõ: Năm 1995, Dương Tường đã được nhà nước ta công nhận là liệt sĩ. Đọc hàng chữ ghi đậm nét, ai cũng thấy vui lên. Chúng tôi bước vào lăng với trong lòng một nỗi buồn đau chen lẫn thanh thỏa bởi được chia sẻ niềm an ủi của hương hồn anh và một nỗi tiếc thương chen lẫn tự hào khi giới văn nghệ tỉnh nhà có một tấm gương quên mình vì nghĩa. Tôi bước tới thắp nén hương và đứng mặc niệm mà trong tâm trí cứ hiện lên mãi hình ảnh của anh những ngày chia nhau cơm chua nước ruốc ở Văn Vận, Khe Su, những buổi chạy càng ngồi bàn công tác của nhóm Nguồn Hàn bên suối núi Chúa Ngà, những đêm rộn rịp quên khuya ngâm thơ, chép hò ở đồng bằng Triệu Hải… 40, 45 năm về trước.
* * *
Dương Tường và tôi gặp nhau vào cuối năm 1948 tại chiến khu Ba Lòng, trong một buổi họp mặt anh chị em sáng tác do các anh Lưu Trọng Lư, Vĩnh Mai và Trường Sinh(1) triệu tập để bàn về việc tổ chức trại văn nghệ thành lập nhóm Nguồn Hàn. Dạo ấy toi đang công tác tại UBKCHC tỉnh và đã viếtc các bài thơ Cô lái đò, Trạm bên đường, Đường núi, còn Tường thì vừa đi học lớp văn nghệ kháng chiến khóa 2 do Đoàn văn nghệ kháng chiến Khu IV tại Thanh Hóa mới về. Đó là một chàng trai 22 tuổi, người cao, thông minh, nước da trắng, năng động và cũng đã có một số thơ, trong đó có bài Giữ mùa viết tại lớp, suýt giật đồng giải ba về thơ cùng với bài của anh Xuân Hoàng, Quảng Bình(2), thêm vào đó là một vở kịch ngắn nhan đề Ngọn đèn với nội dung địch vận. Hai anh em đọc thơ của nhau rồi trở thành bạn thân.
Mấy tháng sau, nhóm Nguồn Hàn chính thức thành lập, anh được của làm trưởng nhóm, tôi làm phó. Thế là mối tình bạn thơ được mối tình đồng đội, đồng chí tiếp thêm về chiều sâu. Nhưng chỉ một thời gian ngắn, do di căn sốt rét, tôi đã phải tạm từ giã công việc, ra Khu điều dưỡng. Anh lưu luyến tiễn tôi một quảng đường rồi cầm tay dặn dò về đường sá và mong tôi trở vào sớm "vì em còn kém về hành chánh lắm".
Tôi ra Khu chuyến ấy, nằm bệnh viện mấy tháng, nước da hồng hào lên rồi thì anh Hồng Chương đề đạt lên anh Đặng Thí(3), lúc đó là Khu ủy viên Chánh văn phòng Khu ủy, cho tôi được tạm ở lại công tác tại Tiểu ban Văn hóa Giáo dục, chờ tuyệt nọc và dự một khóa bồi dưỡng chính trị nghệ thuật xong rồi sẽ trở vào, thế là tôi lỡ hẹn với Dương Tường. Khi vào đến nơi rồi, lo chung công việc, tôi mới nhận ra tài năng của anh: gần một năm trường, một mình anh lo liệu cho nhóm, nào là tập họp nhóm viên cũ, kết nạp nhóm viên mới, nào là góp ý, hướng dẫn phong trào, viết báo cáo lên tỉnh, lên Chi hội văn nghệ Khu, lập dự toán và kế toán chi phí…tất cả đều đâu ra đấy. Vậy mà anh vẫn còn dành được thời gian đi về đồng bằng ngâm thơ, phổ biến thơ, gây thêm được mấy tổ sáng tác ở cơ quan huyện xã nữa. Song, đáng nói đến nhất là anh đã tranh thủ sáng tác, mà lại viết được mấy bài thơ có chất lượng như Dọn về làng và Tiếng dương Mỹ Thủy, một bài mà lúc bấy giờ tôi xem như một tấm bia căm thù cho làng; cả hai sau đó không những được phổ biến toàn Khu mà đến năm 1960 còn được đưa vào Tuyển tập thơ Việt Nam 1945 - 1960.
