|
Đ |
ơn vị đầu tiên tôi phục vụ trong quân đội nhân dân Việt
Hết chiến tranh đơn vị chẳng còn tên. Phiên hiệu trong tim theo từng người lính tiểu đoàn đi về từng làng quê, ngõ phố. Họ hòa vào dòng đời, dòng người lam lũ mưu sinh. Tôi từng được giao làm công việc cuối cùng: chép lại danh sách những đồng đội đã ngã xuống trên đội hình chín năm tiểu đoàn đánh giặc. Hơn năm trăm người, vừa bằng quân số một tiểu đoàn tăng cường... Mỗi người ra đi có một thân phận và chiến công riêng gắn với từng trận đánh. Tôi không sao nhớ hết được, chỉ xin nhắc đến hai đồng đội, đồng hương họ Hồ mà trong ký ức tôi dẫu năm tháng trôi qua bóng hình các anh vẫn hiện lên rõ nét.
Người thứ nhất là chiến sĩ Hồ Ngọc Minh:
...Không hiểu trời đất xui khiến thế nào mà trước khi bước vào đợt hai chiến dịch giải phóng Quảng Trị Xuân 1975, Minh nằm gác chân lên người tôi trong căn hầm kèo ở tuyến giáp ranh Hải Sơn, Hải Lăng; đọc đi đọc lại đoạn thơ trích trường ca "bài ca chim chơ rao" của Thu Bồn, một tác phẩm được đưa vào chương trình giảng văn lớp 10 hồi đó, mà bất cứ một học sinh cuối cấp ba nào cũng thuộc:
"...Và cô gái biển đẹp xinh - người vợ trẻ"
Ngày chiến thắng về sẽ không có bóng anh
Em hãy nhìn lên sắc cờ kiêu hãnh
Có anh về ôm ấp rặng dừa xanh..."
Tôi dùng hai tay bốc cặp đùi to như gốc chuối hột của Minh, quẳng mạnh ra sạp, miệng la lối:
- Im đi cái giọng gỡ của mày! Chả có lấy mảnh tình vắt vai mà làm như thể bố trẻ con thực sự không bằng.
Minh im thật. Không đọc thơ nữa nhưng đôi mắt buồn xa xăm:
Quê mình xứ biển, mình nhớ nhất mỗi buổi bình minh mùa hạ, thuyền từ cửa lạch dong buồm từ từ tiến vào mang theo những cơn gió nồm mát rượi, cá từ thuyền cứ tuôn chảy vào thúng, vào rổ, chuyển lên bờ. Bến sông cứ tíu tít vui như ngày hội.
Minh quê ở làng Tùng Luật, xã Vĩnh Giang, huyện Vĩnh Linh. Làng Tùng Luật từ xa xưa đã nổi tiếng với "văn chương nết đất, thông minh tính trời". Đất ấy lắm trai tài, gái sắc, lịch lãm hào hoa. Bấy giờ tiếng đồn "Làng Tùng Luật, làng Nghệ sĩ" cũng đã lan tỏa khắp chốn. Là trai làng Tùng Luật nhưng Minh không có giọng hát thật hay. Những lúc rảnh rỗi, nằm bên nhau trong hầm kèo chờ giặc đến, Minh hay kể cho tôi nghe những tích xưa của làng Tùng Luật...Minh kể vanh vách chuyện về nghệ nhân Ba Mè cùng các con gái tài danh Châu Loan, Châu Phụng bán đò ngang lấy tiền lập gánh hát tư lưu diễn nổi tiếng khắp ba kỳ...Chuyện hồi học sinh K8, từ Vĩnh Linh sơ tán ra Nam Hà, Minh cùng đám bạn bè con nít tìm đường đi bộ lên Hà Nội thăm nghệ sĩ Châu Loan ở đoàn văn công Trung ương, tìm tới tìm lui khắp Hà Nội hoài rồi cũng ra. Nghệ sĩ cảm kích cái tình quê, đãi kẹo lũ nhóc làng Tùng thoải mái rồi mới gửi xe cho về lại Phủ Lý...
