|
C |
ác cụ già bảo con cháu: Phong, thủy, thổ làng ta khá tốt. Đúng vậy. Mặt tiền về phía Tây có con suối uốn lượn. Tương truyền rằng khi đào kênh nhà Lê, vua Lê đi qua có dừng chân ở đoạn kênh này, nên đoạn sông được gọi là Bến Ngự. Ngày trước, đứng ở sân đình nhìn những cánh buồm no gió thấp thoáng sau hàng cây xanh của “Sác Nậy” đưa thuyền vô Nam ra Bắc. Buổi chiều, buổi tối nghe văng vẳng câu hò mái nhì man mác của dân vạn đò. “Hết mùa toóc ra rơm khô Bạn về quê bạn biết nơi mô mà tìm”. Sau những đợt Nhà nước tổ chức nạo vét sông khỏi cạn lại nhộn nhịp câu hò “Mản sở rồi, cai đội hồi hương; Trai lui về làm ruộng, gán bán buôn nuôi chồng”. Sác Nậy là một dải rừng cây do dân trồng để chắn gió, chắn sóng dọc bờ sông đặng bảo vệ 300 mẫu ruộng nội đồng. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp nơi đây đã có hàng đại đội ém quân chuẩn bị tiêu diệt địch ở xóm Phường và che dấu cho hàng trăm người dân mỗi khi quân giặc càn quét ruồng bố. Mặt hậu về phía Đông là Động Chùa cao 31 mét so với mặt biển, cây trâm bầu cắm sâu vào lòng cát cùng cây phi lao, cây tràm…bao phủ trở thành một rừng cây xanh chắn cát, chắn gió mà trong kháng chiến chống Pháp cả Trung đoàn 95 trú quân và giữ bí mật - Hàng năm đến cuối mùa đông, đầu mùa xuân làng tôi tu sửa mồ mả tổ tiên, trẻ con chúng tôi trèo lên Động Chùa nghịch cát và hái quả trâm bầu chấm muối ăn, răng và lưỡi đều nhuộm màu tím. Hương ước làng tôi trong những năm nửa đầu thế kỷ ghi rất nghiêm ngặt về việc bảo vệ cây xanh, hàng năm có những ngày cho phép dân làng vào rú quét lá khô, nhưng cấm không ai bẻ một nhánh cây xanh, ai vi phạm thì làng phạt rất nặng.
Ở trước đình làng có đôi câu đối:
“Giang sơn miếu vũ thiên niên tại
Dân quốc thần linh vạn cổ tồn”
Và trước từ đường các họ tộc có câu:
“Công đức tổ tiên nghìn năm nên quy cũ
Sự nghiệp khai tiền muôn thuở lập kỷ cương”
“Động Chùa án hậu mênh mông, cát trắng cây xanh bao phủ sông Ngự hướng tiền ngoảnh lại, nước trong sóng vỗ tay chào”. Tương truyền tổ tiên chúng tôi ở làng Bầu (?) bên bờ sông Nhị Hà theo đoàn quân
Làng tôi tuy ít người đỗ đạt cao, nhưng dân làng rất hiếu học. Trong làng có nhiều ông giáo dạy chữ thánh hiền hết đời này đến đời khác. Đến những năm 20, 30 thì nhiều người dạy học và dạy chữ Quốc ngữ. Có nhiều người đi dạy chữ cho bà con các làng vùng biển và trên thương tổng. Trong làng có đền Văn Thánh, hàng năm tế lễ ở đây là một ngày hội thiêng liêng. Ngày tết, nhiều người đi thăm thầy giáo mang theo biếu thầy quả nếp ngon, vài chục quả trứng hoặc chai rượu…là một dịp để học trò và cha mẹ thể hiện tấm lòng “muốn con hay chữ thì yêu mến thầy”. Những người đi học được miễn tạp dịch, đỗ đạt cao được dân làng đón rước.