Vào cuối năm 1950, chúng tôi nhận được tin vui: nhóm Nguồn Hàn được Chi hội văn nghệ Khu chuyển thành Phân hội văn nghệ tỉnh và Dương Tường được đổi gọi theo tổ chức mới là Phân hội trưởng, còn tôi thì ủy viên thường vụ. Tiếp đến đầu năm 1951, tỉnh ủy chủ trương đình bản tờ Tiếng Vang của Ty thông tin và thay bằng tờ Tháng 8 của ủy ban mặt trận Liên Việt Tỉnh. Tôi được giao làm Thư kí tòa soạn, Tường đứng vào ban biên tập, vừa lo việc Phân hội, vừa đi cơ sở sáng tác và viết bài. Sự phối hợp này giữa hai đơn vị đã tạo nên một lực lượng có thể giúp nhau ứng phó với những công việc khó khăn khi cần thiết. Chính nhờ vậy mà các cuộc đại hội Phân hội văn nghệ tỉnh tháng 9 - 1951 đã thành công, mặc dù nội dung phong phú hơn trại Nguồn Hàn trước đã đành, mà phần tổ chức cũng quan trọng, chặt chẽ hơn, phần hậu cần cũng càng phức tạp hơn vì số hội viên đã về đông gấp bội, lại còn có thêm một số anh chị em văn nghệ văn công của Phòng chính trị Phân khu đến tham dự nữa…
Cùng chung công tác với Tường lâu, tôi càng nhận thấy anh không chỉ nhanh nhạy trong sáng tác mà còn tháo vát, chịu khó, không tự ái, không nề hà, lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ người khác. Mãi đến bây giờ, tôi vẫn cứ nhớ về anh trong hội nghị văn nghệ tại Cùa tháng 9 năm 1952. Đó là cuộc hội nghị văn nghệ quan trọng nhất về yêu cầu chính trị và đông đảo nhất về số lượng người dự ở Bình Trị Thiên, do anh Chế Lan Viên vào phụ trách về nội dung và giao Phân hội Quảng Trị phần hậu cần. Không may lúc đó tôi bị một mụn nhọt lớn ở bàn chân, không đi xa nổi. Biết thế nên đang lúc dù có "cô ấy" lên thăm, anh vẫn đứng ra nhận lấy nhiệm vụ khó khăn, mệt nhất là ra Cùa liên hệ với địa phương tìm cho được địa điểm tốt, có hội trường kín đáo, có nơi ăn chốn ở, có hầm trú ẩn và giao thông hào đảm bảo. Tưởng anh đi ít nhất cũng năm bảy hôm, không ngờ chỉ ba bốn ngày, trong khi tôi chưa tính xong khoản kinh phí và gạo củi, đã thấy anh trở về, báo cáo đã đến tận nơi xem kỹ mọi mặt. Chưa hết, hôm tổng kết bế mạc hội nghị, chẳng biết nhờ nguồn thông tin nào anh còn cùng ban hậu cần biện được một bữa liên hoan thịt tái mang rừng.
Sau hội nghị này ít lâu, có chủ trương của Chi hội khu bãi bỏ cấp Phân hội tỉnh và quyết định của Tỉnh ủy đình bản tờ tháng tám (vì báo của Trung ương và Khu đã phát hành rộng rãi vào rồi), tất cả anh em chúng tôi đều được chuyển sang Ty thông tin vừa đổi thành Ty Tuyên Truyền và Văn nghệ tỉnh. Dương Tường và tôi thay nhau người trực ban, người đi cơ sở.
Vào đầu mùa hè năm 1953, khi anh đang ở quê vợ tại Bích La đông thì nhận được thư của Ty mời anh lên chiến khu gấp để cùng tôi làm báo cáo về hoạt động văn nghệ kịp gửi lên văn phòng Tỉnh ủy theo yêu cầu. Do việc công khẩn, việc gia đình lại cần, anh xin được đưa "cô ấy" ra quê lo liệu thay mình rồi sẽ trở vô theo đường liên lạc của huyện. Để đảm bảo kịp ngày, anh phải vượt sông Thạch Hãn vào buổi sáng. Không ngờ hôm đó khách đông, gió to, đò nhỏ bị chìm. Một số, trong đó có "cô ấy", bơi ngược lại. Anh biết nhưng vẫn bơi tiếp, định qua bờ bên kia chờ. Đến chỗ nước cạn, anh nhìn lui, thấy có mấy chị em đang chới với vội vàng trở lại cứu. Không may anh gặp phải một dòng nước xoáy bất chợt, thế là tai họa xảy đến, không còn cách gì cứu vãn được nữa. Đó là cuộc chiến đấu vì dân vì nước cuối cùng của anh, của một hội viên Hội văn nghệ Việt Nam(4) đầu tiên tại tỉnh nhà. Bao nhiêu tài liệu đã chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc họp Ban văn nghệ, bao nhiêu bản thảo thơ văn riêng đã và chưa kịp phổ biến, bao nhiêu hi vọng đang tràn trề của anh, của gia đình và bạn bè, chỉ trong chớp mắt tất cả đã chìm vào trong dòng nước mênh mông và quái ác.
Hôm ấy là ngày 14 tháng 4 năm Qúy Tỵ, tức là ngày 26 tháng 5 năm 1953(5). Năm ấy, anh mới vừa tròn 27 tuổi(6).