Tôi chắc rằng: trong số 181 học sinh cấp 3 Vĩnh Linh nhập ngũ ngày 15/4/1972 vào Quảng Trị chiến đấu, Minh cũng như phần đông bạn bè không có người yêu, hay đúng hơn là chưa có người yêu. Minh hiền lắm, biết thêu thùa, may vá khéo tay như con gái, sàng gạo dẻo như múa. Giã gạo chày ba chày tư không bao giờ "chụp chày" bạn giã. Tư chất đầy nữ tính của Minh tỏ ra đắc dụng khi chiến đấu ở đồng bằng Triệu Hải năm 1972. Mùa mưa tắc đường gạo không chở vào được, chúng tôi được phép của Ủy ban nhân dân Cách mạng thu gom thóc của đồng bào còn sót lại ở từng nhà dân đem xay giã ăn dè sẻn chờ tiếp tế. Không còn bóng dáng phụ nữ ở nơi chiến địa ác liệt, con trai đảm nhiệm hết các công việc sàng, sảy, giã...Minh đảm đang như một người chị cả trong gia đình đông em nên được anh em gọi là Minh "chị".
Minh "chị" là một tay dũng cảm. Tôi nhớ có lần đang đóng quân ở thôn Mỹ Lộc (Triệu Phong) đơn vị nhận được điện khẩn cấp phải di chuyển ngay kẻo địch ném bom xuống đội hình. Cả đơn vị khẩn trương hành quân, nhưng phải cứ ở lại trong tọa độ lửa hai người để trông coi hậu cứ, kho tàng. Minh xung phong đầu tiên và đề nghị với chỉ huy:
- Chỉ cần một mình tôi là đủ, bớt được người nào ra khỏi túi bom B52 càng tốt.
Minh ở lại một mình. Đêm đó, cả đơn vị nín thở chờ dứt ba đợt B52 ném bom hủy diệt vào thôn Mỹ Lộc là nhào về tìm Minh. Như đã hẹn, cuối thôn, ba phát súng AK dõng dạc, cách đều vang lên báo tin Minh còn sống và hậu cứ an toàn.
Tôi hỏi Minh:
- Làm sao mà mày lẫn được dưới màn mưa bom B52 dày đặc thế?
Minh cười thản nhiên:
- Ném nắm cát vào mặt có phải hạt nào cũng vào mắt cả đâu?.
Mùa xuân 1975.
Trước lúc đơn vị bước vào chiến dịch lịch sử, Minh bảo tôi:
- Mày làm liên lạc tiểu đoàn. Tao là lính trinh sát, xác suất "liệt sĩ" của tao cao hơn. Tao mới đi tập huấn bóng đá tại Trung tâm thể dục thể thao trung ương Nhổn ngoài Hà Nội về. Có cái aó dệt kim dài tay màu xanh dương tặng lại mày mặc cho ấm.
Bây giờ không ai quan tâm lắm đến loại áo ấy, nhưng thời kỳ đó, cái áo dài tay dệt kim lại có màu, có cổ là cả một tác phẩm mỹ thuật, là mơ ước của các chàng trai. Minh tặng tôi chiếc áo ấy vào một đêm mưa sau tết. Đơn vị trú quân ở dưới chân một con thác bên sông Mỹ Chánh. Nước đổ ầm ào. Minh lại gác đùi lên người tôi như bao lần trước:
- Mày nghe thấy không? Nghe tiếng thác nước đổ và mưa rả rích thế này, giống y hệt quê tao ngày biển động.
Sau đó mấy hôm, trong trận đánh chi khu quân sự quận lỵ Mai Lĩnh, Minh đã anh dũng hy sinh.
Lê Phước Đạc, một "người hùng" của trận đánh ấy kể lại:
- Ta vừa tiếp cận hàng rào, bị lộ, địch từ các lô cốt bắn ra như vãi đạn. Lệnh cường tập. Tất cả các mũi ở các hướng nhất loạt xông lên. Minh xông lên đầu tiên và đánh trúng lô cốt "mẹ" ở trung tâm chi khu. Tên thiếu tá Chi khu trưởng Chi khu Mai Lĩnh, Lê Bá Mùi bị diệt, địch kháng cự yếu dần...Trận đánh chi khu Mai Lĩnh ngày 9/3/1975 là trận đánh lớn cuối cùng của đơn vị. Mười ngày sau Quảng Trị hoàn toàn giải phóng, Minh được truy tặng huân chương chiến công hạng nhất trong trận đánh cuối cùng ấy và là tấm huân chương chiến công thứ ba của Minh, sau ba năm chiến đấu tại chiến trường.