Về sản xuất, bảo vệ sản xuất thì Hương ước làng tôi quy định rất nghiêm ngặt. Trước đình làng có một sào ruộng, ở giữa có đào một cái hồ quanh năm đầy nước để nuôi cá và lấy tưới cho sào ruộng làng. Trước mùa cấy, làng mở hội xuống đồng. Vị đứng đầu làng mặc áo rộng xanh, sau khi làm lễ tế trong đình, xắn quần áo ra ruộng cấy. Từ ngày đó cả làng xuống cấy nhộn nhịp. Khi đã cấy lúa ra đồng thì cấm trâu bò không được dậm lúa, ăn khoai. Trẻ con chúng tôi đã cụ thể hóa những điều trong Hương ước thành một bài vè:
Cấm bò ăn kẹ
Cấm nghé ăn dây
Cấm cây mọc bài
Cấm khoai chớ nhổ
Cấm độ (đậu) chớ lắt (hái)…
Có những vị chức sắc khi trâu bò nhà mình ăn lúa ngoài đồng thì tự mình gương mẫu nộp phạt trước. Điều đó được coi là một hành động tốt cả làng phải theo và giữ nghiêm.
Ruộng đất làng tôi phần lớn là công điền, công thổ đem chia đều về số lượng cho nam từ 18 tuổi trở lên. Điều lạc hậu là nữ không có phần ruộng và chức sắc được nhận ruộng trước, nên ruộng hạng ba của chức sắc tốt hơn ruộng hạng nhất của dân. Vì vậy trong những năm 30, 40 có phong trào đấu tranh của nông dân đòi được nhận ruộng hạng ba, hạng nhì của chức sắc làm ruộng hạng nhất của mình, gọi là ruộng nhất nguyện.
Ngày tết làng tôi mở hội chơi đu và nhất là hội bài chòi – Người hô bài chòi thực sự là một nghệ sỹ, cứ mỗi con bài ông có một câu ca. Người thắng cuộc được trẻ em rước cờ hiệu đến chòi chúc mừng. Những buổi chơi như vậy người ngồi chòi là các cụ lớn tuổi, lịch sự.
Trong làng có một gánh hát bội nghiệp dư. Sau khi mùa màng đâ thu hoạch xong, những năm được mùa làng tổ chức hát bội. Ông phó tổng ở trong làng là một “kép” giỏi, còn “đào” thì cũng chính các cô gái ở làng. Thường thường diễn tuồng sơn hậu, đêm diễn “Đông Kim Lân qua ải” thì người xem không còn chỗ đứng.
Các cụ làng tôi luôn luôn giáo dục con cháu giữ gìn sự đoàn kết, coi “tình làng nghĩa xóm” “Tối lửa tắt đèn có nhau” làm trọng và đặt tình yêu đất nước lên trên hết. Cách mạng tháng 8 thành công, tình đoàn kết càng gắn chặt hơn. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thanh niên làng tôi sẵn sàng lên đường tòng quân và vào du kích giết giặc. Người người thi đua yêu nước, lo sản xuất, lo góp gạo nuôi quân, tiếp tế, vận tải, tải thương, nuôi dấu cán bộ, chăm sóc thương binh, chôn cất tử sĩ…Có biết bao gương hy sinh lẫm liệt vì độc lập tự do của Tổ quốc mà sổ sách ghi rõ để lại cho muôn đời con cháu. Tất cả đã góp với xã để Do Mỹ được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Trong kháng chiến làng tôi cũng có diệt ác, trừ gian nhưng cán bộ ở đây đã rất thận trọng, cho nên đã trị đúng người đúng tội, không để lại hậu họa. Gần đây, khi bàn về xây dựng làng văn hóa, cán bộ thôn, xã cùng năm ông trưởng họ có ngồi lại với nhau, điểm lại việc cũ đều khẳng định việc trừ gian trong kháng chiến đã làm đúng, không ảnh hưởng đến đoàn kết dân làng. Các vị cho rằng đây là cái phước của làng nhờ phong, thủy, thổ của làng tốt mới như vậy, ai cũng vui và rõ ràng là “Đá trôi chứ làng không trôi”. Ngày nay làng được xây dựng thành làng văn hóa, bà con rất phấn khởi thấy phải phát huy truyền thống tốt đẹp xưa của làng và phải bổ sung thêm nhiều điều mới trong quá trình tiến lên. Điều đáng mừng là mỗi khi về làng, có dịp hỏi han bà con thì mọi người đều nhớ là phải xây dựng, giữ gìn tình đoàn kết trong xóm, trong làng, xây dựng mỗi gia đình thành gia đình văn hóa với những chỉ tiêu mà tỉnh, huyện đã đề ra và hương ước đã quy định.
N.T.K