Một cái chết quá bất ngờ và đau xót. Tin dữ đưa lên chiến khu mà không ai tin, không ai muốn tin. Thương tiếc một cuộc sống quá ngắn ngủi, một trái tim chân thực, cởi mở đối với mọi người, một tài hoa sớm lụi, một sự nghiệp chưa đi đến đích đã phải bỏ dở từ đầu. Khi tôi lên báo cáo với anh Công, Bí thư Tỉnh ủy, anh đã rơm rớm nước mắt.
Phần tôi, lúc nhận tin về anh cũng là lúc có điện của Ban tuyên huấn Khu gọi ra dự chỉnh huấn văn nghệ sĩ. Tôi xin anh Công cho tôi về quê sắp xếp việc nhà, rồi ra Cương Gián viếng mộ anh Tường, sau đó lên đường ra thẳng Khu luôn, có lẽ do xúc động chưa nguôi nên anh cũng không đồng ý. Thế là từ đó cho đến khi tập kết, việc công việc tư cứ chiếm hết thì giờ. Tới cuối năm 1972, tôi trở về với Quảng Trị, lại cũng do công việc và đường sá ngốc nghách nguy hiểm mà không đi được. Rồi hợp nhất tỉnh, rồi về hưu, vào cư trú tại thành phố Hồ Chí Minh, con đường ra Cương Gián cứ mỗi ngày một xa thêm.
Mãi đến buổi chiều ngày 6 - 5 năm nay,nhờ sự giúp đỡ chân tinh của Hội Văn nghệ tỉnh và Tòa soạn tạp chí Cửa Việt tôi mới có điều kiện đến viếng anh.Biết thế này là chậm trễ, là vô tình đấy, nhưng dù sao cũng vơi được nỗi day dứt bao lâu nay và lại được chia niềm an ủi với hương hồn anh khi đã được Nhà nước ta, nhân dân ta tôn vinh là một liệt sĩ, một nhà thơ sống xứng đáng, chết vẻ vang.
Tuy vậy, trong lòng tôi vẫn còn canh cánh một nỗi lo nghĩ nữa, đó là việc như Cửa Việt đã nêu lên và một số bạn bè cũ của anh đã hưởng ứng: "Làm sao để có một tập thơ văn của Hương Tường"(7). Đây là một công việc không dễ vì thơ văn anh lưu giữ trong sách vở, trong trí nhớ còn quá ít, phải tìm thêm một số nữa, nhất là vở kịch ngắn Ngọn đèn, thì mới có thể tính được chuyện in thành tập. Theo tôi, việc in ấn chắc không phải khó khăn gì lắm, bởi tôi tin rằng không chỉ gia thân anh mà các cơ quan văn hóa, văn nghệ, báo chí của tỉnh và bạn bè còn thương nhớ anh hẳn sẽ không tiếc gì với anh đâu. Tổn phí in một tập mỏng có là bao nhiêu so với việc dựng một gian nhà tình nghĩa.
Từ hôm đến viếng mộ anh Dương Tường đến ny, câu hỏi: "Liệu tập thơ văn của anh có ra được không và đến bao giờ thì ra?" cứ quanh quẩn mãi trong đầu tôi. Chắc rằng ở đâu đó, các bạn bè cũ của anh cũng đang thao thức chung với điều nghĩ ấy.
Thị xã Quảng Trị - Thành phố Hồ Chí Minh 7-98
L.A
______________________
(1) Tức anh Lê Chưởng, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Chính ủy Trung đoàn 95, chỉ đạo Ban vận động lập nhóm Nguồn Hàn.
(2) Tôi quên lững mất đầu đề, chỉ nhớ giải nhất là bài thơ Bài ca vỡ đất của anh Hoàng Trung Thông, giải nhì là bài Cò trắng phát thanh của anh Trần Hữu Thung.
(3) Trước đó là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị
(4) Anh và tôi được kết nạp vào Hội văn nghệ Việt Nam vào cuối năm 1951 hay đầu năm 1952, không nhớ chắc. Lúc này chỉ còn hai chúng tôi tại tỉnh nhà, các anh đều đã ra Khu.
(5) Trong các bài Giá như Dương Tường còn sống đến hôm nay in ở tập Chiến trường, sống và viết của Nhà xuất bản tác phẩm mới, 1982, tôi có ghi ngày anh hy sinh là 24-6-53; đến bài Không trong cũng nước Nguồn Hàn đăng trên tạp chí Cửa Việt số 28 tháng 1-97 lại ghi là 17-6-53, đều là ghi theo trí nhơ bất định của người bạn đời của anh đã tái giá. Lần này tôi ghi theo lời của người chị ruột ảu anh, mà tôi cho là khả năng đúng nhất.
(6) Ghi theo tuổi dương lịch. Anh sinh năm 1926.
(7) Xem Cửa Việt số 32 tháng 5-97 và số 43 tháng 4-98. Nhân tiện, xin cải chính chữ chép sai trong bài Vá lưới: "Sợi tơ vàng lòn mặt lưới thâm đen" nay đổi lại là "Sợi tơ vàng lòn mặt lưới thâu đêm".