Ngày 26.3.1975, từ tay tôi đẽo một tấm ván gỗ, lấy sơn đỏ còn sót lại trong tiểu khu Quảng Trị đóng ở bãi cát Diên Sanh viết nắn nót từng chữ "Trung sĩ Hồ Ngọc Minh, Tùng Luật, Vĩnh Giang, Vĩnh Linh, Quảng Trị. Đơn vị K10 đặc công Quảng Trị hy sinh ngày 9.3.1975. Đại tá Bùi Hùng Dũng bây giờ là Phó chỉ huy trưởng tham mưu trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị , lúc ấy là đại đội phó - đại đội 36-K10 đặc công, chở tôi trên chiếc xe hon đa 67, vác bia cắm lên nấm mộ của Minh sát cạnh chi khu Mai Lĩnh.
Ba mươi năm sau, nhân kỷ niệm ngày chúng tôi nhập ngũ, thầy Trần Công Lanh, phó hiệu trưởng trường phổ thông trung học Vĩnh Linh (là trường cấp 3 Vĩnh Linh trước đây) cho tôi xem lại những bức thư bằng máu mà đồng đội tôi viết ba mươi năm trước khi tạm biệt bạn bè thầy cô từ Tân Kỳ, Nghệ An, tình nguyện về Nam chiến đấu, hiện lưu giữ tại phòng truyền thống của nhà trường. Bức quyết tâm thư đầu tiên mà tôi được đọc là của Hồ Ngọc Minh...nét chữ tròn trịa, mềm mại như chữ con gái, được mở đầu rất nhỏ nhẹ: "Em tên là Hồ Ngọc Minh, lớp 10L..."
Mắt tôi nhòe đi... thì ra bố mẹ Minh đều bị bom Mỹ giết hại, Minh chỉ còn lại một chị gái đã lấy chồng và em trai Hồ Ngọc Tân còn nhỏ. Cuối bức quyết tâm thư, Minh đề đạt nguyện vọng xin được đi chiến đấu trả thù nhà đền nợ nước.
Ban tuyển quân, sau khi xét đơn thấy hoàn cảnh gia đình Minh cả bố và mẹ đều đã bị bom Mỹ giết hại nên phê vào lá thư quyết tâm "để xem xét lại" nhưng Minh đã kiên quyết tình nguyện lên đường.
Lớp học trò sơ tán tại Tân Kỳ nay thành đạt, có tổ chức một cuộc hạnh ngộ kỷ niệm 30 năm ngày ra trường. Mấy đứa bạn lính chúng tôi ngồi riêng một góc và trầm ngâm nghĩ về những năm tháng hào hùng đã lùi xa. Chợt có ai đó buông một điều giả sử:
- Thằng Minh mà còn sống, chắc giờ đã lên hàm đại tá rồi đấy nhỉ?
Tôi không nghĩ thế - Hồ Ngọc Minh vẫn là trung sĩ, tiểu đội trưởng, mãi mãi ở tuổi hai mươi, sôi nổi trẻ trung, vẫn là Minh "chị" đáng yêu trong trái tim tôi và bạn bè một thuở.
* * *
Người thứ hai là tiểu đoàn trưởng Hồ Minh Thanh. Tôi cứ gọi chức vụ của anh như ngày tôi mới về đơn vị, dù bây giờ khi đã đi vào cõi vĩnh hằng anh mang quân hàm đại tá, cáo phó trên báo Nhân dân.
Tôi gặp anh vào giữa tháng 12 năm 1972, thời điểm mà Mỹ tiến hành chiến dịch "Lai-nơ bếch-cơ II" ồ ạt ném bom Hà Nội, hòng ép ta phải ký Hiệp định Pari với những điều khoản có lợi cho Mỹ và tay sai. Trên chiến trường Quảng Trị sau khi chiếm lại thị xã, Mỹ - ngụy dốc sức mở các cuộc hành quân mang tên "Sóng thần" với ý đồ tiến chiếm cảng Cửa Việt, hình thành hướng phối hợp với mũi tấn công chủ yếu từ thị xã Quảng Trị đánh ra Đông Hà thực hiện ý đồ chiến dịch tiếp theo là: "Đuổi Cộng sản Bắc Việt ra phía bắc sông Bến Hải, khôi phục lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa như trước ngày 30 tháng 3 năm 1972".
Đây là thời kỳ rất khó khăn của toàn mặt trận Quảng Trị nói chung và của cánh Đông nói riêng. Tiểu đoàn tôi là tiểu đoàn đặc công chuyên đánh căn cứ, nhưng lúc ấy được giao nhiệm vụ: Ban ngày triển khai nhiệm vụ phòng ngự trận địa như một tiểu đoàn bộ binh. Ban đêm rời trận địa phòng ngự luồn sâu vào sau lưng địch, thực hiện các trận tập kích vào các trận địa pháo, sở chỉ huy, cơ sở hậu cần của địch. Không có thời gian trinh sát, phải vừa trinh sát vừa chiến đấu ngay. Tiếng là một tiểu đoàn, nhưng sau sáu tháng liên tục chiến đấu không được bổ sung quân số vũ khí trang bị nên lực lượng cả tiểu đoàn gom lại chỉ khoảng một đại đội thiếu. Anh Hồ Minh Thanh về nhận nhiệm vụ trong hoàn cảnh đó, sau này anh tâm sự:
Lúc ấy mình rất lo. Nhiệm vụ mới, chiến trường mới, lính mới. Kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu thì mình đã từng trải, nhưng nhìn về biên chế tiểu đoàn lúc đó sao mà lưng lẻo quá. Các cậu toàn là loại "lính sữa" mới rời ghế trường cấp III Vĩnh Linh, sơ tán ở Tân Kỳ - Nghệ An hành quân bộ vào, tuổi chỉ vừa 18. Có đứa vai đeo súng, cổ lại quàng thêm lủng lẳng cái ná cao su. Mình nghĩ: Không biết khi lâm trận xáp mặp với sắc lính "thủy quân lục chiến" ngụy đánh thuê có nghề, lại được hỏa lực của Mỹ hỗ trợ tối đa, các cậu có ăn chịu được không? Nào ngờ chính các cậu đã giúp mình cùng trụ vững qua giai đoạn quyết liệt nhất cho đến ngày toàn thắng.
Anh lần lượt nhắc tên những: Lê Vĩnh Phước, Nguyễn Quang Lưỡng, Lê Phước Đạc, Trần Văn Thiên, Hồ Ngọc Minh...và nhiều người nữa mà tên tuổi của họ gắn với những chiến công qua các trận Mai Lĩnh, Tam Hữu, điểm cao 11, Trà Lộc, Trà Trì, đồi lựu đạn, cao điểm 122...đã gắn thêm nhiều tấm huân chương chiến công lên lá quân kỳ quyết thắng của tiểu đoàn vốn đã trĩu nặng huân chương do các thế hệ đàn anh đi trước dày công tạo dựng.
Anh có mối quan tâm đặc biệt đến tôi hơn các chiến sĩ thuộc quyền khác một chút bởi khi anh làm tiểu đoàn trưởng, tôi là liên lạc viên của tiểu đoàn. Được ăn ngủ với anh một hầm, biết được nhiều ý định chỉ huy chiến đấu của tiểu đoàn trong từng trận đánh, nên tôi hiểu phần nào bản lĩnh chỉ huy quân sự của anh. Anh ít nói, trầm tĩnh nhưng hào hoa. Giữa trận mạc rối bời nhưng bao giờ anh cũng giữ nét chải chuốt, lãng tử. Ra trận chỉ huy kiên quyết, tác phong tỉ mỉ. Bình thường với chiến sĩ anh luôn thân ái, dễ gần.
Các trận đánh do tiểu đoàn thực hiện, anh ra chỉ thị: chỉ huy phải xuống một cấp. Ví như trung đội độc lập chiến đấu thì cán bộ đại đội phải trực tiếp chỉ huy, đại đội chiến đấu thì tiểu đoàn xuống chỉ huy, để đảm bảo chắc chắn thắng lợi. Anh nói: "Khi chuẩn bị chiến trường cũng như lúc nổ súng chiến đấu chiến sĩ, thấy cán bộ luôn ở ngay bên cạnh họ yên tâm và hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn. Rất nhiều trường hợp lòng dũng cảm của từng chiến sĩ có tác dụng quyết định đến tình huống chiến thuật, thậm chí là chiến dịch. Trong các cuộc họp của Ban chỉ huy tiểu đoàn anh nhắc nhở cán bộ các cấp phải sâu sát nói đi đôi với làm, vì anh nói và làm đều chắc nịch. Thường thì các trận chiến đấu trinh sát tiểu đoàn đi trước chuẩn bị chiến trường rất kỹ, nhưng bao giờ cũng vậy trước lúc lên phương án tác chiến hạ quyết tâm phổ biến nhiệm vụ thế nào anh cũng bảo trinh sát dẫn đường đến mục tiêu, kiểm tra lần cuối cùng mới trở về lên sa bàn hạ mệnh lệnh chiến đấu. Sự cẩn trọng, tác phong chỉ huy quyết đoán và lòng dũng cảm của anh được cấp trên tin tưởng, cán bộ chiến sĩ thuộc quyền nễ phục. Tôi vẫn thường được nghe cán bộ trung đội, đại đội trong tiểu đoàn kháo nhau: trong chiến dấu tiểu đoàn trưởng vào nằm ngay trước cửa mở thì không có lý gì lính xung kích tụi mình lại nằm xa lỗ châu mai.
Anh là người hướng tôi theo con đường binh nghiệp. Khi tiễn tôi đi đào tạo sĩ quan, cầm tay tôi anh dặn:
- Em cố gắng rèn luyện hơn nữa, vì em làm liên lạc trên tiểu đoàn bộ, không từng trãi bằng các anh đã qua chiến đấu ở dưới đơn vị. Để trở thành cán bộ ưu tú trong lực lượng vũ trang cách mạng phải trải qua rèn luyện thử thách khắc nghiệt. Điều cấm kỵ đối với người chỉ huy là dùng xương máu của chiến sĩ để bù đắp vào khả năng chỉ huy yếu kém của mình.
Tôi khắc ghi lời dạy chí tình của anh trong suốt cuộc đời quân ngũ. Có lẽ đó là bài học chính trị sâu sắc nhất mà tôi được nghe một người chỉ huy không phải là giáo viên chính trị giảng trong suốt 15 năm cầm súng. Sau này trưởng thành đảm nhậnn cương vị tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn trinh sát của một quân đoàn chủ lực, bên cạnh kiến thức quân sự đã học ở trường, tôi đã chỉ huy rèn luyện đơn vị theo tác phong của anh và đã được cấp trên đánh giá tốt.
Ngày 30 tháng 4 năm 2002, tôi gặp anh tại nhà khách UBND tỉnh. Anh là khách mời dự lễ kỷ niệm 30 năm giải phóng Quảng Trị và đón nhận danh hiệu lực lượng vũ trang nhân dân của tỉnh nhà, còn tôi được phân công đi phục vụ các cụ Lão thành cách mạng, các Anh hùng lực lượng vũ trang của huyện Vĩnh Linh được mời đi dự lễ ở tỉnh. Anh vẫy tôi ra hành lang hội trường và nói nhỏ: "Anh đã bàn với anh Phi (anh hùng quân đội Nguyễn Chí Phi - nguyên là chính trị viên tiểu đoàn 10 đặc công Tỉnh đội Quảng Trị) và các anh trong ban liên lạc chiến sĩ tiểu đoàn 10 đặc công Quảng Trị, cố gắng viết cuốn lịch sử tiểu đoàn ta. Trước hết là để ghi nhớ công lao của hàng trăm chiến sĩ tiểu đoàn đã anh dũng hy sinh cho Quảng Trị và hàng nghìn cán bộ chiến sĩ trên khắp các tỉnh, thành trong cả nước đã một thời gắn bó máu xương với quê hương mình. Sau này là để giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ".
Đó là lần gặp anh cuối cùng. Anh đã ra đi ở tuổi năm tám, tuổi chưa cao nhưng có lẽ chỉ những người thân yêu nhất trong gia đình anh và đồng đội mới biết được điều này: Trong cơ thể anh vết thương trận mạc cũng nhiều như những tấm huân chương anh đeo trên ngực trong những dịp lễ trọng.
Anh là Hồ Minh Thanh, người con của quê hương Do An trung dũng kiên cường. Anh nguyên là Huyện đội trưởng Do Linh, là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 10 đặc công Tỉnh đội Quảng Trị, Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự thị xã Đông Hà... Con chim ưng dũng mãnh một thời trên chiến trường Quảng Trị đã từ biệt cõi đời vào một ngày đầu đông năm Nhâm Ngọ.
Anh đã đi xa nhưng trong lòng bạn bè, đồng đội anh mãi mãi còn với nụ cười hồn hậu trẻ trung như trong bức ảnh mà phóng viên chiến trường kỳ cựu Đoàn Công Tính ghi lại trên mặt trận Do Cam 35 năm trước. Anh mãi mãi là hình bóng mộc mạc khoan hòa, say sưa kể cho các cháu học sinh nghe những mẩu chuyện chiến đấu oanh liệt của mình và đồng đội trên suốt ngang dọc chiến trường Quảng Trị mà đài truyền hình Quảng Trị đã ghi lại trong một dịp đầu xuân ngày nào.
Riêng tôi, anh mãi mãi là vị tiểu đoàn trưởng mẫu mực, người anh cả bao dung luôn lo lắng cho tôi cả những thiếu sót bất ngờ có thể có trên đường đời ngay cả đến khi tóc trên đầu tôi đã điểm nhiều sợi bạc.
T.P.T



